Đ ạo Phật được mệnh danh là Đạo ĐỘ KHỔ. Người tin và hành theo con đường của Đức Thích Ca và Chư vị Giác Ngộ để lại thì sẽ được THOÁT KHỔ, THOÁT SINH TỬ. Cái Thoát Khổ thì nhìn bên ngoài không ai hiểu được hành giả đã Thoát hay không ? chỉ người Thoát biết, vì nó vô tướng. Nhưng Đạo Phật giải thích thế nào về Thoát Sinh Tử, vì chúng ta thấy, ngay cả Đức Thích Ca và chư Tổ đều cũng đã chết ?
Trước hết chúng ta tìm hiểu về KHỔ.
Theo Đức Thích Ca, đã sinh ra làm con người, Có Thân là có Khổ. Đạo Phật gọi là Hữu Thân hữu Khổ. Thân như tấm bia mà mọi nỗi Khổ đổ vô đó.
KHỔ được Đạo Phật giải thích trong TỨ DIỆU ĐẾ gồm : KHỔ ĐẾ, TÂP ĐẾ, ĐIỆT ĐẾ và ĐẠO ĐẾ.
KHỔ ĐẾ gồm có Sinh Khổ, Lão Khổ, Bệnh Khổ, Tử Khổ là một chu trình của kiếp sống. Khi hoài thai, đứa bé được sống yên ấm trong bụng mẹ. Đủ ngày tháng thì phải ra đời. Sự thay đổi môi trường làm nó hoảng sợ, khổ sở, vì mất điểm tựa. Phải mất một thời gian nó mới dần quen. Trong kiếp sống lại luôn gặp những cảnh : Cầu mong không được. Cái không thích lại cứ gặp. Thương yêu mà phải xa lìa. Oán ghét lại cứ gặp gỡ… Đó là những cảnh Khổ mà kiếp sống con người không thể nào tránh khỏi.
TẬP ĐẾ là những thói quen lập đi lập lại. Chính những sự huân tập là nguyên nhân của Sinh Tử, được diễn tả trong Thập Nhị Nhân Duyên. Do Vô Minh mà hành động để những duyên khác tiếp tục chuyền níu với nhau làm thành vòng Luân Hồi như bánh xe, cứ lăn hoài, không dứt.
DIỆT ĐẾ là cách thức để Diệt những nỗi Khổ, không cho nó tiếp tục nữa, bằng cách quán sát, tư duy, biết điều nào cần làm, cần tránh rồi thực hành.
ĐẠO ĐẾ là con đường đưa đến Thoát Khổ. Đó là BÁT CHÁNH ĐẠO, tức là Tám con đường Chân Chánh mà Chư vị Giác Ngộ Quá khứ, hiện tại, vị lai đều thực hành theo.
Phân tích kỹ thì chúng ta thấy : Phải chăng khi chưa biết đến Đạo Phật thì mỗi người chúng ta đều thấy CÁI THÂN là MÌNH, bởi mọi cảm giác đói, no, vui, buồn, suớng, khổ đều chung cùng với nó. Điều gì làm cho nó hài lòng thì ta thấy vui. Điều nào nó ghét làm cho ta khổ sở. Cả kiếp sống đều dựa theo những xúc cảm, đòi hỏi của nó. Vì vậy, khi nó Sống là ta thấy mình Sống, làm mọi việc tốt hay xấu cũng nhằm phục vụ cho nó. Lúc nó hết Duyên, hết Nghiệp mà Chết thì thấy mình Chết. Cái Thân như pháo đài kiên cố mà lúc sống mỗi người đã quen núp ở đó. Vì vậy, lúc biết Cái Thân sắp chết thì con người rất khổ sở. Trước hết là vì mất chỗ nương tựa, sau đó là vì phải xa lìa người thân và những thứ mình yêu thích. Sợ nhất sau khi bỏ cái Thân rồi không biết sẽ về đâu ?
Vào Đạo Phật, chúng ta được hướng dẫn, quán sát, tư duy, phân tích ra để thấy rằng con người chúng ta bao gồm hai phần : Phần HỮU TƯỚNG là cái Thân Tứ Đại. Cái này vì Có Tướng, nên phải chịu sự Sinh, Tử theo quy luật vũ trụ. Ngoài phần hữu tướng, trong Cái Thân còn có phần VÔ TƯỚNG, mắt thường không nhìn thấy được, Đạo Phật gọi rất nhiều tên : Hoặc TÂM hay BỔN THỂ TÂM, TÁNH hay THẦN THỨC, hay CÁI BIẾT. Bên Thiên Chúa Giáo gọi là LINH HỒN. Phần này này bất sinh, bất diệt, trường tồn, linh hoạt, sáng suốt, thanh tịnh, đi song hành với cái Thân từ lúc vào đời.
Bình thường chúng ta chỉ nhìn thấy cái Thân hành động như tay đưa, chân bước hay làm việc nọ việc kia. Nhưng nếu quan sát thì ta sẽ thấy : Khi tiếp một Pháp đến, trước mỗi hành động của cái Thân thì đầu tiên là Ý Thức khởi lên, nghĩ rất nhanh cách thức để đối phó, rồi cái Thân mới hành động theo chiều hướng đã nghĩ ra. Do đó, chính cái Ý Thức này mới là chủ nhân cho mọi hoạt động của Cái Thân. Thân chỉ là tai sai, hành động theo sự chỉ huy của THẦN THỨC. Tùy nó khởi xấu hay tốt thì Thân sẽ thực hiện theo.
Theo quán sát của Đức Thích Ca, khi THẦN THỨC còn mê lầm (tức là VÔ MINH) thì nó sẽ điều khiển cho Cái Thân tạo nhiều Nghiệp xấu. Đã Tạo Nghiệp thì phải Trả Nghiệp. Chính hành vi tạo Nghiệp là nguyên nhân làm cho Vòng Luân Hồi cứ tiếp tục không dứt, và kiếp sống sướng hay khổ, nghèo hay giàu, được hưởng hay chịu đọa cũng đều do những hành vi của kiếp trước. Do đó, Đức Thích Ca đặt tên cho CÁI TÂM MÊ LẦM là KẺ XÂY NHÀ. Nhà đây là NGÔI NHÀ SINH TỬ. Người tu Phật sẽ học hỏi để biết và khống chế nó, phá nát vật liệu của nó thì nó sẽ không xây nhà được nữa thì gọi là được Giải Thoát.
Muốn Giải Thoát thì phải biết điều gì đã ràng buộc và cách thức để tháo gỡ.
Theo ĐẠO PHẬT, mỗi người đều có cái CHÂN TÂM, VÔ TƯỚNG, BẤT SINH, BẤT DIỆT, THANH TỊNH, NHƯ NHƯ, nhưng khi còn Mê Lầm, gọi là Vô Minh nên nó đã NHẬN LẦM CÁI THÂN TỨ ĐẠI GIẢ HỢP CHO ĐÓ LÀ MÌNH, rồi điều khiển cho Lục Căn làm những điều tốt hay xấu để phục vụ cho Cái Thân Giả Tạm.
Cái Thân Giả Tạm thì hữu hạn, nhiều lắm là trăm năm sẽ hư hoại, ứng hiện ra đây là để Trả Quả nó đã gây tạo trong lúc ở trong cái Thân trước, nên khi cái Thân trước hết Duyên, hết Nghiệp, trả về cho Tứ Đại thì nó lại phải nhận lấy một cái Thân khác, ở trong đó để TRẢ những Nghiệp đã gieo, nên vòng quay SINH TỬ lại tiếp tục.
Cũng chính vì mỗi người tạo Nghiêp không giống nhau, nên đã hình thành một xã hội có đẹp, xấu, giàu, nghèo, sang, hèn, thọ, yểu, được hưởng phước hay chịu đọa rất khác biệt mà chúng ta thấy diễn ra trước mắt hàng ngày, nhưng nhiều Tôn Giáo giải thích khác nhau.
Những tôn giáo Thần Quyền thì cho rằng mọi dị biệt trong cuộc đời là do Thượng Đế hay Thần Linh an bài, và vì thế giới này và con người là do Thượng Đế tạo dựng nên Ngài toàn quyền sinh sát, quyết định mọi Khổ, Vui, Sống, Chết, và tùy ý thưởng hay phạt. Muốn thay đổi thì phải Cầu xin để được nương tay !. Nhưng Đạo Phật cho rằng nếu như thế thì không khác nào cho rằng Thượng Đế không công bằng, vì nếu đã công bằng thì không thể vô cớ đày đọa người này mà lại ban thưởng cho người khác, trừ trường hợp do chính họ làm sai nên phải chịu phạt và làm đúng thì mới được ban thưởng.
Theo Đạo Phật, tất cả là do NHÂN QUẢ mà mỗi người đã làm. Làm Thiện được thưởng, làm Ác phải chịu đọa,không cần ai cầm nắm, ban phát. Có vậy mới công bằng. Do vậy, không phải Thượng Đế hay Thần Linh, mà chính con người là tác giả của mọi Khổ, Vui của chính mình. Muốn thay đổi thì không phải do Cầu Xin, mà phải tự chuyển hóa mọi suy nghĩ, hành động để cho ra kết quả như mong muốn.
Con người bị ràng buộc như thế nào ?
Do thấy Cái Thân là Mình, nên cả kiếp sống mọi người lệ thuộc vào các giác quan. MẮT thấy những thứ yêu thích nên muốn chiếm hữu, muốn vơ vào cho thật nhiều để tích lũy, để thụ hưởng, mà vật chất cái nào cũng hấp dẫn. Nào Danh, Lợi, Tình, quyền chức, tiền bạc, nhà lầu, xe hơi và những phương tiện phục vụ cuộc sống. Nhưng không phải ai cũng đủ khả năng để trao đổi sòng phẳng, vì thế, người có quyền thì dùng quyền, có thế thì dùng thế. Người yếu kém thì cướp giật, trộm cắp..bất chấp công bằng, bất chấp dẫm đạp lên sự đau khổ của người khác, gọi là tạo Nghiệp. Rồi thì TAI, MŨI, LƯỠI, THÂN, Ý, cái nào cũng muốn được thỏa mãn những mong muốn, làm cuộc sống của mình và chung quanh không yên.
Nhưng quan trọng là mỗi chúng ta không phải chỉ có một kiếp duy nhất. Dù sống Thiện hay Ác thì chết đi là hết, mà những gì đã tạo gọi là NGHIỆP sẽ được lưu lại trong ký ức để rồi người tạo Nghiệp tùy theo nặng hay nhẹ, phù hợp với Đường nào thì sẽ phải đầu thai vào một trong Sáu Đường Luân Hồi để Trả Nghiệp.
Đạo Phật cho rằng trong vũ trụ có đến SÁU ĐƯỜNG, trong đó có BA ĐƯỜNG do Nghiệp nặng nhất, gọi là Ba Đường Dưới, là ĐỊA NGỤC, NGẠ QUỶ, SÚC SINH. BA Đường Trên là NHÂN, THIÊN và A TU LA. Nếu không biết cách để Giải Thoát thì vô lượng kiếp sẽ triền miên trôi lăn trong Sáu Đường này. Nguy hiểm nhất là nếu rớt và Ba Đường Dưới thì càng khó Thoát. Cũng chính vì vậy mà Đạo Phật đã ra đời nhằm giúp con người được Giải Thoát.
Muốn vậy thì phải hiểu rõ về kiếp sống, về Thân, Tâm, Các Pháp, về cuộc đời, về Duyên, Nghiệp, Nhân, Quả rồi dùng những phương pháp Đạo Phật hướng dẫn để tháo gỡ những gì vướng mắc, vun bồi những thứ cần vun bồi.
Trước hết, hành giả được hướng dẫn cho Quán Sát, Tư Duy để hiểu rõ về Cái THÂN. Biết nó do đâu mà Khởi, mà Diệt. Thế nào là Sống với nó, ràng buộc với nó. Muốn Thoát nó phải làm gì ?
Theo Đức Thích Ca phân tích : Cái THÂN chỉ là tổng hợp của những chất ĐẤT, NƯỚC, GIÓ, LỬA, tự nó không có suy nghĩ, cảm xúc hay hoạt động. Tất cả những hiểu biết, cảm xúc, hoạt động đều do phần Vô Tướng tức BỔN THỂ TÂM điều động. Bằng chứng là quan sát một xác chết, khi THẦN THỨC xuất ra rồi thì dù Cái Thân vẫn còn đầy đủ các bộ phận, nhưng không nói năng, co duỗi, hoạt động được nữa, chỉ chờ giờ tan rả mà thôi ! Vì vậy MÊ hay TỈNH đều do CÁI TÂM. Muốn Hết MÊ, muốn được Giải Thoát thì phải nhắm vào CÁI TÂM mà chuyển hóa cho nó hết MÊ LẦM gọi là Chuyển VỌNG thành CHÂN. Chuyển MÊ thành NGỘ.
Quán sát CÁI TÂM, ta thấy nó VÔ TƯỚNG, rất nhạy bén, gắn liền với Các giác quan. Khi Mắt nhìn thấy người hay đồ vật thì lập tức khởi lên phân biệt : Người đó là ai, ở đâu ? với ta là quen hay lạ ? rồi tùy mức độ quen hay lạ mà ứng xứ mà THƯƠNG hay GHÉT. Với Các Pháp hay đồ vật cũng thế. Có cái ưa thích thì muốn sở hữu, muốn có cho nhiều sinh ra THAM. Các cơ quan khác cũng thế, sinh ra THAM, SÂN, SI, THƯƠNG, GHÉT.
Chính những sự THÍCH, GHÉT dựa vào sự phù hợp với Cái Thân hay không làm cho cuộc sống không yên. THÍCH thì muốn có thêm nhiều, tìm mọi cách để chiếm lấy, không có khả năng thì luồn lách, lừa dối, sinh ra Trộm, cắp, gọi là ĐẠO. Vợ nhà đã có mà vẫn thấy gái đẹp, vợ người vẫn muốn thêm gọi là DÂM. Nói láo, nói lưỡi đôi chiều. Nói để khen mình, chê người gọi là VỌNG NGỮ. Rượu chè say sưa làm mờ lý trí, mất nhân cách. Tất cả những vi phạm này cũng chỉ do sự tìm cầu của Cái Thân giả tạm mà ra. Do đó, vào tu Phật thì việc đầu tiên là người thầy sẽ giao cho đệ tử giữ NĂM GIỚI, nhằm hạn chế bớt sự buông lung theo các pháp.
Từng bước, hành giả sẽ được hướng dẫn cho Quán Sát để thấy hóa ra từ trước đến giờ những gì mà chúng ta làm tốt hay xấu cũng chỉ để phục vụ cho Cái Thân giả. Trong khi đó, nó là thứ bội bạc. Dù cho nó ăn sơn hào, hải vị. Cho mặc y phục đắt tiền. Cho ở nhà đẹp, sang dùng những phương tiện xa hoa nhất, nhưng nó từ từ cũng già rồi chết, chẳng thể ở mãi bên ta. Vào tu Phật, người tu quán sát để hiểu rõ về Cái Thân, biết nó chỉ là cái MÌNH GIẢ, không phải MÌNH THẬT, thì không phục vụ cho nó nữa, mà bắt nó phục vụ ta trên con đường tu hành. Nếu trước kia MẮT chỉ nhìn sắc tướng rồi chạy theo tìm cầu, thì ta sẽ bắt nó đọc Kinh, tìm hiểu lời Phật,Tổ. TAI trước kia ham nghe lời xua nịnh, ham những âm thanh du dương, hấp dẫn, giờ bắt nó nghe giảng dạy để phân biệt đúng, sai, điều nào nên làm, điều nào nên bỏ. Các Căn khác cũng thế. Nếu trước kia nó là LỤC TẶC, vì chuyên môn mang ngoại pháp về làm não loạn Thân, Tâm, khi vào tu hành thì biến nó trở thành LỤC HỘ PHÁP để hỗ trợ ta trên con đường tìm đạo, tu tập.
Từng bước quán sát, tư duy theo hành trình VĂN-TƯ-TU của Đạo Phật, hành giả sẽ bớt lần sự chấp đắm vào cái THÂN GIẢ. Cũng nhờ đó mà màn vô Minh cũng lần hồi cũng mỏng đi để Cái Tâm trở nên sáng suốt hơn. Cho đến khi Thấy được, nhận ra cái CHÂN TÁNH thì như bài Kệ của Lục Tổ Huệ Năng :
“Nào dè Tánh mình vốn bất sanh, bất diệt
Nào dè Tánh mình vốn tự đầy đủ.
Nào dè Tánh mình vốn không lay động.
Nào dè Tánh mình hay sanh muôn pháp”.
Khi đã THẤY được cái TÁNH hay BỔN THẾ TÂM, biết cái Thân là Giả Tạm, hành giả sẽ không còn lệ thuộc vào nó thì đương nhiên sẽ không còn vì nó mà tạo Ác Nghiệp. Nhưng ngay cả Thiện Nghiệp để cho nó hưởng cũng không làm, vì đó cũng là nối dài Sinh Tử.
Mọi người không phải bỏ hết việc đời để toàn tâm toàn ý hướng về Tây Phương Cực Lạc, mà khi Xả những dính mắc, thực hành theo Bát Chánh Đạo. Suy nghĩ chín chắn trước mọi hành động để có kết quả tốt đẹp nhất, không tạo Nghiệp thì đó là ta đã Chánh Tư Duy. Làm những nghề nghiệp để nuôi thân một cách chân chánh. Chỉ nói những lời trung thực, không hai lời, không khen mình, chê người, không gieo mâu thuẫn, dối lừa người khác. Từ suy nghĩ cho đến lời nói, hành vi đều chân chính, không vì lợi mình mà hại người thì không tạo Nghiệp, do đó kiếp sống được an lành, có tái sinh cũng đâu phải Trả Nghiệp ?
Còn dính tới cái Thân là còn dính tới hơn thua, Danh, Lợi, Tình, tranh giành để có tiền bạc, sự nghiệp hơn người rồi khởi Tham, Sân, Si, Thương, Ghét với những pháp phù hợp hay không với nó. Nếu chúng ta trung thực, dùng khả năng, sức học, kinh nghiệm của mình để kiếm tiền một cách chính đáng thì điều đó Đạo Phật đâu có cấm, vì góp phần làm cho xã hội thịnh vượng để đền Ân Đất nước đã cưu mang mình. Người hành xử được như thế là ở trong trần gian mà không bị trần gian lôi cuốn. Ở trong Thân mà không bị Lục Căn điều khiển, được ví như Hoa Sen, sống trong bùn mà không vương mùi bùn.
Từ nô lệ cho Cái Thân, cho Lục Căn, hành giả lấy lại vị trí làm chủ, điều khiển Lục Căn để nó trở thành phương tiện hỗ trợ cho công cuộc tu hành. Suốt công cuộc tu tập, hành giả không thể rời 6 việc. Đó là VĂN-TƯ-TU và GIỚI-ĐỊNH-HUỆ. Từng giai đoạn hành trì, nếu không có Thầy hướng dẫn hay đọc những lời Chư Tổ trong Chính Kinh thì làm sao chúng ta biết phải làm gì và làm như thế nào ? Nếu không có GIỚI thì làm sao có ĐỊNH ? Nếu không Quán Sát,Tư Duy thì làm sao có HUỆ ? Nếu cả đời sống phóng túng, không hành theo BÁT CHÁNH ĐẠO thì làm gì có CHÁNH TƯ DUY để có CHÁNH KIẾN ?
Từ suy nghĩ, nói năng, Hành vi, phương tiện sống đều Chân chính thì đâu còn vì Cái Thân mà tạo Nghiệp ? Như thế, tuy Sống trong cái Thân mà hành giả không chung cùng với nó, là đã THOÁT nó, là đã Thoát SINH. Chấp nhận nó chỉ là THÂN NGHIỆP, Không phải CHÂN NGÃ (Ta Thật), nhưng vẫn chăm sóc nó. Khi nó bệnh cũng phải chạy thầy chạy thuốc, không hành hạ nó như những người tu theo Hạnh Đầu Đà, bắt nó phải sống lang thang, đi khất thực, nằm bờ, ngủ bụi, không được có nhà cửa, vì nó tuy giả tạm, nhưng trong đó có hột giống quý là PHẬT TÁNH. Do đó cần giữ gìn nó để tìm cái PHẬT TÁNH, vì chỉ khi Thấy Tánh thì mới đi đển Giải Thoát được. Chính vì vậy mà từ lúc Đức Thích Ca ra giảng pháp thì Ngài không bắt Đệ Tử phải hành Hạnh Đầu Đà nữa, vì đã xác định thủ phạm là CÁI TÂM, không phải cái Thân, nên tập trung tìm CÁI TÂM để tu sửa, không cần hành hạ cái Thân nữa, vì không cần thiết. Vì vậy chỉ những người chưa nắm vũng quy trình tu hành mới tiếp tục hành Hạnh Đầu Đà, tưởng đó là pháp môn cao. Do không nghiên cứu kỹ về Hạnh Đầu Đà nên họ không thấy : tuy ép cái Thân hành trì gian khổ như vậy mà chỉ để đạt được ba mục đích, là hạn chế được sự ham muốn về ĂN, MẶC, Ở mà thôi. Không thể đưa đến Giải Thoát rốt ráo. Đạo Phật cần Trí Huệ, không cần Khổ Hạnh, vì chỉ Trí Huệ mới đưa tới cứu cánh Giải Thoát.
Tóm lại Tu Phật là để được Giải Thoát. Thủ phạm gây ra ràng buộc là cái VỌNG TÂM. Ràng buộc vào đâu ? là vào cái Thân giả, vào Lục Căn. Kinh LĂNG NGHIÊM dạy : “Chứng thánh hay đọa phạm cũng bởi Lục Căn. Không có con đường nào khác”. Vì thế, muốn Giải Thoát thì phải Chuyển Vọng Tâm thành Chân Tâm. Khi Cái Tâm sáng suốt, không còn bị Lục Căn lôi kéo để tạo Nghiệp thì gọi là “Lục Căn thanh tịnh”. Đó là hình ảnh tượng Phật Di Lặc có sáu đứa bé leo trèo quanh mình, vì Lục Tặc sau khi hàng phục thì trở thành sáu đứa bé vô hại.
Đức Thích Ca được Giải Thoát nên ngài xưng mình là Phật Thích Ca. Mọi người không phân biệt già, trẻ, nam, nử, giàu, nghèo, trình độ, trong Chùa, ngoài Chùa đều có thể tu hành Giải Thoát được nên Đức Thích Ca đã Thọ Ký : “Ta là Phật đã thành. Tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành”, đâu có phân biệt hình tướng, sắc phục, nghề nghiệp, nơi ở ? Người đòi hỏi tu Phật phải ở biệt lập, phải có hình tướng để phân biệt chứng tỏ họ chưa hiểu “Tu Phật là tu Tâm”. Người muốn tu chỉ cần chuyển hóa cái Tâm, tự mình hành trì, tự hưởng thành quả, đâu cần sợ mọi người không biết là mình đang tu hành ?
Chúng Sinh bị Nghiệp lôi nên Luân Hồi. Chư Bồ Tát vì thương chúng sinh nên cũng vào Sáu nẻo để cứu độ. Đó là do Nguyện. Không phải do Nghiệp. “ Phật thương chúng sinh như La Hầu La”, nên bất cứ nơi nào chúng sinh còn đau khổ là các Ngài sẽ hiện thân đến để giúp đỡ. Vì thế, “Chư Phật Ba đời không nhàm chán xác thân”. Kinh dạy người đã Giải Thoát một lần thì vĩnh kiếp không còn bị mê lầm nữa. Vì thế, các Vị vẫn nhập thế. Vẫn sống trong phàm, trong Thân Ngũ Uẩn như bao nhiêu phàm phu, mà không bị nó lôi kéo theo phàm tánh. Biết cái Thân là Thân Tứ Đại vẫn phải theo quy trình của nó là SINH, LÃO, BỆNH, TỬ. Đến lúc nó hết Duyên, hết Nghiệp mà trả về cho Tứ Đại thì cũng biết là Nó Chết, nhưng Chân Tánh không chết theo nó, mà các Vị sẽ lại tiếp tục kiếp sống khác với những cái Thân giả tạm khác. Người đã Giải Thoát thì không tạo Ác Nghiệp, lại tạo Thiện Nghiệp, nên cuộc sống ngày càng được hưởng phước báo, được an nhiên, tự tại dù ở bất cứ hoàn cảnh nào. Mục đích nhập thế của các vị là để mồi ngọn”Vô tận Đăng” mang ánh sáng Giải Thoát được đến với tất cả muôn sinh, để tất cả đều được hạnh phúc, an vui trong kiếp sống. Cho tới chừng nào thế gian không còn người đau khổ nữa thì các vị mới an nghỉ như lời nguyện của Địa Tạng Vuơng Bồ Tát : “Ngày nào còn một chúng sinh chưa được độ. Con thề không ngồi vào nơi Vô Thượng Chánh Giác”. Do đó, Chư Vị Giác Ngộ dù vào Sinh, ra Tử, dù thay bao nhiêu cái Thân Giả Tạm nhưng vẫn Thoát Sinh Tử là như thế. ■
Tháng 3 Năm 2026
