D
u Lâm là một làng của tổng Hội Phụ, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, xứ Kinh Bắc mà thời Nguyễn đổi là tỉnh Bắc Ninh, Đến 1955, Du Lâm hợp với Mai Hiên lập thành xã Mai Lâm, từ năm 1961 cắt chuyển về Hà Nội.
Du Lâm là làng hình thành từ lâu, có địa vực riêng, cơ cấu tổ chức (hội đồng kỳ mục), lệ tục, đình chùa riêng, đền miếu riêng và theo sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX thì làng Du Lâm đến thế kỷ XVII, làng chia thành 2 làng (thôn) là Du Nội (ở trong đê) và Du Ngoại (ngoài đê). Sau, Du Nội lại chia thành Du Nội và Du Bi và là những làng độc lập (có tổ chức, lệ tục, đình chùa riêng) là: Du Nội, Du Ngoại và Du Bi.
Lịch sử và truyền thuyết dân gian đều cho rằng vùng đất này là quê ngoại của vua Lý Thái Tổ và Làng Du Lâm từ lâu đã được nhắc tới như một vùng quê giàu truyền thống văn hiến là nơi lưu giữ những dấu tích, giai thoại về các nhà khoa bảng.
Nguyễn Tư Giản vốn là hậu duệ của hoàng giáp Nguyễn Thực làm đến thái tể thời vua Lê Thế Tông. ̀Ông là chắt của Nguyễn Đường đời thứ 7 họ Nguyễn gốc Lý từ Vân Điềm dời ra Du Lâm.
Năm vua Chiêu Thống nhà Lê lên ngôi mới được một năm, Nguyễn Huệ nhà Tây Sơn ra bắc diệt chúa Trịnh. Vua Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc cầu viện. Trong nước, giặc giã nổi dậy khắp nơi.
Lúc đó, Nguyễn Đường, đang làm quan nhà Lê chức Hữu tham nghị ( tức Án sát). Làng Vân Điềm, có nhiều giặc cướp , không thể nào ở yên được, nên phải đem vợ con ra ở thôn nội làng Du Lâm. Tri Huyện Nguyễn Công Bồi, người làng địa phương, mời Nguyễn Đường ra ở năm 1787. Con của Nguyễn Đường là danh nhân Nguyễn Án, đồng tác giả với Phạm Đình Hổ của sách Tang thương Ngẩu Lục.Từ khi ấy đến bây gìờ, một số con cháu trở thành người làng Du Lâm.
Thời xưa ở nơi đây có rừng cói, về đời nhà Lý, các vua hay đi ngự du hay là đi tham quan đất nước. Từ thời vua Lý Thánh Tông trở đi, các vua hay đi chơi xa và cho xây nhiều hành cung ở những nơi có phong cảnh hữu tình.Các ly cung lại có những ngự uyển trồng cây cảnh và trồng hoa. Các vua nhà Lý quê ở Kinh bắc nên nơi đây có nhiều ly cung ngự uyển.
Xưa kia huyện Đông Ngàn có hai con sông nhỏ là sông Ngũ Huyện và sông Thiên Đức, hai con sông này đều có cửa ra sông Hồng ở làng Du Lâm, Thái Đường, Hội Phụ.
Du Lâm xưa là nơi vua nhà Lý thường xuyên đi lại và cũng là nơi nằm gần cửa sông Thiên Đức, Ngũ Huyện, nên rất phồn thịnh, buôn bán rất sầm uất nhưng Du Lâm không phải là thành trì nên không bị tàn phá mỗi khi có sự thay đổi triều chính.
Ngày nay, làng Cói còn nhiều vết tích các ngự câu (ngòi nước để thuyền ngự đi) là những ao đầm chạy dài để thuyền vua đi từ làng quê Cổ Pháp (nay là Đình bảng huyện Tiên Sơn ) đến các ly cung và ngự uyển ở bên bờ sông Đuống xưa là sông Thiên Đức .
Ngự uyển dựng trên bải hoang g̣ọi tên là bải cói , rất rộng trồng nhiều hoa lá qúy như rừng nên có tên là Hoa Lâm viên. Vua Lý dựng xong ly cung và ngự uyển rồi lấy dân đinh ở vùng Kinh bắc cho cứ trú quanh đây để trông nom vườn ngự uyển g̣ọi là viên đình. Sau thì thành xóm gọi là Hoa Lâm lục thôn bao quanh lấy ly cung và ngự uyển. Các thôn này có tên chữ là Thái Đường, Lộc Hà, Mai Hiên, Đông Trù, Cư Trinh, Du Lâm. Thái Đường có nhà thờ họ ngoại các vua Lý, Lộc Hà là xóm chia lộc cúng, Đông Trù là nhà bếp của vua...
Dân cư 6 thôn trở nên đông đúc, nên tách ra họp thành xã là Cối giang. Đời chúa Trịnh Tùng, Trịnh Cối làm phản, Cối giang đổi ra Hội Giang sau lại đổi làm Hội Phụ vì kiêng tên chúa Trịnh Giang.Dân trong vùng gọi quen tên nôm Cối giang là làng Cói.
Làng Du-Lâm ở trong địa phận làng Cói này và có tên là làng Cói Ao dài vì tại đây có một cái ao rất dài là vết cũ của cái ngự câu đời Lý,chạy sát lũy tre làng cho đến Lăng là trung tâm của ngự uyển Hoa Lâm đời Lý.
Sang đến đời nhà Trần thì ngự uyển đó biến thành nấm mồ chôn chung các họ hàng tôn thất nhà Lý và được gọi là Lý gia lăng (lăng nhà Lý). Lăng này dần dần hoang phế và biến thành rừng ở làng Cói nên gọi là rừng Cói, còn có tên khác là rừng nhà Lý hay Lý Gia Lâm.
Ngày nay,lăng này nằm trong khu Hoa Lâm viên. Khu lăng nhà Lý có 2 cổng chính và 1 cổng phụ, trước cổng có 2 con sấu đá, bệ thờ đá để tế trời đất có lát gạch Bát tràng. Phía trong có bức bình phong hình chữ nhật đắp 2 con rồng lá để vào nhau.
Làng Du Lâm thờ 3 vị thần là Phật Kim (tức Lý Chiêu Hoàng), vị vua cuối cùng của nhà Lý, Trần Cảnh (tức Trần Thái Tông),vị vua đầu tiên của nhà Trần và “Trần triều trung quân Đốc khánh đại vương” còn gọi là Đức Thái tử, Hoài Đức vương, từng theo Trần Hưng Đạo đánh giặc Nguyên - Mông, lập được nhiều chiến công. Hội lệ chính hàng năm tổ chức vào các ngày từ mồng 10 đến 15 tháng 3, mừng thắng trận dẹp tan giặc Nguyên – Mông.
Sang đầu thế kỹ 20, đê được lùi vào trong, do đó làng Du-Lâm, làng Thái Bình (xưa là Thái Đường, kỵ tên Ứng Đường thời Đồng Khánh ) với lăng nhà Lý, rừng nhà Lý đều trở thành đất ngoài đê. Làng Thái Bình theo lưu truyền dân gian xưa là Hoa Lâm viên- vườn của các vua nhà Lý; còn theo chính sử là nơi tế lễ của vương triều này. Dấu tích của khu vườn này còn có thể xác định qua một số địa danh và một số phế tích, nhiều địa danh liên quan đến vương triều Lý như Hoa Lâm Viên, Vườn Thượng Uyển, Lý Gia Lăng, Thái Đường.
Tại Hoa lâm có tấm bia Hoa lâm tam bảo thị khẳng định vùng đất này là vùng quê của ông và bà nội của vua Lý Công Uẩn , lăng miếu của cha mẹ vua đều ở đây. Hoa Lâm xưa kia có mộ Lý Công Uẩn và một số mộ các vua nhà Lý. Trần Thủ Độ chỉ cho phá nhà thờ gốc họ Lý ở Hoa Lâm, mà không dám phá hủy những lăng mộ người đã khuất. Từ khi nhà thờ gốc họ Lý ở Thái Đường Hoa Lâm bị nhà Trần phá hủy bởi họ Trần, thì con cháu họ Lý phải đổi sang họ Nguyễn để lánh nạn. Mặt khác Trần Thủ Độ buộc họ phải đổi sang họ Nguyễn để cho họ Lý mất gốc, trừ Lý Chiêu Hoàng là con dâu họ Trần thì vẫn được cùng chồng tôn thờ ở Thái Đường Hoa Lâm.
Trước năm 1945,rừng nhà Lý rất rộng, có nhiều cây cổ thụ trong đó có những cây gáo có gốc hàng mấy người ôm.Giữa rừng gáo là Lăng nhà Lý có cổng chính rộng 2 m và hai cổng phụ,trước cổng có hai con sấu đá, Một bệ thờ bằng gạch Bát tràng cao 1m50, dài 4m, rộng 3m,phía trong có một tấm hình chữ nhật có đắp hai con rồng chầu vào nhau.Trên bệ thờ chỉ có một bát hương to bằng đá xanh. Trước sân Lăng có một bia đá hình khối 4 mặt khắc chữ Hán.Xung quanh lăng có đắp nhiều đá đẹp và nhiều bụi tầm xuân mọc lan khắp nơi và nhiều cây cổ thụ như lim,gáo và cây khác.
Sau bệ thờ là bải Sập, nơi các tôn thất nhà Lý bị chôn sống vào năm 1232 có rất nhiều đá chồng lẫn đất.Trải qua thời gian, Bãi Sập chỉ còn lại trong trí nhớ của nhiều bậc cao niên, nói nó là vùng đất nằm giữa vị trí các thôn Đông Trù, Thái Đường (Thái Bình). Sự kiện này được Đại Việt Sử ký toàn thư ghi lại.
Thời xưa,rừng nhà Lý là nơi săn bắn chim muông của giới trẻ và là nơi cắm trại của các hướng đạo sinh trường Bưởi.Trẻ con thích vào rừng hái ổi, nhãn ,bứa để ăn. Ngày nay toàn bộ rừng và Lăng nhà Lý đã bị phá hủy không còn dấu tích.
Rừng nhà Lý bị phá hết các cây to lúc kháng chiến chống Pháp,tiếp đến Lăng nhà Lý ở trên một gò cao đã bị phá hủy để công trường thủy lợi lấy đá hàn đê Mai lâm vào năm 1957-1958.Trong làng Du Lâm cũ có nhiều gia đình thuộc 3 chi hậu duệ của văn hào Nguyễn Án, mỗi chi có nhà thờ riêng và nhà thờ đại tôn thờ Nguyễn Đường.
Sông Đuống đổi dòng nên vào thập kỷ 70 của thế kỷ XX, làng Du Bi bị lở xuống, cư dân phải di chuyển sang các làng Du Nội và Du Ngoại. Hiện nay (riêng thôn Du Bi đã bị chuyển nhập vào 2 làng Du Nội và Du Ngoại từ gần 30 năm nay do lũ lụt). Ngày nay là xã Mai- Lâm, Đông Anh, Hà-nội.
Năm 1980, sông Đuống bị sạt lở, làng cũ Du-Lâm phải di chuyển vào trong đê gần Quốc lộ 3, chùa Phúc Lâm được chuyển về Du Nội ở địa điểm hiện tại, đình cũ và Lăng không còn dấu tích.
Chùa Phúc Lâm Tự được thành lập vào năm 1224, thời nhà Lý, đến nay đã gần 800 năm, là nơi đang lưu giữ những di tích của lịch sử của đất Thăng Long xưa với minh chứng là các hiện vật kiến trúc, các di sản vật thể quý của Quốc gia. Chùa được coi là ngôi chùa do vua Lý Thái Tổ cho xây dựng khi lên ngôi Hoàng đế và dời đô từ Hoa Lư-Ninh Bình ra Thăng Long, đến nay chùa là nơi có hành lang nhà Lý đã được xác nhận.Đại Việt sử ký toàn thư có ghi lại: "Ngài (Lý Thái Tổ) bỏ ra 2 vạn quan tiền để xây dựng 8 ngôi chùa ở phủ Thiên Đức, là trú quán xưa kia của Ngài".
Chùa cũng là nơi lưu trữ bản gia phả của họ Nguyễn gốc Lý.
Từ những năm 2000, người dân Du Nội khi đào đất có tìm được một số cổ vật và được thẩm định có niên đại từ thời Lý. Nhiểu học giả coi Mai Lâm là quê mẹ của vua Lý Công Uẩn.
Làng cũ và những di tích cổ chỉ còn trong ký ức của các vị cao niên,xong với thế hệ ngày nay, làng Du lâm không khác gì một phường mới lập ở ven thành phố không còn gì di tích lịch sử.
Sau khi làng cũ chuyển đi, nhà máy gạch cầu Đuống mua đất ở đó làm gạch, họ đào đất thấy nhiểu mảnh bát đĩa , chum chỉnh rải rác khắp nơi. Cả một làng cũ nay trở thành đất bằng.Hàng năm mùa khô mưa lũ nước ngập tới vài ba tháng bồi thêm phù sa và bây giờ thì đất đó biến thành một bãi trồng hoa màu của hợp tác xã Du Nội.
Ngày nay, trong khu Hoa Lâm viên có chùa cổ Hoa Lâm Tam Bảo được xây dựng vào thế kỹ thứ IX-X đời nhà Lý và được trùng tu nhiều lần.
Du Lâm nổi danh là vùng đất học của Kinh Bắc xưa. Làng Du Bi có Trần Danh Đống , đỗ Tiến sĩ 1691. Văn bia khoa thi Tân Mùi (1691) do Cẩn sự lang Hàn lâm viện Hiệu thảo Dương Bật Trạc vâng sắc soạn có ghi: Trần Danh Đống sinh năm 1656 làm quan đến chức Lại khoa Cấp sự trung, để lại tiếng thơm trong sử sách. Làng Du Nội cũng nổi bật với ba người đỗ đại khoa: Nguyễn Công Hoàn, Nguyễn Tư Giản và Nguyễn Kham. Trong đó, Nguyễn Công Hoàn đỗ Tiến sĩ khoa thi năm Tân Sửu (1721).
Du Lâm còn là mảnh đất sản sinh nhiều bậc hiền tài, danh sĩ, những người đỗ đạt trong khoa cử và cả các trí thức hiện đại có nhiều cống hiến cho xã hội, đất nước. Trải qua bao biến thiên lịch sử, làng vẫn giữ nguyên cốt cách của một vùng quê hiếu học, nơi chữ nghĩa, đạo lý và khát vọng vươn lên bằng tri thức luôn được coi trọng.
Tên gọi Du Lâm vốn đã gắn liền với vùng Đông Ngàn - Kinh Bắc xưa, vùng đất nổi tiếng “địa linh nhân kiệt”. Từ thế kỷ XVII trở đi, tên tuổi các bậc danh sĩ Du Lâm đã xuất hiện trên chính trường và văn đàn, để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử . Cũng bởi vậy, khi nhắc đến Du Lâm, người ta thường gọi là đất học như một sự khẳng định và tôn vinh truyền thống hiếu học của vùng quê này.
Để nói Du Lâm là đất học, trước hết phải nhắc đến truyền thống khoa bảng. Trong các thế kỷ XVIII - XIX, làng đã có nhiều nho sĩ ttài ba, đỗ đạt cao, làm quan triều đình và trở thành những trí thức lớn của dân tộc. Song, điều làm nên bản sắc hiếu học của Du Lâm không chỉ nằm ở vài tên tuổi nổi danh mà ở chính nếp sống của cả cộng đồng.
Mỗi dòng họ, mỗi gia đình đều coi việc học là con đường tiến thân, là cách đổi thay vận mệnh. Ngay cả trong những giai đoạn binh đao loạn lạc hay khi đất nước trải qua biến động, người Du Lâm vẫn giữ trọn niềm tin vào chữ nghĩa, gửi gắm con em tiếp tục theo đuổi việc học hành.
Tinh thần hiếu học ấy còn gắn liền với phong tục thờ Khổng Tử và các bậc tiên hiền tại đình làng. Ngày xưa, những buổi bình văn, lớp học chữ Hán mở ngay tại nhà các nho sinh trở thành trường học chung của dân làng. Từ đó, lớp lớp thế hệ tiếp nối, tạo nên một truyền thống học hành bền bỉ, lan tỏa và trường tồn đến hôm nay.
Ở Du Lâm có họ Nguyễn vốn là hậu duệ của Hoàng giáp Nguyễn Thực làng Vân Điềm dời ra. Họ này đã có 6 đời tiến sỹ và được kể là một trong 54 gia đình xuất sằc về học vấn và hiển đạt trong suốt thời kỳ nhà Lê trung hưng 1427-1802 . Từ đó, năm thế hệ kế tiếp đều nối nghiệp cha ông trong học hành, khoa cử, tạo nên một truyền thống rực rỡ.
Người đầu tiên là Nguyễn Án. Sinh ra trong gia đình khoa bảng nhưng gặp cảnh sa sút và thời cuộc cuối Lê đầy biến loạn, con đường học hành của ông dang dở. Ban đầu, Nguyễn Án ở nhà dạy học. Đến năm Gia Long thứ tư (1805), ông được triệu ra làm Tri huyện Phù Dung (Hưng Yên) nhưng chẳng bao lâu đã cáo quan về ẩn dật ở quê.
Hai năm sau, vào năm Gia Long thứ sáu (1807), khi triều Nguyễn mở khoa thi Hương đầu tiên ở trấn Kinh Bắc, Nguyễn Án đi thi, đỗ Cống sinh (Cử nhân) và được bổ nhiệm làm Tri huyện Tiên Minh (Hải Phòng). Không chỉ là một nho sĩ, Nguyễn Án còn để lại dấu ấn trong văn học với tác phẩm “Tang thương ngẫu lục” (soạn cùng Phạm Đình Hổ), phản ánh sinh động đời sống văn hoá - xã hội Việt Nam buổi giao thời ba triều đại Lê - Trịnh - Tây Sơn.
Nguyễn Án cùng Phạm Đình Hổ và nữ sĩ Hồ Xuân Hương được hậu thế xưng tụng là Tam tài tử. Gương hiếu học của ông được nối tiếp bởi hai người con: Nguyễn Siêu Tông và Nguyễn Tri Hoàn, cùng đỗ Hương cống năm 1813 là thế hệ thứ hai thành đạt của dòng họ.
Đến thế hệ thứ ba, họ Nguyễn ở Du Lâm phát triễn thêm với ba người con trai của Nguyễn Tri Hoàn: Nguyễn văn Phú (Tư Giản), Nguyễn Ý (Đức Hiến) và Nguyễn Năng Ái góp phần đưa truyền thống khoa bảng của Du Lâm lên một tầm cao mới.
Trong số những nhà khoa bảng của làng Du Lâm, nổi bật nhất là Nguyễn Tư Giản (1823 - 1890) - vị quan trải gần 40 năm phụng sự triều Nguyễn, từng giữ nhiều chức vụ trọng yếu dưới 7 đời vua:Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh.
Nguyễn Văn Phú sau được vua phê đổi là Nguyễn Tư Giản, hiệu là Thạch Nông và Vân
Lộc , tự là Tuân Thúc. Cử nhân năm Quý Mão (1843).
Ông đỗ Đệ nhị giáp tiến sỹ năm Giáp Thìn niên hiệu Thiệu Trị (1844) lúc 23 tuổi.
Ông giữ các chức quan, như Hàn lâm viện Biên tu, Tri phủ Ninh Thuận, Cấp sự trung,
Tập hiền viện Thị độc, Kinh diên Khởi cư trú, Hàn lâm viện Thị giảng Học sĩ, Thị lang Bộ Lại,
Tham biện quân Hải An, Hồng lô Tự Khanh . Năm Tự Đức thứ 10 (1857), đang làm Thị lang ở Bộ Lại, Tư Giản được cử làm Hiệp lý đê chính sự vụ ở Bắc Kỳ để lo việc trị thủy ở Bắc Kỳ .
Nhà vua Tự Đức nghĩ rằng bổ dụng Nguyễn Tư Giản vào chức vụ ấy “để đem hết tài năng ra thi hành”.
Năm Tự Đức thứ 12 (1859), vua quan triều Nguyễn đang rất bận rộn đối phó với liên quân Pháp - Tây Ban Nha xâm lược, quan Đê chính Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản dâng sớ thiết tha xin vua Tự Đức không nên hòa với Tây dương. Khi đê Thiên Đức vỡ Nguyễn Tư Giản bi chuyển qua làm Tham biện quân vụ Hải Yên,dưới quyền Tổng thống quân vụ Trương Quốc Dụng, có lần quân nổi dậy kéo đến uy hiếp huyện Cẩm Giàng và tỉnh Hải Dương. Vì sự việc này, ông bị đình thần kết tội bất lực và nhà vua chấp thuận cho bãi chức.
Nguyễn Tư Giản lui về dạy học ở làng Đôn Thư , rồi ra Hà Nội dạy tại phố Hàng Bồ . Sau đó, ông lại được triệu vào Huế, giữ chức Tu soạn Viện Hàn lâm, sau làm Thị độc học sĩ tại lầu Kinh Diên.Năm 1868 Rồi được cử làm Phó sứ sang Trung Quốc.
Lúc về, ông cùng với các trí thức đương thời như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Đức Hậu, Bùi Viện, dâng sớ lên vua Tự Đức, đề xuất chương trình canh tân tự cường: mở rộng bang giao với phương Tây, đưa học sinh ra nước ngoài học kỹ nghệ mới… Tiếc rằng những để nghị đó không được chấp thuận.
Ông được giữ chức Quang lộc Tự khanh, Tả Thị lang Bộ Lại, Tham tri, Thượng
thư Bộ Lại, Phó tổng tài Quốc sử quán, Đại thần Cơ mật viện, sau bị giáng chức đổi làm Sơn
phòng sứ ở Chương Mỹ, rồi lại được phục chức hàm Hàn lâm viện Thị độc Học sĩ, Tổng đốc
Ninh - Thái và về hưu.
Không chỉ nổi danh là bậc hiền tài, Nguyễn Tư Giản còn truyền được nếp học cho nhiều thế hệ sau. Đời thứ tư của dòng họ Nguyễn Du Lâm có bốn người con của ông đỗ đạt: Nguyễn Kham (Tiến sĩ năm 1871), Nguyễn Cơ, Nguyễn Tấn Cảnh, Nguyễn Tốn Khải (lần lượt đỗ Cử nhân các năm 1876, 1886, 1900). Nguyễn Cẩn - con trai Nguyễn Năng Ái - cũng đỗ Cử nhân năm 1879. Sang đời thứ năm, Nguyễn Doãn Thạc tiếp nối truyền thống, đỗ Cử nhân năm 1897.
Ngoài những vị đỗ đại khoa, dòng họ Nguyễn Du Lâm còn có nhiều người đỗ Tú tài, tạo nên một truyền thống khoa bảng hiếm có ở Bắc Bộ thời Nguyễn. Bước sang thời cận - hiện đại, mạch nguồn chữ nghĩa ấy vẫn không hề gián đoạn. Nổi bật trong số đó có Nguyễn Triệu Luật là nhà văn với nhiều tiểu thuyết lịch sử giá trị như: Bà Chúa Chè, Loạn Kiêu binh, Ngược đường Trường Thi, Chúa Trịnh Khải, Thiếp chàng đôi ngả… Trong thế kỷ XX, làng Du Lâm còn sản sinh nhiều trí thức, giáo viên, cán bộ cách mạng. Họ chính là những người tiếp nối truyền thống hiếu học, mang tri thức để phụng sự xã hội,dân chúng.
Ngày nay, truyền thống hiếu học và trí thức của dòng họ được nối tiếp như họa sĩ Nguyễn Thủy Tuân và con cháu nổi tiếng ở Hà Nội. Họa sĩ Nguyễn Thu Thủy đỗ Tiến sĩ Quản trị văn hoá ở Hà nội.
Bác sĩ Nguyễn Tăng Nguyên đã từng làm bộ trưởng trong chính phủ Việt Nam Cộng Hoà thời tỗng thống Ngô Đình Diệm. Ông là một nhân sĩ trong nhóm Caravelle đã từng lên tiếng chống đối chế độ nhà Ngô. Ở hải ngoại, có nhiều hậu duệ đã đạt được danh hiệu tiến sĩ là học vị cao nhất của ngành đại học Âu Mỹ như các tiến sĩ đời thứ 13 là Hòa Hợp ở Úc,TS Nguyễn Hoạt đạt danh hiệu kỹ sư Quốc tế và TS Thiện Pháp giáo sư đại học ở Pháp, được vinh danh xếp vào bảng TOP 2% thế giới của trường Stanford.
Về võ nghiệp, thời Việt Nam Cộng Hoà có đại tá Tăng Nguyên, chỉ huy trưởng quân y, trung tá Thái Lai, thư ký toà đại sứ ở Bỉ, trung tá Tư Nha nhẩy dù. Ở Pháp có thiếu tá hải quân Tiến được tuyên dương Ordre National mérite.
Du Lâm không chỉ được biết đến với những bậc hiền tài khoa bảng, mà còn nổi tiếng bởi nếp sống văn hóa làng đậm đà truyền thống. Hằng năm, vào tháng Ba âm lịch, lễ hội làng được tổ chức long trọng với nghi thức rước nước từ dòng sông, rước kiệu quanh làng, tế lễ ở đình. Tiếng trống, tiếng chiêng rộn rã hòa cùng dòng người nô nức, tạo nên bầu không khí hội làng tưng bừng, nơi cộng đồng thêm gắn kết và cũng là dịp để tưởng nhớ công đức tổ tiên, tiền nhân.
Các trò chơi dân gian được duy trì, góp phần làm lễ hội thêm sinh động, đồng thời trở thành môi trường giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, giúp họ hiểu sâu hơn về cội nguồn.
Đình, chùa, miếu mạo ở Du Lâm từng lưu giữ nhiều hoành phi, câu đối ca ngợi sự hiếu học, khuyến khích con em rèn chí. Không ít gia đình trong làng vẫn giữ được những bức đại tự quý như “Hiếu học”, “Trung hiếu”, “Gia phong” - những giá trị tinh thần đã ăn sâu vào tâm thức cộng đồng.
Ngày nay, Du Lâm thuộc xã Đông Anh mới - một vùng đất đang chịu ảnh hưởng mạnh mẻ của đô thị hóa. Dẫu vậy, truyền thống của vùng đất học lâu đời vẫn được trân trọng và phát huy. Các thôn làng đều duy trì phong trào khuyến học, lập quỹ khuyến tài, tổ chức lễ tuyên dương học sinh giỏi hằng năm. Không ít gia đình nơi đây có hai, ba thế hệ cùng theo nghề giáo, y bác sĩ, kỹ sư - chứng minh sống động cho câu Hiền tài là nguyên khí quốc gia.
Tên gọi đất học Du Lâm không phải là ngẫu nhiên, mà được ung đúc từ hàng trăm năm qua, từ những thế hệ trọng chữ nghĩa, từ dấu ấn của các bậc khoa bảng, danh sĩ. Truyền thống ấy vẫn đang tiếp nối trong bối cảnh hiện đại, khi lớp trẻ Du Lâm liên tục đạt thành tích, khẳng định vị thế tri thức của quê hương.
Trong lịch sử Hà Nội, Du Lâm là một viên gạch góp phần dựng xây nền văn hiến bằng sức mạnh văn hóa và truyền thống hiếu học. Giữ gìn và phát huy tinh hoa của vùng đất học này cũng là trách nhiệm chung trong việc bảo tồn bản sắc văn hiến nghìn năm của Thăng Long - Hà Nội. *-./.
2026
2026
