K
inh là phương tiện của Chư Vị Giác Ngộ thuyết, mục đích là để hướng dẫn cho người sau cách thức tu hành đi đến kết quả giải thoát. Do thời xa xưa ngôn ngữ còn hạn chế, không thể diễn tả phần Phật Quốc Vô Tướng ở trong Tâm, Chư Vị Giác Ngộ phải giả lập một cảnh giới ở đâu đó để mô tả, vì thế đễ gây hiểu lầm là có Phật Quốc ở cõi trời nọ trời kia. Lời Kinh lại không đơn giản đọc là có thể hiểu. Do đó, Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN có Phẩm TỨ Y, riêng cho phần đọc Kinh là: “Y NGHĨA BẤT Y NGỮ”, và chỉ nên “Y KINH LIễU NGHĨA BẤT Y KINH VỊ LIỄU NGHĨA”, tức là nên y theo NGHĨA, không y theo NGỮ, vì đôi khi Ngữ không đủ truyền tải Nghĩa, phải tìm hiểu thêm thì mới rõ nghĩa được, và chỉ nên Y kinh khi đã liễu Nghĩa. Không y Kinh khi chưa rõ nghĩa. Chính vì vậy, nếu người đọc Kinh mà chưa nắm những lời dặn dò trong TỨ Y này thì rất dễ nhầm lẫn hiểu sai ý Phật, lời Kinh, đưa sang Thần Quyền. mê tín hoặc Nhị Thừa, cầu xin, nương tựa Phật, không phải là tự tu, tự độ như ý người sáng lập Đạo Phật mong mỏi.
Kinh A Di Đà mới đọc qua thấy rất là đơn giản. Kinh tả Tây Phương Cực Lạc đầy dẫy Bảy Báu. Chúng sinh ở đó không có bị những sự khổ, chỉ có điều vui, và khuyên mọi người nên phát nguyện sinh về đó. Người đọc Kinh thấy Kinh dạy cứ nhất tâm niệm hồng danh Phật A Di Đà để khi qua đời Phật và Thánh chúng sẽ rước về.
Có thật có Tây Phương Cực Lạc ở đâu đó không ? Cõi này được hình thành như thế nào ? Có thật chỉ cần niệm Phật ngày đêm thì sẽ vãng sinh về đó ?
Có lẽ chúng ta cũng cần đọc kỹ Kinh xem trong đó hướng dẫn, giải thích như thế nào ? Hoặc Kinh muốn diễn tả điều gì ? Muốn đến Tây Phương Cực Lạc cần làm những gì ? Điều kiện gì mới được đến đó ?
Trích Kinh A Di Đà.
“ Một thuở nọ, Đức Phật ở nơi vườn Kỳ Thọ, Cấp Cô Độc nước Xá Vệ cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị Đại Tỳ Kheo câu hội; đều là bậc Đại A La hán, mọi người đều quen biết như là :
Trưởng Lão Xá Lợi Phất, Đại mục Kiền Liên, Đại ca Diếp, Ma ha Ca chiên Diên, Ma Ha Câu Hy Lam Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lư Phà La Đọa, Ca Lưu Đà Ni, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu Lưu La, A Nâu Lầu Đà, những vị Đại Đệ Tử như thế.
Và hàng Đại Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi : Pháp Vương Tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát.. cùng với các vị Đại Bồ Tát như thế và với vô lượng Chư Thiên như ông Thích Đề Hoàn Nhân v.v… đại chúng đến dự hội.
Bấy giờ Đức Phật bảo ngài Trưởng Lão Xá Lợi Phất rằng : Từ đây qua phương Tây, quá mười muôn ức cõi Phật,có thế giới tên là Cực Lạc, trong thế giới đó có Đức Phật hiệu là A Di Đà hiện đang nói pháp.
Vì sao cõi đó tên là Cực Lạc ?
Vì chúng sanh trong đó không có bị những sự Khổ, chỉ hưởng những điều vui, nên nước đó tên là Cực Lạc.
Lại trong cõi Cực Lạc có bảy từng bao lơn, bảy tầng mành lưới, bảy tầng hàng cây, đều bằng bốn chất báu bao bọc giáp vòng, vì thế nên nước đó tên là Cực Lạc.
Xá Lợi Phất ! Lại trong cõi Cực Lạc có ao bằng bảy chất báu, trong đáy ao đầy dẫy nước đủ tám công đức, đáy ao thuần dùng cát vàng trải làm đất.
Vàng, bạc, lưu ly, pha lê, hiệp thành những thềm, đường ở bốn bên ao. Trên thềm đường có lầu gác cũng đều nghiêm sức bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não.
Trong ao có hoa Sen lớn như bánh xe, hoa sắc xanh thời ánh sáng xanh, sắc vàng thời ánh sáng vàng, sắc đỏ thời ánh sáng đỏ, sắc trắng thời ánh sáng trắng, mầu nhiệm thơm tho, trong sạch.
Xá Lợi Phất ! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy.
Lại trong cõi nước của Đức Phật đó thường trỗi nhạc trời, đất bằng vàng ròng, ngày đêm sáu thời rưới hoa trời Mạn Đà La.
Chúng sanh trong cõi đó thường vào lúc sáng sớm, đều lấy đãi hoa đựng những hoa tốt đem cúng dường mười muôn ức Đức Phật ở phương khác. Đến giờ ăn liền trở về bổn quốc, ăn cơm xong đi kinh hành.
Xá Lợi Phất ! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy.
Lại nữa, Xá Lợi Phất ! Cõi đó thường có những giống chim mầu sắc xinh đẹp lạ thường, nào chim Bạch Hạc, Khổng tước, Anh Võ, Xá Lợi, Ca Lăng tần Già. Cọng mạng.. Những giống chim đó ngày đêm sáu thời kêu tiếng hòa nhã.
Tiếng chim đó diễn nói những pháp như Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Thánh Đạo Phần, v.v..Chúng sanh trong cõi đó nghe tiếng chim xong thảy đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
Xá Lợi Phất ! Ông chớ cho rằng những giống chim đó thiệt là do tội báo sinh ra. Vì sao ?
Vì cõi của Đức Phật đó không có Ba Đường Dữ. Cõi của đức Phật đó tên đường dữ còn không có, huống gì lại có sự thật. Những giống chim đó là do Đức Phật A Di Đà muốn làm cho tiếng pháp được tuyên lưu mà biến hóa làm ra đấy thôi.
Xá Lợi Phất ! Trong cõi nước của Đức Phật đó, gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và động mành lưới báu làm vang ra tiếng vi diệu, thí như trăm ngàn thứ nhạc đồng một lúc hòa chung.
Người nào nghe tiếng đó tự nhiên đều sanh lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
Xá lợi Phất ! Cõi nước của Đức Phật đó thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy.
Xá Lợi Phất ! Nơi ý ông nghĩ sao ? Đức Phật đó vì sao hiệu là A Di Đà ?
Xá Lợi Phất ! Đức Phật đó hào quang sáng chói vô lượng, soi suốt các cõi nước trong mười phương không bị chướng ngại, vì thế nên hiệu là A Di Đà.
Xá Lợi Phất ! Đức Phật đó và nhân dân của Ngài sống lâu vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, nên hiệu là A Di Đà.
Xá Lợi Phất ! Đức Phật A Di Đà thành Phật lại đến nay đã mười kiếp.
Lại đức Phật đó có vô lượng vô biên Thanh Văn đệ tử đều là bậc A La Hán, chẳng phải tính đếm mà có thể biết được. Hàng Bồ Tát cũng đông như thế.
Xá Lợi Phất ! Cõi nước của Đức Phật đó thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy
Lại trong cõi Cực Lạc, những chúng sanh vãng sanh vào đó đều là bậc bất thối chuyển.
Trong đó có rất nhiều vị bậc Nhứt Sanh Bổ Xứ. Số đó rất đông, chẳng phải tính đếm mà biết được, chỉ có thể dùng số vô luợng vô biên a tăng kỳ để nói thôi.
Xá Lợi Phất ! Chúng sanh nào nghe những điều trên đây nên phải phát nguyện cầu sanh về nước đó.
Vì sao ? Vì đặng cùng với các bậc Thượng Thiện Nhơn như thế câu hội một chỗ.
Xá lợi Phất ! Chẳng có thể dùng chút thiện căn phước đức nhơn duyên mà được sinh về cõi đó.
Xá Lợi Phất ! Nếu có Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn nào nghe nói danh hiệu đức Phật A Di Đà, ròi chấp trì danh hiệu của đức Phật đó, hoặc trong một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày, một lòng không tạp loạn. Thời người đó đến lúc lâm chung đức Phật A Di Đà cùng hàng Thánh chúng hiện thân ở trước người đó.
Nguời đó lúc chết tâm thần không điên đảo, liền đặng vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của đức Phật A Di Đà.
Xá Lợi Phất ! Ta thấy có sự lợi ích ấy nên nói những lời như thế. Nếu có chúng sanh nào nghe những lời trên đó nên phải phát nguyện sanh về cõ nước Cực Lạc.
Xá Lợi Phất ! như ta hôm nay ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của Đức Phật A Di Đà, phương Đông cũng có Đức Phật A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu di Quang Phật, Diệu Âm Phật. Hằng hà sa số những đức Phật như thế đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp tam thiện đại thiên mà nói lời thành thật rằng : “Chúng sanh các người phải nên tin Kinh : Xưng tán Bất Khả Tư Nghị Công đức Nhứt Thiết Chư Phật Sở hộ Niệm nầy”.
Xá Lợi Phất ! Thế Giới Phương Nam có Đức Phật Nhựt Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật..Hằng hà sa số những Đức Phật như thế đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam Thiên Đại thiên mà nói lời thành thật rằng : Chúng sanh các nguơi phải nên tin kính : Xưng tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhứt Thiết Chư Phật Sở hộ niệm nầy”.
Xá Lợi Phất ! Thế giới Phương Tây có Đức Vô Lượng Thọ Phật, Vô lượng Tướng Phật, Vô Lượng Trang Phật, Đại Quang phật, Đại Minh Phật, Bửu Tường Phật, Tịnh Quang Phật…Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam Thiên Đại Thiên mà nói lời thành thật rằng : “Chúng sanh các ngươi phải nên tin Kinh : Xưng tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức nhứt thiết chư Phật sở Hộ Niệm này.
Xá Lợi Phật ! Thể giới Phương Bắc có Đức Diệm Kiên Phật, Tối thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhứt Sanh Phật, Võng Minh Phật..Hằng hà sa số những đức Phật như thế…(giống phần trên).
Xá Lội Phất ! Thể giới phương dưới có Đức Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Mạ Phật, Pháp Tràng Phật, Trì Pháp Phật…Hằng hà sa số những đức Phật như thế (giống phần trên).
Xá Lời Phất ! Thế giới phương trên có đức Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạo Sắc Bửu Hoa Nghiêm Thân Phật, Ta La Thọ Vương Phật, Bửu Hoa Đức Phật, Kiến Nhứt Thiết nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật… Hằng hà sa số những Đức Phật ..(giống như phần trên).
Xá Lợi Phất ! Nơi ý của ông nghĩ thế nào ? Vì sao tên là Kinh : Nhứt Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm ?
Xá Lợi Phất ! Vì nếu có thiện nam tử, Thiện nữ nhơn nào nghe Kinh này mà thọ trì đó, và nghe danh hiệu của các Đức Phật, thời những thiện nam tử cùng Thiện Nữ Nhơn ấy đều được tất cả các Đức Phật hộ niệm, đều được không thối chuyển nơi đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Xá Lợi Phất ! Cho nên các ông đều phải tin nhận lời của Ta và các Đức Phật nói.
Xá Lợi Phất ! Nếu có người đã phát nguyện, hiện nay phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn sanh về cõi nước của các Đức Phật A Di Đà, thời những người ấy đều đặng không thối chuyển nơi đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác; Nơi cõi nước kia, hoặc đã sanh về rồi, hoặc hiện nay sanh về, hoặc sẽ sanh về.
Xá Lợi Phất ! Cho nên các Thiện Nam Tử, Thiện Nữ nhơn nếu người nào có lòng tin thời phải nên phát nguyện sanh về cõi nước kia.
Xà Lợi Phất ! Như ta hôm nay ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của các Đức Phật, các đức Phật đó cũng ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của Ta mà nói lời này : “Đức Thích Ca Mâu Ni Phật hay làm được việc rất khó khăn hi hữu, có thể ở trong cõi Ta Bà đời ác năm món trược : Kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược trung, mà Ngài chứng được ngôi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Ngài vì các chúng sanh mà nói kinh pháp mà tất cả thế gian khó tin nầy”.
Xá Lợi Phất ! Phải biết rằng Ta ở trong đời ác ngũ trược thật hành việc khó nầy : đặng thành bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và vì tất cả thế gian nói kinh pháp khó tin này, đó là rất khó.
Đức Phật nói Kinh này rồi, Ngài Xá Lợi Phất cùng các vị Tỳ Kheo, tất cả trong đời, Trời, Người, A Tu La v.v..nghe lời của Đức Phật dạy, đều vui mừng tin nhận đảnh lễ Phật mà lui ra”.
Lược Giải
Kinh A DI ĐÀ do ĐẠI THỪA phổ biến. Ở Trung Quốc, Sư Huệ Viễn, đã dựa vào Kinh này để lập ra Pháp Môn TỊNH ĐỘ, y theo lời Kinh dạy, khuyên bá tánh nếu muốn về Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà, thì nên phát nguyện, rồi nhất tâm Niệm danh hiệu Phật A Di Đà thì khi lâm chung Ngài sẽ cùng Thánh chúng đến rước về Tây Phương Cực Lạc. Dù vậy, người theo Tông Tịnh Độ cũng phải tự lực tu tập, hội đủ Ba điều kiện :
Một là hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, giữ lòng từ, không sát hại, tu tập Mười Nghiệp lành.
Hai là thọ trì Ba pháp Quy Y, đầy đủ các Giới, không sai phạm uy nghi.
Ba là Phát Bồ Đề Tâm, tin sâu Lý Nhân Quả, đọc tụng Kinh điển Đại Thừa, khuyên người khác cùng tu.
Ở Việt Nam thì Tổ Sư Pháp Môn Tịnh Độ là Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, người một đời chuyên dịch Kinh sách Đạo Phật từ tiếng Trung Quốc sang tiếng Việt, để nhiều thời qua, người tu học có những quyển Kinh được dịch ra rõ ràng để khi cần thì có để tham khảo.
Đọc Kinh này, nhưng cũng sẽ có một số thắc mắc sau :
1/- Đạo Phật được mệnh danh là Đạo Nhân Quả và dạy mọi người phải Tự Độ, và nói rằng phải gây Nhân thì mới có Quả, thì sao Kinh này dạy : Cứ Phát Nguyện về Tây Phương Cực Lạc và nhất tâm niệm danh hiệu Phật A Di Đà liên tục trong nhiều ngày thì sẽ được về đó khi qua đời ?
2/- Nếu chỉ cần niệm danh hiệu Phật nào thì khi trút hơi thở cuối cùng là Phật đó sẽ đến rước thì rõ ràng là mâu thuẫn, vì không lẽ có người cả đời làm ác, sát sinh, hại người, chẳng lẽ cuối đời chỉ cần bỏ ra vài ngày niệm hồng danh Phật thì Ngài sẽ đến rước về Nước của Ngài. Như thế thì Nhân Quả của Đạo Phật bỏ đi đâu ?
3/- Tây Phương Cực Lạc chỉ là một phần trong Kinh, mà khi đọc Kinh chúng ta không thể chỉ ngắt một câu, một đoạn Kinh rồi hành trì theo đó, mà nên đọc kỹ toàn bộ quyển Kinh để xem có quả đúng là ý Kinh nói như thế chăng ? Niệm Phật chỉ là hình thức cột cái Tâm không cho chạy theo Pháp, đâu có lập công đức gì thì làm sao được về Phật Quốc ?
Đọc Kinh chúng ta thấy có một số điểm cần chú ý sau :
1/- Lý do tên CỰC LẠC : Vì chúng sanh trong đó không bị những sự khổ, chỉ hưởng những điều vui.
2/- Lý do tả Tây Phương Cực Lạc với nhiều con số 7.
Bảy tầng bao lơn, bảy tầng mành lưới. Bảy tầng hàng cây. Ao bằng Bảy chất báu. Vậy số 7 mang ý nghĩa gì ?
Không phải ngẫu nhiên mà tác giả dùng số 7 để tả về bao lơn, mành lưới, hàng cây ở Tây Phương Cực Lạc. Đó là nói về Công Đức tu hành. Người tu theo Đạo Phật cần hiểu rằng công năng tu hành không phải là tụng cho thật nhiều biến Kinh, niệm hồng danh Phật cho nhiều, mà là chuyển hóa, hay còn gọi là Điều Phục cái Tâm, cho nó CẢI ÁC, HÀNH THIỆN. Công phu tu hành là XẢ những gì đang trói buộc, làm cho chúng ta dính mắc vào cái Phàm, để được thanh tịnh, được Giải Thoát. Kinh LĂNG NGHIÊM dạy : “Chứng Thánh hay đọa phàm cũng bởi Lục căn, không có con đường nào khác”, vì vậy người muốn tu hành là phải chuyển hóa hay điều phục Lục Căn của chính mình, cho nó không còn nhiễm trần, được thanh tịnh.
Tu Phật được gọi là Tu Tâm. Do vậy, Tây Phương Cực Lạc được tả trong Kinh không phải ở cõi trời nào, mà ở nơi Tâm của mỗi người. Mỗi người phải tự thành lập lấy bằng Công Đức tu tập.
Tạo Công Đức như thế nào ?
Theo Đạo Phật, mỗi người chúng ta có BẢY NGHIỆP, gồm : BA NGHIỆP thuộc về cái THÂN là THAM, SÂN và SI. BốN NghiỆp thuộc về KHẨU, gồm : Nói láo, nói lưỡi đôi chiều, nói để khen mình, chê người. Do tích lũy, cất chứa từ bao nhiêu đời không chịu xả bỏ, nên Đạo Phật ví như người giữ Châu Báu. Do vậy, Xả một món cho con đường Giải Thoát, gọi là “Cúng một món châu báu cho Phật”. Xả BẢY NGHIỆP thì gọi là “Cúng dường Bảy Báu cho Phật” , không phải là ngọc ngà châu báu của trần gian. Cõi Phật là vô tướng, không thể chứa vật chất trần gian được.
Người tu phải làm Hạnh Bồ Tát, hành dụng Độ Sinh. Cứu Độ được một Chúng Sinh thì gọi là “Cúng dường một vị Phật”, hay là “ độ” một chúng sinh thành Phật” . Từng sát na, trong mỗi chúng ta khởi lên biết bao nhiêu là Chúng Sinh. Vì vậy, một đời tu hành mỗi người chúng ta cúng dường biết bao nhiêu vị Phật như thế.
Những tư tưởng đã được Giải Thoát được cho là về một nơi gọi là Phật Quốc. Phật Quốc không phải là cõi tưởng tượng, mơ hồ, mà được thành lập bằng những Công Đức thí xả đó tích tụ lại. Có tất cả BẢY MÓN Báu mà mỗi người tu phải Xả, nên Kinh viết là cõi Cực Lạc gồm nhiều con số BẢY : BẢY TẦNG mành lưới, BẢY TẦNG hàng cây. Ao bằng BẢY CHẤT BÁU vậy.
Người tu phải làm Hạnh Bồ Tát, phải Độ Sinh thì mới thành lập Phật Quốc được. Kinh DUY MA CẬT viết : “Này Bảo Tích ! Tất cả Chúng Sanh là Cõi Phật của Bồ tát. Vì sao ? Bồ Tát tùy chỗ giáo hóa chúng sanh mà lãnh lấy cõi Phật. tùy chúng sanh ưng theo quốc độ nào vào trí tuệ của Phật mà lãnh lấy cõi Phật; tùy chúng sanh ưng theo quốc độ nào phát khởi căn tánh Bồ Tát mà lãnh lấy cõi Phật. Vì sao thế ? Vì Bồ Tát lãnh lấy cõi Phật thanh tịnh đều vì muốn lợi ích chúng sanh. Ví như có người muốn xây dựng cung nhà nơi khoảng đất trống tùy ý được thành công. Nếu xây nhà giữa hư không quyết không thành tựu được. Bồ Tát cũng thế. Vì thành tựu Chúng danh nên nguyện lãnh lấy Cõi Phật. Nguyện lãnh lấy cõi Phật chẳng phải ở nơi rỗng không vậy”. Và : “Bồ Tát nếu muốn được Cõi Phật thanh tịnh, nên làm cho Tâm thanh tịnh; tùy chỗ Tâm thanh tịnh mà cõi Phật được thanh tịnh”.
Người muốn thành lập Tây Phương Cực Lạc phải là những người hành Hạnh Bồ Tát, làm công việc ĐỘ SINH thì mới thành lập Cõi Phật được. Những người Thấy Các Pháp là KHÔNG thì tất cả đều Không. Không có Phật. Không có Chúng Sinh. Không có thấy Chúng Sinh để điều phục thì không thành lập Phật Quốc được, vì không ai có thể xây nhà nơi hư không. Kinh cũng nhấn mạnh : “Tùy chỗ Tâm thanh tịnh mà cõi Phật được thanh tịnh” để chúng ta biết là Phật Quốc đó được thành lập ở nơi Tâm của mỗi người. Không phải ở cõi trời nào khác.
3/- Cõi CỰC LẠC được thành tựu bằng CÔNG ĐỨC TRANG NGHIÊM. Công đức là công năng tu hành vậy.
-Chúng Sinh trong cõi Phật là kết quả của những công đức thì làm sao có Ba Đường Dữ là Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc sinh vào đó được..
4/- Ngay cả tiếng chim cũng diễn nói những pháp như Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Thánh Đạo Phần. Nghĩa của những từ này như sau :
( Ngũ Căn gồm : Tín Căn, Tinh Tấn Căn, Niệm Căn, Định Căn, Huệ Căn. Ngũ Lực là sức mạnh để phát triển Ngũ Căn,
-Thất Bồ Đề Phần gồm :
Trạch Pháp : Sự lựa chọn pháp môn để tu hành.
Tinh Tấn : Siêng năng, chuyên cần hành trì.
Hỷ : Khi đã đoạn dần Phiền não thì được hoan hỷ.
Khinh an : Nhẹ nhàng, an ổn)
Niệm : Ghi nhớ Chánh Pháp
Định : Sự dừng lắng cái tâm. Không còn tán loạn. mà tập trung.
Xả : Xả bỏ những gì làm vướng bận, dính mắc.
Bát Thánh Đạo Phần gồm : CHÁNH KIẾN, CHÁNH TƯ DUY, CHÁNH NGỮ, CHÁNH MẠNG, CHÁNH NGHIỆP, CHÁNH ĐỊNH, CHÁNH TINH TẤN, CHÁNH TRÍ.
(Phân ra thì CHÁNH NGHIỆP, CHÁNH MẠNG thuộc về THÂN.
CHÁNH NGỮ thuộc về KHẨU
CHÁNH KIẾN, CHÁNH TƯ DUY, CHÁNH ĐỊNH, CHÁNH TINH TẤN, CHÁNH TRÍ thuộc về Ý).
Có nghĩa là người Hành theo TÁM CON ĐƯỜNG CHÂN CHÍNH này thì sẽ giữ cho THÂN, KHẨU, Ý Ba Nghiệp được thanh tịnh.
Chúng sinh trong Cõi Tây Phương Cực Lạc là những Chúng sinh đã được “Độ”, toàn làm những điều thiện, từ suy nghĩ cho tới việc làm, đó là Thánh chúng, không phải phàm phu mà vào được cõi Tây Phương.
5/- Vì sao Đức Phật đó hiệu là A Di Đà ? Vì hào quang sáng chói vô lượng, soi suốt các cõi nước trong mười phương không bị chướng ngại. Vì sao gọi là không bị chướng ngại ? Vì không còn một tội, nghiệp đen tối nào che chắn. Chỉ toàn những Hạnh tốt đẹp, thanh tịnh mà thôi.
6/- Đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay đã Mười kiếp. Mười kiếp tượng trưng cho Thập Thiện. Có nghĩa là người tu hoàn thành Thập Thiện trong quá trình tu hành.
7/- Làm thế nào để vãng sinh Tây Phương Cực Lạc ?
Những chúng sanh vãng sanh vào đó đều là bậc bất Thối chuyển. Chẳng có thể dùng chút thiện căn, phước đức nhơn duyên mà được sinh về cõi đó. Như thế, nếu chúng ta muốn được về Tây Phương Cực Lạc thì không chỉ phát nguyện, mà còn không được thối chuyển trên con đường tu hành.
8/- Tán thán công đức :
Những Đức Phật ở các cõi : Phương Bắc, Phương Nam, Phương Đông, phương tây, Phương dưới, phương trên đều ở tại nước mình hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam Thiên Đại Thiên để khuyên chúng sanh nên tin kinh này. Tên Kinh là Nhứt thiết Chư Phật sở Hộ Niệm.
“Tướng lưỡi rộng dài trùm phủ cõi Tam Thiên” là nói về những lời nói chân thật để khuyên dạy, nhắc nhở chúng sinh. Tất cả Chư Phật đều có “Tướng lưỡi rộng dài bao trùm Tam Thiên”, chứng tỏ các Ngài chỉ nói những lời thành thật, không nói lưỡi đôi chiều hay chỉ nói vì lợi ích của bản thân. Người tu có Giới VỌNG NGỮ. Lời nói luôn phải chân thật , nói được, làm được thì chúng sinh mới chịu nghe lời, việc tu hành mới có hiệu quả.
- Vì sao tin Kinh này thì được Chư Phật hộ niệm ? Vì được Chư Phật hộ trì để không thối chuyển nơi Đạo Vô Thượng Chánh Đẳng chánh Giác.
- Nên phát nguyện để được sanh về cõi nước Phật A Di Đà.
Điều kiện được về Tây Phương Cực Lạc thì đã được viết rõ trong Kinh :
a/- Những chúng sinh vãng sanh vào đó đều là bậc Bất Thối Chuyển.
b/- Chẳng có thể dùng chút thiện căn phước đức nhơn duyên mà được sinh về cõi đó.
Chư vị Giác Ngộ vì thương chúng sinh do không hiểu, không biết đang ngụp lặn trong bể khổ nên không muốn hồi đầu. Chính vì vậy mà các Ngài phải vận dụng rất nhiều phương tiện để con người ham thích mà chịu quay đầu, ngưng tạo Nghiệp để Thoát Khổ. Biết con người ham ngọc ngà, vàng bạc, châu báu, cả đời chém giết nhau để tranh giành, chiếm đoạt. Vì thế, các vị tả Tây Phương Cực Lạc đầy dẫy các món châu báu để con người vì ham đến đó mà chịu buông xả những chấp nhất, dính mắc vào cảnh trần, vật chất tạm bợ của cõi trần để được đến đó. Xả một chút là nhẹ đi một chút, là đến gần với Tây Phương Cực Lạc hơn. Muốn đến gần cõi Tây Phương thì Lục Tổ dạy : “Nay khuyên các Thiện Tri Thức. Trước trừ mười điều ác, tức là đi tới mười muôn dặm. Sau dứt tám điều tà, ấy là qua khỏi tám ngàn dặm. Thường làm việc công bằng, chính trực thì đến cõi mau như khảy móng tay, liền thấy Phật A Di Đà”.
Với những người cầu về Tây Phương Cực Lạc thì Tổ dạy : ‘Nầy Sử Quân! Nếu làm Mười điều thiện thì cần gì phải nguyện vãng sanh. Còn nếu chẳng dứt lòng cưu mang mười điều ác thì Phật nào tới rước mình ? Nếu hiểu rõ phép vô sanh đốn pháp (là phép nhẫn tâm, không sanh vọng niệm, không tạo ác nghiệp, dứt ngay Mười điều ác và Tám điều tà) thì trong một sát na ắt thấy cõi Tây Phương. Bằng chẳng hiểu rõ phép ấy mà cứ niệm Phật cầu vãng sanh thì đường xa vời vợi thế nào tới cõi ấy đặng”.
Tuy nhiên, nhiều thế hệ qua, con người đã hiểu lầm ý Phật, lời Kinh do chấp lầm văn tự. Đã đành lời Phật thì không hư dối, nhưng trong đó gói ghém phương tiện để người mong ước được đến đó thì phải Xả bớt mê đắm cảnh trần, bớt tranh giành, giết hại lẩn nhau. Kinh viết rất rõ : “Những chúng sanh vãng sanh về đó đều là bậc Bất Thối chuyển. Chẳng thể do chút thiện căn, phước đức nhơn duyên mà được sinh về cõi đó”. Như vậy, ta nghĩ sao khi cả đời sống tạo đủ thứ Nghiệp ác, rồi khi lâm chung chỉ cần mới Sư tới tụng vài thời kinh là Phật và Thánh chúng sẽ tới rước ?
Không chỉ Phật tử. Nhiều người nghe Đạo Phật tả cảnh Tây Phương Cực Lạc đầy của báu. Người ở đó không phải Khổ, chỉ hưởng toàn sự vui, nên bỏ nhà cửa, cha mẹ, công ăn việc làm để vô Chùa tu, mong được về sau khi qua đời ! Trong khi đó, Đạo Phật không hề dạy con người phải bỏ đời, bỏ cha mẹ, nhà cửa để xuất gia tu hành, vì nghĩa của Xuất Gia là “Ra khỏi nhà lửa Tam Giới”, không phải là bỏ nhà thế tục. Cha, mẹ phải bỏ là Tham Ái và Vô Minh, vì hai thứ này nhiều đời sai sử con người như cha mẹ sai con. Phật đâu có dạy bỏ cha mẹ thế gian. Trái lại Đạo Phật còn dạy người tu phải đền Tứ Ân, trong đó Ân phụ mẫu đứng hàng đầu.
Ngoài đền Ân Phụ mẫu, người tu còn phải đền Ân Phật, Ân Thầy, Ân đất nước, Chúng sinh. Do đó Kinh ĐẠI PHƯƠNG TIỆN PHẬT BÁO ÂN dạy Bồ tát tu hành cần phải làm 5 việc :
1/- Cầu Phật Pháp.
2/- Tìm hiểu nhân luận.
3/-Tìm hiểu thanh luận.
4/- Tìm hiểu các phương thuốc.
5/- Tìm hiểu các học thuật thế gian.
Kinh viết : “Nếu Bồ Tát nào không chịu cầu học Năm việc ấy thì không thể chứng được Đạo Vô Thượng Bồ Đề. Vì muốn cầu được Vô Thượng Bồ Đề mà Bồ Tát cầu năm việc ấy”.
Từ xưa đến nay, biết bao lớp người đã hiểu lầm về việc tu Phật, cho là muốn tu hành thì phải bỏ đời, không được dính líu gì đến thế gian, kể cả việc làm ăn cũng không thiết, cuộc sống để bá tánh cung dưỡng cho, dành trọn ngày giờ để tu hành. Đó là ý nghĩ sai lầm làm thiệt hại biết bao nhiêu cho sự phát triển đất nước, con người. Thật vậy. Đạo Phật là Đạo Nhân Quả, là tự tu, tự hành trì để được Giải Thoát. Sở dĩ Đạo Phật ra những Giới, Luật là để ngăn cấm con người làm những điều ác, điều bất lợi, gây thiệt thòi cho người khác, đâu có cấm việc làm tốt đẹp, bớt đi cái xấu, phát huy cái tốt, làm cho trái đất tốt đẹp hơn lên. Như vậy, nếu chúng ta có kiến thức, nghề nghiệp tốt, có thể phát huy để đưa đất nước, con người tiến đến giàu sang, thịnh vượng thì điều đó rất cần được khuyến khích, tại sao phải bỏ hết không được dùng tới ? Mỗi người chúng ta đều cùng sống ở trong đời, hưởng dụng hạt gạo, ngọn rau do sức lao động của người khác thì tại sao không đóng góp để trả lại, viện lẽ là tu hành ? Trong khi nếu ta tu hành có Chứng Đắc thì chỉ có mình ta nhờ ?
Tu chỉ là SỬA CÁI TÂM, sửa những tính xấu, tính ác, được gọi là Chúng sanh, để bản thân ta và tất cả những người chung quanh đều được an lành, hạnh phúc. ‘TRẦN TỤC” mà người tu cần bỏ là những thói xấu, ích kỷ, kiêu mạn, tham lam, sân hận, si mê của bản thân, Đạo Phật đâu có dạy bỏ cả những đức tính tốt ?Bởi người tu còn phải học làm Lục Độ, Vạn Hạnh, học các Đức Từ, Bi, Hỉ, Xả, gọi là Tứ Vô lượng Tâm kia mà. Phật đâu có dạy ngồi khơi khơi để chờ chết về Niết Bàn ? Tại sao chúng ta có quyền bỏ mặc cho người đời mà chúng ta chê là “ngụp lặn trong bể khổ” lại phải cưu mang thêm cuộc sống của ta để ta nhàn thân tu hành mà quên là Nhân Quả không mất. Nợ ai thứ gì thì đều phải trả, không kiếp này thì cũng kiếp khác, Phật không có quyền miễn hay giảm cho ta. Mong rằng người muốn tu Phật nên xem lại để không làm sai rồi đổ thừa “xưa bày nay làm” mà quên rằng chính mình sẽ chịu Nhân Quả của việc mình làm.
Tóm lại, TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC là phương tiện của bậc Giác Ngộ nhằm khuyến khích chúng ta CẢI ÁC, HÀNH THIỆN, không thối tâm tu hành để cầu mong được về đó. Cõi đó do mỗi người tự thành lập trong Tâm, tự hoàn thành trong từng ngày bằng những việc thực hành những hạnh lành của Phật dạy, không phải của Phật A Di Đà để chúng ta phát nguyện rồi niệm danh hiệu Ngài để được rước về sau khi qua đời.
Mỗi khi điều phục được một Chúng Sinh là chúng ta gởi sang cõi đó một vị Phật. Mỗi việc làm tốt đẹp là ta đang xây dựng Phật Quốc, với
hàng rào, bao lơn, mành lưới, tầng cây cho Cõi Phật của ta. “Ao nước chứa Tám Công Đức” tượng trưng cho việc hành trì theo Bát
Chánh Đạo, và như lời Lục Tổ dạy : “Nếu làm Mười Điều Thiện thì cần gì phải nguyện vãng sanh ? Còn cưu mang điều ác thì Phật nào tới
rước mình ?” . Làm việc tốt thì kết quả đương nhiên sẽ đến. Muốn đến cõi đó thì tự hành trì để thành lập lấy. “Xả Phàm thì
thành Thánh”. Tất cả đều do Nhân Quả, không phải do Cầu Xin mà được. Nếu cả đời làm ác thì lúc cuối đời dù cho có rước ngàn vị
Thánh Tăng đến để Tụng Kinh vãng sanh chắc chắn cũng không có Phật nào đến rước ta về Tây Phương Cực Lạc. Cho nên Kinh tả cảnh Phật Quốc đầy
Châu báu trong nghĩa là mỗi chúng ta phải tự Xả bỏ những thói xấu đã ôm giữ từ vô lượng kiếp để được Giải Thoát. Khuyên chúng ta nên
phát nguyện để về Tây Phương Cực Lạc là cũng đồng thời dạy chúng ta phải hành để đến đó, không mê tín, Nhị Thừa, không cầu xin Phật khác
độ cho, mà chính mình phải “cứu độ” cho mình. Phật Quốc phải hiện tiền ngay khi còn sống, gọi là “Hữu Dư Y Niết Bàn”, không phải chờ chết
mới được về. Cho nên, khi đọc Kinh A Di Đà tưởng như là cõi nước của Phật A Di Đà rồi cố gắng niệm danh hiệu của Ngài để được Ngài rước.
Không ngờ cõi đó mỗi người phải tự thành lập bằng Nguyện, bằng Hạnh, bằng Thí Xả ngay tại kiếp sống vậy. *-./.
Tháng 2/2026
VVM.10.02.2026.
Tháng 2/2026
