C ách đây gần 7 năm, tháng 5/2013 tôi có dịp dự lễ đón nhận kỷ lục Guinness về công trình tâm linh Tượng Phật dài nhất Đông Nam Á nằm trên đỉnh núi. Thì lần trở lại này cũng là khoảng thời gian Tổ đình Linh Sơn Trường Thọ đang trùng tu với quy mô khá lớn. Theo bố cáo của chùa đã đạt tiến độ khoảng 80% nhưng các hạng mục nội vực chánh điện, đạo tràng, phòng tăng, lầu chuông… vẫn còn ngổn ngang vật liệu xây dựng. Nhưng phần kiến trúc sườn mái với một lớp sơn mới và đá ốp quanh tường, hiên chùa đã cơ bản hoàn thành. Tuy nhiên tôi khó thấy được nét cổ kính của từ trăm năm mà chỉ qua những trang ghi chép vội về ngôi chùa này .
- Thuở đầu khai sơn
Theo Lược sử Phật giáo Bình Thuận, ngoài chùa Linh Sơn Trường Thọ (thường gọi là Chùa Tà Cú), còn kể đến các ngôi chùa trên địa bàn núi Tà Cú cùng tông phái với Tổ khai sơn ít nhất cũng có hơn 10 ngôi chùa. Lần theo bước đường tăng lữ của nhà sư Hữu Đức rời quê nhà làng Bạc Má, quận Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên sau thời gian theo học thi lễ và quyết định xuất tục tìm thầy học đạo lúc tuổi 23. Vượt sóng ngàn trùng, ngài cập bến Phan Thiết rồi đến chùa Phước Hưng, làng Phước Môn xin thọ giáo với sư trụ trì Trí Chất. Không ít thử thách nhưng với phát nguyện xuất gia, chuyên tâm tu học ngài Hữu Đức đều vượt qua để trở thành môn đồ của Đại sư Trí Chất và được đặt pháp danh là Thông Ân. Tiếp đến nhà sư Hữu Đức rời chùa Phước Hưng lặng lẽ đến làng Kim Thạnh (Bàu Trâm) dựng ngôi thảo am thiền tịnh. Trong mấy năm tu tập, giúp đời bằng bốc thuốc chữa bệnh cho dân trong vùng được dân mến phục và dựng lên ngôi chùa Kim Quang. Sau 30 năm hành đạo ở đây, duyên lành đến với ngài khi gặp Hòa thượng Bửu Tạng, cùng quê Phú Yên trên đường đi hóa đạo ngang xứ Bàu Trâm đã truyền trao đại giới và phú pháp cho Tổ hiệu Hữu Đức. Trong tư liệu sẽ thiếu sót nếu không nói về quá trình hành đạo của Tổ Hữu Đức đã từng thiền tịnh ở một hang đá bãi biển Kê Gà, được dân chúng thỉnh về dựng chùa thờ Phật dưới chân động cát, cạnh làng Văn Kê. Hiện chỉ còn lưu dấu Động Chùa và gần đó là chùa Kỳ Viên (xã Tân Thành) ngày nay. Được ít lâu, nhà sư Hữu Đức lại đi tìm nơi ẩn dật để trọn đường tu tập. Ngài nhắm hướng núi Tà Cú thâm u, xa khuất xóm làng mà đi. Cắt rừng, vượt suối đến chân núi, ngài lần theo vách núi và tạm dừng chân ở Đá Bàn Hạ, nhưng rồi vẫn chưa thấy bằng lòng an trụ rồi lên cao hơn là Đá Bàn Thượng. Tại đây cũng chỉ tu tịnh được vài tháng, ngài khăn gói lần bước theo hướng đỉnh núi cao và chọn một hang đá dưới tàng cây cổ thụ, khe suối thanh u, xa kia lồng lộng biển xanh có hòn đảo nhỏ Hòn Bà. Ngài tự nhủ, đúng là Như Lai tịnh thất mà ta cần đến! Nơi an vị của nhà sư Hữu Đức đầu tiên trên ngọn núi hoang vu này là một hang đá thần bí làm nơi thiền định, sau được đặt tên là Hang Tổ. Qua nhiều tư liệu, ngôi chùa Tà Cú (chùa Tổ) bước đầu hình thành vào khoảng 1878-1880. Đến năm Tự Đức thứ 33 (1880) được đặt đạo hiệu “Linh Sơn Trường Thọ Tự”, sau sự kiện Đức bà Từ Cung mẹ vua Tự Đức lâm trọng bệnh, nhưng các ngự y triều đình bất lực thì được quan thủ hiến Bình Thuận trình báo lên vua về tài bốc thuốc và pháp thuật của Tổ Hữu Đức được truyền kể trong dân gian. Dù được Vua hạ chiếu thỉnh cầu, nhưng Tổ đã nguyện từ nay không xuống núi để toàn tâm hành đạo mà chỉ trao cho sứ thần các chú Chuẩn Đề và bài linh dược mang về triều. Hiệu quả tức thời, Hoàng thái hậu qua cơn nguy kịch, hồi phục nhanh như có phép thần. Đại sư Hữu Đức từ buổi khai sơn và mở pháp thiền tịnh ở đây 16 năm thì viên tịch (1887), thọ 76 tuổi.
- Những bậc chân tu kế tục
Theo di chúc của Tổ khai sơn, nhà sư Tâm Tố hiệu Viên Minh kế tự, thay Bổn sư trông nôm đồ chúng nhưng lại cùng đệ tử tôn thân lần lượt ra đi và sư Tâm Hiền đứng ra lập mới chùa Long Đoàn, ngay phía dưới chân Tháp Tổ. Tiếp đến các đệ tử tiến cử ngài Nguyên Tiền (Minh Tước) thay thế trụ trì cùng với ngài Nguyên Chấn (Thiện Hòa) và Tịnh Hạnh để chung lo Phật sự.
Một thời gian sau chùa Long Đoàn chỉ còn một mình ngài Minh Tước. Đến khi ngài Minh Tước từ trần, nhà sư Đỗ Quảng Thành (Thiện Thắng), quê đảo Phú Quý kế vị trụ trì. Đây là giai đoạn đáng kể, huy động sự phát tâm của đại chúng, phật tử trong vùng xây dựng lại ngôi Tổ đình với một số hạng mục Chánh điện, nhà Đông-Tây bằng đá chẻ kiên cố, sắm thêm pháp khí tăng phần tôn nghiêm. Cùng lúc Ngài cho mở con đường từ chùa xuống núi, hướng đường thuộc địa (Cây số 28- Quốc lộ 1A) dài khoảng 2 cây số, cũng là quảng đường Tổ Hữu Đức đã đặt chân ngày trước. Hòa thượng Thiện Thắng hành đạo tại chùa Tà Cú hơn 60 năm đem hết tâm nguyện hầu báo đáp công ơn Tổ nghiệp. Năm 1940, sư trụ trì viên tịch và di chúc người kế vị cho nhà sư Đào Bạch Cẩn, pháp danh Tục Châu, hiệu Vĩnh Thọ tiếp tục sự nghiệp Phật pháp và xây dựng Tổ đình. Công sức ấn tượng nhất cho việc tôn tạo ngôi Tam bảo sau một thời gian dang dỡ bởi chiến tranh thời chống Pháp và nhà sư Thích Vĩnh Thọ phải quay về chùa Vĩnh Long (Phú Yên) ẩn tu. Đến khi chấm dứt chiến tranh 1954, ngài trở lại với cảnh chùa cũ tiêu điều, hoang lạnh nhưng vẫn tâm nguyện tiếp tục trùng hưng ngôi bổn tự. Trong đó có hai công trình lớn mang tính mỹ thuật cao là Tam Thế Phật cao 7 mét và tượng Thích Ca nhập niết bàn dài 49 mét. Quanh chuyện ngôi tượng Đức Thích ca nhập niết bàn với tư thế nằm nghiêng dài 49 mét khởi công năm 1962 do nhà điêu khắc Trương Đình Ý (nhiều bài ghi Kỹ sư) thiết kế và trực tiếp với công trình nhưng bị gián đoạn do biến cố đảo chánh chính quyền Ngô Đình Diệm. Có nhiều đồn đoán dưới thời VNCH, nào trong lòng tượng là hầm bí mật giam giữ người chống đối chế độ hay cường điệu hơn, cho rằng vật liệu sắt thép, xi măng xây tượng phải dùng máy bay trực thăng cẩu lên núi. Thực ra, tất cả đều từ công quả của phật tử của người dân trong tình với lòng tin Đức Phật đã bằng sức mình khuân vác, lần theo con đường đá khúc khuỷu, trơn trợt, luồn dưới tre gai qua nhiều tháng năm để làm nên một di tích mang giá trị văn hóa lịch sử của Linh Sơn Trường Thọ Tự ngày nay.
Kể từ sau Tổ khai sơn Hữu Đức (dòng Lâm Tế Chánh tôn thứ 40) và kế vị là các nhà sư Tố Tâm, Tâm Hiền thì bắt đầu có sự tứ tán theo quy luật truyền trao, hoằng hóa. Đến đời thứ 44 là Hòa thượng Thích Vĩnh Thọ trụ trì. Sau năm 1982, đại sư Thích Vĩnh Thọ mất, đã di chúc cho Thích nữ Ba La (Nguyễn Thị Ngọc Hương) trụ trì và phụng thờ, trùng tu. Song song với quy mô phát triển cùa Tổ đình Hữu Đức (Linh Sơn Trường Thọ tự, còn gọi là Chùa Tổ, Chùa trên), chùa Long Đoàn cũng mang tên Tổ đình Linh sơn Long Đoàn (Chùa dưới) do nhà sư Tâm Hiền và Hòa thượng Ấn Tâm tạo lập và kế truyền là Hòa thượng Thích Minh Thiện (viên tịch 2019).
- Chùa Tà Cú và các đạo hiệu Linh Sơn
Có thể kể đến một số chùa trong khu vực có cùng tông phái với Linh sơn Trường thọ tự và Linh sơn Long Đoàn. Đó là chùa Linh Sơn Diên Thọ (còn gọi chùa Hố Dầu), nằm triền núi phía tây của Tổ đình Tà Cú, lập nên năm Kỷ Hợi 1899 do Hòa thượng Thanh Minh, cao đệ của Tổ sư Hữu Đức. Không cách xa lắm với đường bộ lên chùa Tà Cú, chùa Linh sơn Long Thọ có một khung cảnh còn hoang sơ, tĩnh mịch nép mình trong hóc núi, khe suối róc rách quanh năm dưới bóng rừng dầu đại ngàn. Chùa này tách ra từ Linh Sơn Diên Thọ tự, do những sư cô Thích Nữ làm chốn thanh tịnh tu hành. Hình thành cùng khoảng thời gian sau cuối thế kỷ 19 (1899), chùa Linh Sơn An Thọ, ban đầu do nữ phật tử Vạn Thị Buôn (Tâm Tài) dựng lên thảo am và về sau Hòa thượng Pháp Độ được cung thỉnh về trụ trì. Đây là một trong ba ngôi chùa nằm trong cụm phía tây sườn núi Tà Cú, có tên Hố Dầu. Cũng nhờ công hạnh của Tổ sư Hữu Đức có nhiều đệ tử sau này trở thành những bậc tôn túc uyên thâm đã thực hiện sự trao truyền, tạo dựng nhiều ngôi chùa như chùa Kỳ Viên (xã Tân Thành) ghi dấu chân Tổ từ năm 1842, chùa Phước Trí được dân làng Phong Điền tạo dựng năm 1886 và cùng trên đất xã Tân Thuận có chùa Bửu Hùng (1963), chùa Linh Bửu (1974), chùa Pháp Bửu Đường tại phường Tân Thiện, La Gi (1960)…Trong Tổ đường thờ linh vị chư tôn đức tiền bối ở các chùa này đều có một vị trí trang trọng dành cho Tổ sư Hữu Đức. Bởi ngài là một tấm gương đạo hạnh trên con đường tu chứng cho hậu lai.
Chùa núi Tà Cú (Linh Sơn Trường Thọ tự) đã có cách đây gần 150 năm. Trong điều kiện địa hình núi cao vô cùng khắc nghiệt, hiểm trở nhưng đến nay đã trở thành một điểm đến du lịch tâm linh nổi tiếng trong nước. Điều mà từ lâu nay ít ai nhắc đến sức mạnh của hoằng hóa đạo pháp từ Tổ khai sơn Hữu Đức và các tôn sư đã mang linh khí, linh diệu của ngọn núi thiêng này lan tỏa, góp phần không nhỏ vào giá trị nhân văn trong đời sống xã hội qua các thời kỳ. -./.
