C
ách đây mấy năm đã một lần
rộ lên chuyện Tấm Cám vì SGK sinh ra hai cô Tấm khác nhau
làm thầy cô, học trò lúng túng...Bộ GD khó thở...giờ
cơn bão Tấm Cám "lại nòm" !
Chuyện cổ tích Lọ Lem được
rất nhiều chủng tộc trên thế giới kể dưới nhiều
chi tiết khác nhau nhưng vẫn giữ được nguyên mẫu cấu
trúc của câu chuyện: bà mẹ
ghẻ độc ác với con chồng và
cô con gái (con ghẻ) đó sau bao truân chuyên cũng sẽ
được lên ngôi hoàng hậu…một
đời vinh hoa phú quí.
Giáo sư ngôn ngữ học Nguyễn Khắc Ngữ viết:
“Rất nhiều nước thế thế
giới đã có những cổ tích tương tự
như truyện “Tấm Cám” của ta. Với những phương tiện
ít ỏi tôi chỉ có thể nêu ra các nước: Trung hoa, Ai lao,
Chàm, Cao-miên, Ấn độ, Ba-tư, Anh, Pháp và
Đức đã có truyện này ghi trên giấy trắng mực
đen rồi.” [“Văn
Hóa nguyệt san số 44 tháng 9 năm 1959 – tr.1100-1104]. Còn Giáo sư Lê Xuân Khoa trong
“Nhập Môn Triết Học Ấn Độ”- [Trung
Tâm Học Liêu xb. Năm 1965] cũng cho biết các nhà nghiên cứu liệt kê trên 260 truyện
“Lọ Lem”.
“ Thật sự là khó có thể
thống kê hết đã từng có bao nhiêu phiên bản Tro Bếp
[Lọ Lem] trên toàn thế giới, ta chỉ
có thể biết rằng mức độ phổ
biến của câu chuyện này cực kỳ
rộng lớn, từ đất Nga xa xôi
đến VN mưa rào, xuyên qua Trung
Đông sa mạc, tràn xuống cả
Châu Phi nóng nực. Không đâu là
không có “Tro Bếp”, hầu như
không dân tộc nào là không có
ít nhất một phiên bản như
thế cho mình. Chỉ riêng Việt Nam thôi người ta
đã tìm ra ít nhất 35 phiên bản. Theo một cuốn sách cũ
mà tôi quên mất tựa đề, truyện
“Tro Bếp” có tổng cộng ít nhất 200 phiên bản trên
toàn thế giới ( 200 hay 2000 tui ko còn nhớ
rõ, phải chi tôi tìm lại được
cuốn ấy , chỉ còn nhớ
tác giả hình như là Đinh Gia Khánh.).
Đó là chưa tính đến những truyện
được phóng tác từ motip này, ví
dụ như bộ phim Lọ Lem lừng danh của Want Disney hay câu
chuyện Tro Bếp của Andescen viết lại.” [
Yevon Tham Đốc - http://lichsuvn.info/forum/showthread.php?t=10029]
Motif được xem như một mẫu loại điển hình có tính
phổ quát đã trở thành biểu tượng như một “mô
thức”; cho nên cái motif Lọ Lem này dầu được kể
dưới bất cứ cấu trúc nào cũng cùng mẫu số chung là
một “bài học” khuyến cáo về đạo lý làm
người trong xã hội mang tính nhân bản và kèm theo một
“thông điệp”: “kẻ
ác làm rối tung mọi sự nhưng lại bắt người cô
thế phải tự giải quyết lấy.”
Thần thoại, cổ tích đều nằm trong thể loại
ngụ ngôn như một đồng tiền có hai
mặt, như một tảng băng có hai phần: phầnt nổi
và phần chìm (không phải là 2 mặt đối nghịch mà
bổ sung cho nhau…làm nên giá trị của câu chuyện). Mặt
nổi được văn bản xác định và mặt chìm chính là cái
thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm mà Ngô Thừa Ân
trong TDK gọi là “ngoại tượng bao bì” và “công
án tỷ ngữ” mà trong văn học thì “ý tại,
ngôn ngoại”.
“Ý tưởng” là cái hiển nghĩa [ý], còn “thông
điệp” là cái “ẩn ngữ” [ngôn]
Thông điệp là cái ẩn dụ trong tác phẩm và
nó nằm ngoài văn bản hay nói một cách khác là nó
nằm giữa các chữ tức bên kia lăng kính
của phép tỷ ngữ trong
ẩn dụ của ngụ ngôn = “2 in 1”. Ngô Thừa Ân
thường hỏi: “Có hiểu được ngầm
ý của ta không ?”. “Cái ngầm
ý” chính là nỗi lòng mà tác giả muốn gửi gắm qua
cái thông điệp nằm ẩn trong “công án”. Và người đọc
có bổn phận “bóc vỏ” để thấy cái “hạt” nằm
bên trong chở ta thưởng thức để tác giả không đau lòng
mà bảo rằng uổng phí miệng phiền lưỡi khô !
Tùy vào thực tế của từng chủng tộc với nến văn
minh và văn hóa riêng nên câu chuyện được kể
mang đậm bản sắc dân tộc của nó. Những nước chăn
nuôi thì lông và laine (len = sợi chỉ) được dùng cho việc
làm rối tung để người bị hại gở…và không gở được
! Còn các nước nông nghiệp trồng lúa và hoa màu thì thóc
và đậu được trộn lộn…vô phương nhặt ra từng loại
!
“THÔNG ĐIỆP LỌ LEM” này người xưa muốn gửi gắm
điều gì ? “Chính kẻ quyền thế
làm rối tung mọi sự mọi việc nhưng lại bắt người
cô thế bị áp bức phải giải quyết cái hổn
độn đó”.
Ngay trong câu chuyện Tấm Cám này chúng ta không tìm ra cái
quyền thế ác độc nằm trong triều chính – “kẻ quyền
thế” - mà hiện ra sự công bằng và đầy tính nhân bản
của Vua. Nếu cần gắng cho “phong kiến” cái xấu, cái
ác thì không thiếu gì cách mà tác giả có thể lồng vào
câu chuyện. Nhưng trong Tấm Cám cũng như các truyện Lọ
Lem khác trên thế giới chúng ta không tìm ra điều ấy.Vậy
“kẻ quyền thế” này là “AI ?”
Truyện không nói đến ! Nó nằm ngoài cái “ngoại
tượng bao bì” – ngoài cái “ý tại”, mà nó
ẩn trong “công án tỷ ngữ” tức “ngôn ngoại”…ngoài
văn bản.
Cái ẩn dụ trong ngụ ngôn nằm ở thể tỷ; thế mà ta
đã giải mã cái mớ hổn
độn các sợi chỉ rối nùi và
thóc đậu lộn hầm bà làng kia chưa ?
Ngày xửa…ngày xưa: hai cái thế lực khắc nghiệt
nhất đối với dân chúng là: 1) Tôn giáo (giai
cấp tăng lữ) và 2) Triều
đình. Đây là hai tập cấp (caste: ở nền văn hóa này)
hay hai giai cấp (classe: ở mộ nền văn hóa khác) là hòn
đá tảng của nhân loại thời ấy.
Một so sánh rất thú vị mà nhà ngôn ngữ
học Nguyễn Khắc Ngữ dẫn chứng “Tấm Cám là
ta mượn của Chàm hay Chàm mượn của ta”. [sd trên]
– “Khác với Việt-nam, xét các chuyện cổ
Chàm ta thấy:
-
Các chuyện này thường không kiên nể
thần thánh, các nhân vật trong truyện dám
đùa cả với thần thánh, đánh lừa cả
thần thánh.
Thí
dụ: Chà-lúc, Chà-lắc và
ngay trong truyện Hu-lé và Dong [Tấm Cám]. Dong (Tấm)
đã nói dối là có lời Phật dạy
để đánh lừa Hu-lé (Cám).
Từ đó dẫn
gs đến kết luận: “Với những
điều kể trên Tấm không thể là nhân vật
điển hình trong cổ tích Việt-nam.” Và “Nhưng nhân
vật ấy hợp với tính chất cổ
tích Chàm”
[sd.tr.1103]
Việt Nam ta thì có
vừa gì: “Muốn cũng cố chế
độ phong kiến, duy trì chế
độ bóc lột, bọn thống trị phải thi hành chính sách
ngu dân. Một mặt chúng hạn chế việc học, một mặt chúng
tuyên truyền tôn giáo, nhằm phát triển sự ngu muội và
mê tín trong dân gian, làm nhụt chí
đấu tranh của nhân dân, cố làm cho nhân dân yên trí
địa chủ giàu là tại số, nhân dân nghèo cũng là
tại số:
Số giàu mang đến dững dưng,
Lọ là con mắt tráo trưng mới giàu.
Sự
gieo rắc mê tín ấy của giai cấp phong kiến thống
trị trong dân gian đã có
hiệu quả một phần nào, nhưng không phải người nào
cũng bị ru ngủ và
bị mê hoặc. Bọn
đội lốt tu hành, vẫn bị
nhân dân vạch mặt và phỉ
nhổ. Hãy đọc những câu ca dao sau này:
Na mô một bồ dao găm,
Một trăm giáo mác,
Một vác dao bầu,
Một xâu thịt chó.
Có
những kẻ ban ngày lần tràng hạt, ban
đêm đi ăn cướp, lại có
kẻ giả vờ đi quyên giáo
để thừa cơ chủ nhà
đi vắng thì ăn trộm ngay giữa ban ngày:
Người ta đi giáo tiền, giáo gạo,
Tiểu tôi đi giáo áo, giáo nồi,
Nhà nào công đức thì thôi,
Nhà nào đi vắng, tiểu tôi giáo bò…
Trong thời phong kiến suy tàn,
đạo Phật, công cụ tuyên truyền của phong kiến , cũng
ngày một suy vi, một số đông chùa chiền
đã hóa ra những nơi tạm lánh chân của bọn trai tứ
chiến gái giang hồ, cho nên mới có
những câu:
Na mô bồ tát bồ hòn,
Ông sư bà vãi cuộn tròn lấy nhau.
Đến những kẻ làm môi giới cho chùa, làm giàu cho
bọn đội lốt tu hành bằng cách khuyên nhủ người ta cúng
lễ, như bọn thầy bói, thầy số, nhân dân cũng nhận thấy
mánh khóa lừa bịp của chúng và
giễu chúng bằng những lời mỉa mai:
Quẻ này có động,
Nhà này có quái trong nhà
Có con chó đực cắn ra đằng mồm.
Nhà bà có con chó đen,
Người lạ nó cắn, người quen nó mừng.
Nhà bà có cái cối xay,
Bốn chân xuống đất, ngõng ngay lên trời…
Trong thời phong kiến, đại đa số
nhân dân bị thất học, do
đó đôi khi họ cũng bùi tai nghe những lời mê
hoặc, những lời dụ dỗ
quàng xiên của giai cấp phong kiến thống trị
và bọn tay sai của chúng. Người nông dân Việt Nam
thời xưa mình trần thân trụi, bị
áp bức bóc lột đủ điều, nên họ
chỉ còn cách cầu Trời khẩ
Phật phù hộ cho họ được
đỡ khổ. Nhiều lúc họ cũng
đã thấy Trời Phật bất lực trong sự
giúp đỡ họ và họ cũng đã nhiều phen oán Trời, trách
Phật.” [Vũ Ngọc
Phan - “Tục Ngữ Ca dao Dân Ca Việt Nam” – tr.446,447,448
– xb. Khoa Học Xã Hội – HÀ NỘI – 1997]
Còn bà Hồ Xuân Hương nữa:
Sư hổ mang
Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta,
Đầu thì trọc lóc, áo không tà,
Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm,
Vãi núp sau lưng sáu bảy bà.
Khi cảh, khi tiu, khi chũm chọe,
Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha.
Tu lâu có lẽ lên sư cụ,
Ngắt nghỏe tòa sen nọ đó là.
Sư bị ong đốt
Nào nón tu lờ, nào mũ thâm.
Đi đâu không đội để ong châm ?
Đầu sư há phải gì…bà cốt.
Bà ngọ con ong bé cái nhầm.
Kiếp tu hành
Cái kiếp tu hành nặng đá đeo,
Vị gì một chút tẻo tèo teo,
Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc
Trái gió cho nên phải lộn lèo.
Chùa Quán Sứ
Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo,
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo ?
Chày kình, tiểu để suông không đấm,
Tràng hạt, vãi lần đếm lại đeo.
Sáng banh không kẻ khua tang mít,
Trưa trật nào ai móc kẽ rêu.
Cha kiếp đường tu sao lắt léo,
Cảnh buồn thêm chán nợ tình đeo.
[“Thơ Hồ Xuân Huong” – tr.29 và 32,33 – xb. Văn Học
Hà Nội – 1987]
Giáo lý / triết lý của họ “rối nùi”
không biết đâu mà gở cho ra mối ! Nhất là “họ”
nói một đàng mà làm một nẻo…biết theo đàng nào ? Cái
thói “dư chữ” của họ như một thứ hỏa
mù đưa ta lạc vào mê cung không lối thoát.
Thay vì phải lựa từng hạt thóc ra khỏi đống
đậu hủ lốn…phải gở từng mối chỉ rối
nùi kia thì câu chuyện thần thoại Hy Lạp dạy cho ta
một cách đơn giản nhất để giải thể
cái hổn độn đó. Một tướng quân công thành…nhưng
thành ấy có lời nguyền: nếu muốn chiếm thành thì phải
tháo từng nút thắt của một sợi dây thừng dài. Tướng
quân ấy nghe vậy liền lấy thanh gươm chặt phăng dây thừng
và xua quân vào chiếm thành một cách gọn gàng. [truyện
đọc khá lâu không biết nó
nằm trong sách nào – xin cáo lỗi và
xin được đính chính]. Câu chuyện muốn nhắn gởi:
- cái vấn đề của nó không phải là từng mắc xích, từng
nút thắt mà chính là cái dây thừng. Giải quyết cái
đại thể chứ không phải giải quyết cái tiểu tiết !
Chuyện cô Tấm ngày xưa nhân hậu hay ác
ôn không phải là “vấn
đề” của tác phẩm cho nên tác giả này thì kiến
thiết một cô Tấm hiền lành, tác giả khác thì cấu trúc
ra một cô Tấm độc ác cho nên “vấn
đề đạo lý” nghiêng ngả muôn chiều.
Và có cần thiết phải
“ép” cô Tấm phải hiền lành nhân hậu ? Chuyện
Tấm trả thù một cách dã man hai mẹ con bà Dì ghẻ không
phải là chuyện đạo lý mà là chuyện tâm lý bình thường
của nhân loại trong tác phẩm…đôi khi nó còn được xem
là hợp lô-gíc.
“Truyền thông
trong nước dẫn lời Giáo sư
Phong Lê, Nguyên trưởng Viện Văn học Việt Nam lý
giải sự tồn tại nghìn năm trong lịch sử của truyện
cổ tích Tấm Cám vì ứng xử của triết lý
dân gian là ác đến đâu tả
đến đó là tương xứng, không có
gì phản cảm.”
[Tranh cãi về cổ tích Tấm Cám - BBC. thứ sáu,
11 tháng 11.2011]
Cái điều cực kỳ quan trọng không phải là
“Tấm Cám” được đưa vào sách giáo khoa mà là
ca tụng sự nhân hậu, hiền lành của cô Tấm ngày
xưa ấy !
Tìm đâu ra sự nhân hậu ? Tìm riết lại gặp cái dã
man !
Tội nghiệp cho anh học trò họ Trịnh viết tặng Hồng
Nhung “Cô Tấm ngày xưa” !!! Nếu là “Cô Tấm
ngày nay trong Văn lớp 10 cải biên
ở phiên bản mới” thì được. -/.
Lọ là con mắt tráo trưng mới giàu.
Một trăm giáo mác,
Một vác dao bầu,
Một xâu thịt chó.
Tiểu tôi đi giáo áo, giáo nồi,
Nhà nào công đức thì thôi,
Nhà nào đi vắng, tiểu tôi giáo bò…
Ông sư bà vãi cuộn tròn lấy nhau.
Nhà này có quái trong nhà
Có con chó đực cắn ra đằng mồm.
Nhà bà có con chó đen,
Người lạ nó cắn, người quen nó mừng.
Nhà bà có cái cối xay,
Bốn chân xuống đất, ngõng ngay lên trời…
Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta,
Đầu thì trọc lóc, áo không tà,
Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm,
Vãi núp sau lưng sáu bảy bà.
Khi cảh, khi tiu, khi chũm chọe,
Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha.
Tu lâu có lẽ lên sư cụ,
Ngắt nghỏe tòa sen nọ đó là.
Sư bị ong đốt
Nào nón tu lờ, nào mũ thâm.
Đi đâu không đội để ong châm ?
Đầu sư há phải gì…bà cốt.
Bà ngọ con ong bé cái nhầm.
Kiếp tu hành
Cái kiếp tu hành nặng đá đeo,
Vị gì một chút tẻo tèo teo,
Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc
Trái gió cho nên phải lộn lèo.
Chùa Quán Sứ
Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo,
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo ?
Chày kình, tiểu để suông không đấm,
Tràng hạt, vãi lần đếm lại đeo.
Sáng banh không kẻ khua tang mít,
Trưa trật nào ai móc kẽ rêu.
Cha kiếp đường tu sao lắt léo,
Cảnh buồn thêm chán nợ tình đeo.
[“Thơ Hồ Xuân Huong” – tr.29 và 32,33 – xb. Văn Học Hà Nội – 1987]
