Nói đến thi sĩ Bùi Giáng tôi chợt nhớ đến chuyện năm xưa sau năm 1975 tôi ở tù CS ra đang ngồi cà phê cóc lề đường Trương Minh Giảng đối diện với viện đại học Vạn Hạnh cũ nhâm nhi ly cà phê nghĩ sự đời để đợi người thân dạy học một trường gần đấy. Bỗng tôi thấy thi sĩ Bùi Giáng quần áo tả tơi nhiều mảnh vá, mồm la hét, tay cầm cây gậy đang múa máy như người điên. Tôi vội chạy ra gọi : «Ông thầy» nhớ em không ? Em mời thầy uống cà phê». Dù tôi không phải là học trò của ông nhưng trước năm 75 của thế kỷ trước tôi thỉnh thoảng đi với anh Trương Phú tức nhà thơ Thanh Tuệ, chủ nhà xuất bản An Tiêm gặp Bùi Giáng nghe ông đọc thơ. Bùi Giáng nhìn tôi nheo mắt, nhún vai nói:«Không tiền !».Tôi liền kéo tay mời thi sĩ vào ngồi, ông ngồi xổm bỏ hai chân lên ghế và gọi ly cà phê không đường. Trong lúc uống tôi hỏi ông : «Sao thầy la hét lớn quá người ta tưởng mình điên ?!» Ông uống một hớp hết ly cà phê và đứng dậy, trả lời tôi :«Trong cái xã hội này còn ai tỉnh mà dám bảo tôi điên !» Nói xong ông cười khì, giơ tay chào tôi rồi quay phắt đi vừa la hét vừa múa gậy. Tôi hỏi Nguyễn Thùy :«Sau năm 1975 anh còn gặp thi sĩ Bùi Giáng không ?» Nguyễn Thùy : «Anh Bùi Giáng lúc điên lúc tỉnh, anh đến sống với tôi có khi cả tháng, có khi đôi ngày, có khi kéo dài mấy tháng, anh thích thì đến, không thích lại bỏ đi, rồi trở lại nhiều lần cho đến ngày tôi đi Pháp. Những năm 1975-1979, tôi sống trong tuyệt vọng. Nghèo, đói, cô đơn, tương lai mù mịt, lại bệnh tật liên miên, tôi trông sao được chết sớm vì thấy sống vô vị và quá khổ. Thêm vào thấy đất nước tang thương, người người điêu đứng vì cảnh 'đổi đời' kỳ quặc, tôi không còn thiết sống ! Bao nhiêu thuốc men của vợ con ở Paris gởi về để chữa bệnh, tôi đem bán hết để mua thuốc lá, từng gói những 50 điếu không biết vấn bằng lá gì, hút liên miên, mỗi ngày uống cả ba, bốn ly cà-phê nơi các quán lề đường. May sao, học sinh thương tôi và phụ huynh chúng cũng mến tôi nên thường mời tôi về nhà dùng cơm. Có thể nói, suốt 13 năm dưới chế độ CS từ 1975 đến 1988, tôi sống được là do học sinh và phụ huynh chúng nuôi cơm!».
Tôi hỏi :«Anh sống khó khăn như thế lấy gì cho Bùi Giáng ăn ?»
Nguyễn Thùy : «Ồ, khỏi lo cho anh ấy ! Anh ấy đến bất chợt, nhiều khi ghé ngang rồi đi. Bùi Giáng không thiết gì ăn uống. Ðược bao bà ở chợ cho gói xôi hay đôi trái chuối, anh không ăn mà đem chia cho bọn trẻ lúc chúng đến chọc phá anh. Có khi anh bỏ vào cái bọc 'cái bang' rồi quên lửng, đến tôi mới mở ra thì đã hôi thiu, nhão nhoét, anh vẫn ăn và tôi ép bụng nhâm nhi chút ít cho anh vui. Anh gọi đấy là của Quan Âm Bồ Tát cho anh. Anh Giáng chẳng giảng cho tôi về Kiều, về Heidegger, về Phật, Chúa. Anh chỉ đọc thơ từ thơ Nguyễn Du đến Tô Ðông Pha rồi thơ Pháp, thơ Anh, thơ tiếng Hán. Tôi chẳng hiểu gì cả, ngày ấy tôi khờ khạo lắm. Tôi bảo anh cứ nói thế, làm sao tôi hiểu? Anh bảo là 'thì mày đập đầu vào đá để hiểu'. Sau nầy, tôi nghiệm ra anh muốn dạy tôi theo lối 'giáo ngoại biệt truyền', 'tâm truyền tâm'.Lúc anh không vào cơn điên, anh nằm dài chẳng buồn nói gì cả. Suốt một tháng nằm hầu như tê liệt tại chùa Long Vân Gò Vắp, anh chẳng ăn uống, tắm rửa gì. Các Thầy trong chùa chăm sóc anh, anh xua tay không chịu. Tôi đến thăm, anh chỉ ậm ờ, không cho tôi nhắc đến thơ anh, đến truyện Kiều, M. Heidegger,...Sau đó, anh vào cơn điên, đi lang thang bụi đời, ghé chùa Theravada, rồi đến nhà tôi. Anh hỏi đủ điều nào về Phật, Khổng, Jésus, Nietzche, Heidegger. Tôi trả lời rồi bỗng nhiên anh ôm chầm lấy tôi, bảo: Trước''Tao tưởng chỉ có tao vào đại hải. Bây giờ chú mầy cũng vào được đại hải.Bây giờ chú mầy cứ trích thơ tao, thơ Nguyễn Du, trích lời Phật, lời Khổng, lời Chúa,...rồi giảng thế nào cũng được, giảng sai đến mấy cũng thành đúng. Trước đây thì không được". Trong 'Ngụ ngôn-Trùng ngôn' tôi có nhắc lại chuyện 'đập đầu vào đá' và 'vào đại hải' lúc nói về cuộc gặp gỡ thi hào Pháp N.Boileau (bài: 'Con phải lên án ta, mới đúng chứ?) và cuộc đối thoại giữa người họ Mặc với người của Mạnh Tử (bài 'Cái học nào cao hơn'?).»
Tôi hỏi : «Anh bắt đầu viết văn làm thơ từ lúc nào ?»
Nguyễn Thùy chớp đôi mắt lờ đờ nhìn ra cửa sổ, trả lời: « Sau năm 1975, do nỗi buồn đất nước và sự cô đơn đã tạo cảm hứng cho tôi làm thơ và viết văn. Tị nạn qua Pháp năm 1989, tôi tiếp tục viết biên khảo, làm thơ, viết văn và đoạt được một số giải thưởng thơ ở Mỹ và Canada. Tôi nhớ lúc còn ở quê nhà tôi rất tuyệt vọng nhưng chẳng lẽ tôi cứ rầu rĩ, tuyệt vọng mãi sao, tôi nhớ ngày còn học Triết tại Chasseloup Laubat, có đọc qua Auguste Comte, nghĩ rằng ba trạng thái tư tưởng 'thần linh, siêu hình, thực nghiệm' không đủ giải quyết được nhân sinh càng ngày càng nhầy nhụa. Tôi nghĩ phải có một thứ tư tưởng thứ tư nào khác; tôi bắt đầu khởi thảo 'một tư tưởng mới'.Viết được 30 trang thì bế tắc. May sao 'Phước cho kẻ buồn thảm vì sẽ được an ủi', mùa Phục Sinh 1979, vì chiều lòng một người bạn, tôi đành cùng cô đến dự buổi lễ tại Hội Thánh An Ðông và được Mục Sư Cương cho một quyển Tân Ước lớn chừng bàn tay. Về nhà, đọc qua, chẳng thấy hứng thú gì nên vứt qua bên. Tình cờ mở lại quyển 'Dư Vang Nghệ Thuật' của người bạn Trần Nhựt Tân (cao học Triết), thấy bài dân ca 'Ðố ai nằm ngủ không mơ', tôi thử giảng bài dân ca nầy xem. Lạ lùng sao, tôi viết không cần suy nghĩ, ngọn bút như được đâu đâu dẫn dắt. Ðọc thấy thú vị và thấy sao thoang thoảng sắc mùi tôn giáo. Tôi bèn đọc lại quyển Tân Uớc, bỗng nhiên nhận ra những gì sâu xa rồi bao nhiêu lời Phật đã được đọc qua sách báo trước đây bỗng hiện về với tôi. Tôi vụt nhận ra cái 'tư tuởng thứ tư' cho nhân loại đã được Phật Chúa nói rồi. Từ đó, tôi trầm ngâm nghĩ đến lời hai Ngài tuy chẳng có tài liệu, Kinh điển nào cả. Sau khi viết một số bài giảng luận ca dao, dân ca, và làm thơ, tôi bỗng nhiên viết đôi 'Ngụ ngôn-Trùng ngôn' và hoàn thành quyển 'TinhThần VN', tôi phác họa đề mục một quyển khác với nhan đề 'Nhân Loại Mới: Từ Nhất Thể Khởi nguyên đến Nhất Thể hồi phục'. Dĩ nhiên, tôi chẳng có kiến thức nào nhưng hầu như được một 'nguồn sáng' nào dẫn dắt ngòi bút, viết liên miên, không suy nghĩ gì cả và hoàn thành xong vào dịp Noel 1979. Tưởng rằng viết liên miên, không ngủ, hút thuốc và cà-phê như thế, tôi sẽ 'ra đi' dễ dàng, bất ngờ. Nhưng lạ lùng là tôi vẫn khỏe và bao nhiêu chứng bệnh ngỡ rằng không thể hết, bỗng nhiên từ giã tôi và tôi luôn sức khỏe tốt mãi đến nay, chẳng phải dùng một thứ thuốc men nào. Viết những bài 'Ngụ ngôn-Trùng ngôn', tôi hầu như thấy bao thánh nhân xưa (Phật, Chúa, Lão Tử, Trang Chu, Khổng Tử, Thánh Ghandi, cả Nguyễn Du, M. Heidegger như lúc nào cũng ở bên tôi để tôi được an ủi, được tâm sự và được nghe các Ngài giảng giải cho tôi được hiểu lời các Ngài. Cứ thế, tôi tiếp tục những năm sau hoàn thành tập 'Ngụ Ngôn-Trùng Ngôn', 'Giảng luận Ca dao Dân ca', 'Ðoạn Trường Tân Thanh: Tiếng Vui trong Lời Buồn', VN tân huyết sử diễn ca', và thơ cũng tuôn trào lai láng. Sang Pháp, phải đi làm mệt mỏi nhưng tiếp tục viết theo cái hứng khởi đã có. Ngoài đôi tác phẩm giới thiệu, nhận xét thơ ca, văn học, tôi gắng hoàn thành quyển 'Hành Trình vào Nhất Thể' (hay: 'Tôi hiểu Chúa, Tôi hiểu Phật'). và loay hoay cố hoàn thành quyển 'Lẽ Ðạo và Tiến hóa’, bổ sung và sắp xếp lại nhũng gì đã viết nơi các quyển sách trước. Nhưng càng viết càng thấy khó. Trong quyển nầy, tôi viết theo suy tư độc lập của mình về chính ngay lời Phật, lời Chúa, không hề mượn lời của ai, của sách báo nào từng đề cao hay phản bác Phật giáo và Ki-Tô giáo. Quyển nầy nếu được in ra sẽ gặp bao phản đối của giới tu sĩ cùng bao nhà Phật học, Ki-Tô học lâu nay vì họ sẽ nghĩ rằng tôi 'táo tợn', không biết lượng sức mình, dám bài bác mọi luận giảng lâu nay, kể cả một số điều trong Kinh điển của hai Tôn giáo. Nhưng tôi tin rằng nếu được dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp, quyển sách có thể đem lại cho giới trí thức nước ngoài hiểu rõ hơn lời Phật, lời Chúa.
Tôi hỏi : «Anh có thể nói rõ hơn về cuốn sách ?»
Nguyễn Thùy : «Nội dung quyển sách nhằm vào bốn điểm sau đây: -Giải thích và chứng minh điều Ðạo học Ðông phương đã bảo: Vạn vật đồng nhất thể' và 'Tất cả khởi đi từ Một để lại trở về trong Một', - Giải thích và chứng minh lời Phật:'Vạn hữu bản lai đồng' và 'Một là tất cả, Tất cả là Một' (Nhất tức Nhất Thiết, Nhất thiết tức Nhất), -Giải thích và chứng minh lời Chúa Jésus: 'Ta là đầu và là rốt, Ta là alpha và Oméga' và 'Ta làm mới lại hết thảy muôn vật', -Giải thích và chứng minh diễn tiến sinh hóa của nhân sinh về mọi mặt (hình thái xã hội, chính trị, kinh tế, khoa học, triết học, văn học, nghệ thuật,..) qua vận hành của Lẽ Ðạo' và 'hình dung cảnh sống của con người và của chủng loại người trong mai hậu' »
Tôi hỏi : « Anh hiểu sao về Lẽ đạo ?»
Nguyễn Thùy :«Theo tôi : Lẽ Ðạo là cái Tất Ðịnh của diễn tiến nhân sinh và vạn hữu, chỉ vạch ra con đường tiến hóa là như thế, cho thấy nơi sẽ đến, sẽ về của từng chủng loại suốt dòng sinh hóa hóa sinh của mình dẫn về thời điểm 'Ðoạn trường sổ rút tên ra'. Nơi sẽ đến, sẽ về của lịch sử từng chủng loại-của nhân sinh nói riêng- là cảnh đời thường hằng an lạc, hạnh phúc qua bao đổi dời bình diện trong oan khiên, nghiệt ngã qua quá trình phát triển của mình, miễn là không tự mình thoái hóa, tự hủy hoặc bị tiêu diệt. Chính Lẽ Ðạo định ra dòng tiến hóa của nhân sinh để sau bao khổ đau, trầm luân, đổ nát sẽ không còn hãi sợ cái chết, chiến thắng cái chết trong vòng 'sinh tử luân hồi' để đạt được Sự Sống đời đời. Lẽ Ðạo vừa là nguyên lý tiên thiên (Ðạo Thể) sinh thành vạn hữu (thuyết Tạo dựng hay Sáng tạo) vừa là con đường tiến hóa (thuyết Tiến hóa) đưa dẫn lịch sử nhân sinh hội nhập vào Ðạo Thể, thay đổi hẳn dạng Hiện hữu và dạng Tồn tại hiện nay để mãi sống trong một thứ Không gian vô sở tại và một thứ Thời gian vô sở trụ. Tôi đã hiểu lời Phật, lời Chúa như thế, có khác với mọi luận giải lâu nay. "
Tôi hỏi: «Những điều anh vừa nói hoàn toàn do anh nghĩ ra hay anh có chịu hảnh hưởng của tác giả, tác phẩm nào? »
Nguyễn Thùy: «Tôi có chịu ảnh hưởng chứ. Thoạt tiên là các bài ca dao, dân ca của dân tộc ta có tính cách triết lý và lịch sử; tiếp theo là lời Chúa Jésus qua bốn bản Phúc Âm nơi Thánh Kinh Tân Ước, sau đấy là Lời Đức Phật được nhớ lại qua những gì được đọc trước đây. Rồi tư tưởng của M. Heidegger qua quyển 'TưTưởng Hiện Đại' của Bùi Giáng và những cảo luận của M.Heidegger qua quyển 'Questions ÌII' do Bùi Giáng tìm đâu đấy, cho tôi. Từ đó, nhớ lại chuyện Bùi Giáng 'mắng' tôi, tôi đọc lại 'Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du, sau hết là do lối nói bông lông theo cách 'du hí thần thông tam muội' của Bùi Giáng. Đặc biệt, những lời của Phật 'Hồi đầu thị ngạn, Đáo bỉ ngạn, bờ bên nầy, Bờ bên kia',...và lời Chúa Jésus ' Cha trên trời là đấng trọn vẹn, của cải ngươi ở đâu lòng ngươi cũng ở đó, tin phục Đức Chúa trời và yêu thương người lân cận',..., luôn ám ảnh tôi. Tôi suy tư ngay chính lời của hai Ngài và nhìn ra được những điểm cốt tủy giống nhau giữa giáo lý của hai Ngài».
Tôi hỏi :«Nhờ vào Lời của Chúa và Phật đã mở ra cho anh một con đường, một lối tư duy về Nhân sinh, đó có thể gọi là Lẽ Đạo không ? »
Nguyễn Thùy :«Vâng đúng như thế, chính dựa vào các điểm giống nhau đó, tôi phát hiện ra dòng vận hành của Lẽ Ðạo cùng diễn tiến sinh hóa của vạn hữu, kết hợp thuyết ‘Sáng tạo’ (hay Tạo Dựng) với thuyết ‘Tiến Hóa’, một kết hợp lâu nay chưa được để ý. Từ đó kết hợp hai tôn giáo và xem đấy là cái ‘tư tưởng thứ tư’ của nhân loại (sau ba trạng thái tư tưởng theo Auguste Comte) sẽ đưa con người và loài người thoát ly ‘động vật tính’ nơi mình, trở thành ‘giới loại thứ tư’ (quatrième règne) trong vạn vật, giới loại ‘con người nhân tính’ (homme humain). Và khi đã giải trừ thú tính nơi mình để trở thành con người nhân tính và trở thành giới loại thứ tư trong vạn vật là con người cùng loài người thiết lập nên Kỷ nguyên thứ hai cho chủng loại mình. Cái ‘kỷ nguyên thứ hai’ nầy, qua lời Phật và lời Chúa Jésus, có thể hiểu là trạng thái sống trong cảnh giới ‘hữu dư Niết Bàn’ , trạng thái ‘cảnh giới thiên đàng’, thoát khỏi cái ‘tất định qui luật’ để sống hoàn toàn theo cái 'tất định như nhiên’ , không còn bị ràng buộc bởi không gian, thời gian vật lý vì lúc bấy giờ ‘không gian sẽ là vô sở tại’ và ‘thời gian sẽ là vô sở trụ’. dẫn đến mức độ ‘nhất giác toàn triệt, nhất niệm toàn tri’. Kỷ nguyên thứ hai nầy, tôi gọi là ‘Hữu Dư Niết Bàn’ hay ‘’Nước Trời’.
Tôi hỏi : «Theo Phật giáo, cái Tâm Năng do thiền quán mà thăng hoa, xin anh nói rõ hơn phần này ?»
Nguyễn Thùy : «Cái Tâm Năng theo Phật giáo do thiền quán mà thăng hoa lên mức độ cao hơn, thành ‘linh năng, phật năng’ để sự sống của nhân sinh tiến đến trạng thái ‘phi tưởng phi phi tưởng xứ’ tức cảnh giới ‘Vô Dư Niết Bàn’ nghĩa là hoàn toàn hòa nhập vào Đạo Thể, vào Thể Chân Như. »
Tôi hỏi anh: «Thế gọi anh như thế nào mới đúng, nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo, nhà phê bình? »
Nguyễn Thùy:«Mấy năm gần đây tôi đã ngưng hẳn làm thơ vì nghĩ rằng có làm cũng không hay hơn trước, mà còn làm thất vọng những người đã từng ái mộ thơ mình. Do đó tôi không dám nhận mình là nhà thơ, mà chỉ là người nghiên cứu văn học, viết khảo luận phê bình.».
Dù tuổi đời đã cao nhưng nhà văn Nguyễn Thùy vẫn còn cảm hứng, năng lực dồi dào nên viết rất nhiều. Anh có lối sống triết chứ không phải triết gia ; mặc dầu anh khá chuyên về tư tưởng. Anh bị ảnh hưởng quá nhiều của Bùi Giáng và trết gia M. Heidegger, cứ như thế sợ anh không bước ra khỏi cái bóng của họ ! Có lẽ vì biết thế, nhà văn Nguyễn Thùy đã viết nhiều hơn, cố đưa ra những điều khám phá mới về tư tưởng, tôn giáo nhưng anh vẫn loay hoay đi tìm Lẽ Đạo cho riêng mình trong cái thế giới đầy hỗn mang văn minh vật chất nên người đời cũng chưa thật hiểu anh ! -/.