(Kiến Thức Hội Họa)
TÀI HOA MỆNH BẠC I
XI 1.
Mùa
hè năm 1880, nhận thức rằng không thể làm gì
được hơn cho kẻ khác, Van Gogh bất thần trở
về nhà cha mẹ ở Etten như chẳng hề có gì xảy ra
trước đó.
Trong
gia đình, ông tỏ ra câm lặng hẳn. Và rồi sau
một thời gian ngắn, ông lại tìm về vùng hầm mỏ,
lang thang trên những con đường nhỏ với đôi bàn
chân rướm máu, ngủ ngoài trời, ăn bánh mì vụn
mà sống. Lúc này, sự tuyệt vọng trong lòng Van Gogh
đã lên đến cao độ.
Thế
rồi, đột nhiên ông muốn trở thành họa sĩ nên
đã dành tất cả thì giờ vào việc vẽ tranh. Trong
một thư gửi Théo lúc ấy đang làm việc tại công ty Goupil
& Cie ở Paris, Van Gogh viết rằng “chỉ
muốn chui ra khỏi cái nhà giam tối tăm buồn thảm này.”
Tuy không bao giờ mơ đến những tác phẩm lớn, nhưng thế
giới của những họa sĩ vẫn là nơi chốn thần tiên đối
với kẻ vô gia cư ở Borinage như ông.
Một
ngày kia, Van Gogh bất thần đi chân không đến tỉnh
Courrières (thuộc vùng Pas-de-Calais,
miền bắc nước Pháp,
sát biên giới Bỉ) để làm quen với Jules Breton, họa sĩ
và cũng là nhà văn Pháp mà từ lâu rồi ông rất ngưỡng
mộ.
Từ
lâu ông vẫn ao ước giao thiệp với các nghệ
sĩ vì tin rằng, sau Thượng
Đế, nghệ sĩ là những người có
khả năng làm đẹp cuộc đời hơn tất cả. Ông
bèn đi bộ suốt nhiều ngày, ban đêm ngủ lại giữa trời,
đổi các bức vẽ bằng than hay bút chì để nhận lấy
bánh mì từ các người nông dân làm vật lót dạ. Và ông
cảm nghe sảng khoái vì không khí nước Pháp, sáng sủa
trong sáng hẳn so với vùng Borinage tối tăm buồn thảm.
Tuy
nhiên khi đến Courrières,
đứng trước xưởng vẽ đồ sộ
của Breton, Van Gogh nhận ra nó
khác hẳn cái ý tưởng khiêm nhường mà
những bức tranh Breton đã gợi lên trong trí
não ông từ trước. Ông chẳng dám rung chuông và lại
đi bộ trở về Borinage.
Mùa
thu 1880, với sự trợ giúp tài chánh của gia đình và
Théo, Những
họa sĩ như Fildes, Frank Holl và Hubert Herkomer --mà
từ trước Van Gogh đã từng được nhìn thấy những tác
phẩm mô tả cảnh nghèo khó ở đô thị của họ-- trở
nên những người hướng dẫn mới cho ông. Ước vọng đầu
tiên trên con đường hội họa bị đong đưa giữa nỗi
muốn trở thành “họa sĩ theo cái cách của
ông dượng Anton Mauve” với một “họa sĩ chuyên
trình bày các bản vẽ cho các tờ tạp chí.”
Dù
rằng vẫn chăm chú theo từng bước chỉ dẫn trong
những quyển sách dạy về hội họa mà Théo
đã gửi, nhưng khi đến các phần tỷ lệ cân xứng
về chân tay con người; hoặc độ đậm nhạt của đường
nét; hay nghệ thuật tạo mô hình, thì Van Gogh lại bị ảnh
hưởng rõ ràng của lối vẽ Mauve và bởi sự tương phản
mạnh mẽ trắng đen trong các bức minh họa mà ông rất
ngưỡng mộ.
Ông
vẫn làm việc không dứt trên các bức họa và tìm thấy
sự giải thoát cho đầu óc trước những khó khăn của
cuộc sống. Nhưng những món phí tổn ở Bruxelles thì cao
quá.
Tháng
4/1881, Van Gogh dọn trở về
nhà cha mẹ lần nữa và
lưu lại đó 8 tháng. Lúc bấy giờ
ông đã 28 tuổi.
2.
Kể
từ sau lời từ chối tình yêu của Ursula Loyer, trong
5 năm đắm chìm theo nỗi say mê tôn giáo, Van Gogh không còn
nghĩ gì đến chuyện trai gái.
Tháng
4/1881, sau 6 tháng học tập về hội họa ở Bruxelles,
Van Gogh trở lại nhà cha mẹ ở Etten. Tại đây, ông gặp
cô Kee Vos,
Đây
là lần thứ hai Van Gogh thất vọng vì tình, nhưng
lần này tàn bạo hơn lần trước. Ông tỏ ra cực kỳ
đau khổ. Đồng thời bản chất nghệ sĩ trong người đột
nhiên sống dậy. Van Gogh chụp bắt nỗi thống khổ bằng
đôi tay sáng tạo, đắm mình vào các bức tranh để vùi
chôn đau khổ và tìm quên trong nghệ thuật. Ông vẽ mọi
thứ, vẽ cánh đồng Etten, những túp lều nhỏ trong làng,
vẽ những cửa hàng đóng móng ngựa, các người thợ đóng
giày... Với đường nét giản dị, cây bút chì thợ mộc
trong tay đã trải dài tâm tư họa sĩ qua các bức vẽ.
Rõ ràng những tác phẩm thời kỳ
này phô bày được tất cả
những điều Van Gogh khó thể
diễn tả bằng lời nói bình thường.
Khi
kiếm đủ tiền lộ phí đi Amsterdam thăm cô
em họ, Van Gogh mới cảm nghe phấn chấn chút ít. Tuy
nhiên, người chú –cha cô Kee—ngăn cấm không
cho Van Gogh gặp con gái ông. Van Gogh đáp trả ông
bằng những lời nói kịch liệt. Người chú mất hẳn cả
thái độ nghiêm trang của một vị mục sư, bảo thẳng
rằng con gái ông không hề nghĩ ngợi chút nào tới Van Gogh.
Van Gogh bèn giơ một cánh tay ra trên ngọn nến đang cháy
và cầu xin ông chú: “Xin hãy cho con gặp nàng chỉ trong
khoảnh khắc con còn có thể
để cánh tay này trên ngọn lửa.”
Người
chú cảm động, thổi tắt ngọn nến và cho
phép Van Gogh gặp cô em họ.
Tháng
12/1881, Van Gogh từ Etten đi đến La Haye (Hòa Lan)
và lưu lại đây hai năm.
XII 1.
Thời
kỳ hai năm (1881-1883) ở La Haye đã đánh dấu một sự
chuyển hướng lớn cho Van Gogh. Có thể nói rằng ông đang
đi đúng đường nghệ thuật và một năng lực
đặc biệt đã thấy xuất hiện.
Từ
tháng 11/1881 đến tháng 3/1882, dưới sự chỉ dẫn và giúp
đỡ --cho dùng chung xưởng vẽ-- của Anton Mauve, những bức
sơn dầu đầu tiên đã thấy hoàn toàn mới lạ.
Thời
gian này, ông cũng có dịp giao thiệp với nhiều họa
sĩ, cũng như với H.C. Tersteeg lúc ấy đang là
giám đốc chi nhánh Goupil & Cie ở La Haye.
Nhưng do bởi
cá tính ưa thẳng thắn phê bình những điều trái tai gai
mắt mà tình cảm giữa ông và đám họ sớm đi đến tan
vỡ. Điều này cũng xảy ra với Anton Mauve, con người thường
sầu não nên khó lòng chịu đựng lâu sự hay cáu giận
của Van Gogh. Cuối cùng, hai người nghệ sĩ đâm ra bất
hòa. [Luôn
luôn Van Gogh vẫn không quên điều rằng chính Mauve đã đóng
một vai trò quan trọng trong sự giúp đỡ ông trở nên một
họa sĩ chuyên nghiệp.
Điều biết ơn này đã được bày
tỏ rõ ràng trong bức sơn dầu “Cây Lê
Màu Hồng Đang Trổ Bông (Để Tưởng Nhớ
Mauve)” (73x59.5cm) vẽ ra vào tháng 8/1888 về sau.]
2.
Trong
bữa ăn chung tại quán cơm xã hội, Van Gogh gặp
một người đàn bà mỉm nụ cười thân thiện
với ông. Từ đó họ trở thành bạn với
nhau. Nhan sắc nàng trông đã tàn phai, nhưng trên sự tàn
phai này, Van Gogh nhìn ra được nét quyến rũ theo “cái
vẻ của Chardin hay Jan Steen trong bộ dáng kỳ lạ của người
đàn bà ấy” như ông đã viết kể với Théo. Hai bàn
tay nàng trông giống như tay người thợ nhiều hơn là của
một phụ nữ thanh lịch.
Thật
sự, nàng chẳng phải người thợ, mà lại kiếm sống
bằng nghề làm điếm, có đứa con nhỏ
năm tuổi và một cái thai hoang trong bụng. Nàng tỏ
ra rất tốt với Van Gogh và cũng rất được
ông quý trọng.
Sự
thực, nàng đã chìm quá sâu trong cái hố sa đọa;
nhưng dưới đôi mắt của một nghệ sĩ, khuôn mặt rỗ
hoa đầy vẻ lo âu của Sien gợi nhắc cho Van Gogh hình ảnh
cánh đồng đã được trồng trọt, cày xới. Trong lá thư
gửi người bạn họa sĩ Van Rappard, Van Gogh đã viết về
người đàn bà này như sau: “Chưa bao giờ tôi
được dịp biểu lộ tình thương nhiều như
bây giờ đối với người đàn bà
tàn phai ấy. Thời gian trôi qua không
để lại gì trên nàng ngoài sự
đau khổ và nghèo khó. Tuy nhiên, với tôi, nàng vẫn còn
đẹp. Nếu một mảnh đất chưa từng
được cày xới thì liệu có
cây cỏ nào mọc nổi trên đó không? Nàng, mảnh
đất đã được tận cùng cầy xới, nàng
đem được cho tôi cái điều mà tôi hằng tìm kiếm, hơn
tất cả những con người bình thường
đạo hạnh nhất trên thế gian.”
Một
lần nữa, tâm hồn cao cả của Van Gogh lại có
dịp thể hiện tinh thần bao la bác ái của Thiên Chúa.
Lòng trắc ẩn trong ông chiến thắng tất cả mọi dư luận
trở ngại chung quanh đời sống bình thường. Người đàn
bà đang đau yếu và bị buộc phải trải qua một cuộc
mổ xẻ để đứa con trong bụng chào đời khỏe mạnh.
Van Gogh bèn ra tay cứu độ, vay nợ để trả món nợ bệnh
viện của Sien, đem nàng đến một bác sĩ danh tiếng ở
Leyden để mổ xẻ, và tự tay ông chăm sóc nàng cho đến
khi bình phục.
Sien
không có được những lời nói nhẹ nhàng như
cô em họ Kee Vos. Nàng là mẫu người thô
lỗ và hung dữ. (Nhưng làm sao nàng có thể trở
nên tốt khi mà cuộc đời chỉ để lại trên nàng những
dấu hằn xấu?) Bởi vì Van Gogh tốt với nàng nên nàng
cũng đáp trả lại ông bằng lòng tốt, đến với ông như
một con vật thuần tánh. Sự thô lỗ của nàng rất hợp
với sự thô lỗ của Van Gogh. Vẻ ảm đạm âm u trên dáng
dấp Van Gogh không làm cho nàng sợ hãi. Trong mối quan hệ
với Sien, Van Gogh không có một chút ảo tưởng nào. Mọi
sự, ông hình dung như cuộc sống phải đối diện trước
mắt. Sien học cách ngồi làm mẫu cho Van Gogh dù rằng sức
khỏe yếu ớt. Nàng giúp đỡ tận tình những gì có thể,
và trở thành nguồn hứng cảm nghệ thuật của ông.
Sien
không có được sắc đẹp thần bí để tặng
cho ông, nhưng dưới cái nhìn bác
ái của Van Gogh, sự đau khổ
về tinh thần lẫn vật chất nàng từng cưu mang
đã đủ đền bù cho họa sĩ
những thiếu sót hơn bất cứ
tác phẩm văn chương hay lịch sử
nào khác. Thân hình gầy nhom của nàng đã thể hiện
trên nhiều bức bằng bút chì hay màu nước của Van Gogh.
Nổi
bật nhất là bức “Sorrow”, vẽ bằng màu
nước, diễn tả một người đàn bà trần truồng với
nét bán diện, bộ ngực tàn tạ, đang ngồi gục đầu,
mặt khuất vào giữa hai cánh tay vòng chéo lại, dáng vẻ
thật cô đơn buồn bã. Bên dưới bức vẽ, Van Gogh đã
chua thêm câu viết của Jules Michelet (nhà văn Pháp, 1798-1874):
“Làm sao trên cõi đời này lại có một người
đàn bà bị bỏ rơi bơ vơ dường
ấy?” (“Comment se fait-il qu’il y ait sur la terre une femme
seule délaisée?”).
Bức
tranh rất đơn giản không theo quy tắc nào với những
đường nét thật giới hạn, nhưng
ẩn khuất trong đó là cả
một “cái hồn” bi thương cực
độ, nói lên rõ rệt không những sự
cơ cực tàn tạ của Sien, mà
còn cả sự thiếu vắng một mái
ấm tình thương trong cảm nghĩ
về cuộc đời riêng ông.
Kể
từ dạo quen biết người đàn bà giang hồ
ấy, Van Gogh thỉnh thoảng vẫn lui tới các xóm điếm,
không phải để tìm vui mà là để chia xẻ đau khổ với
các cô gái sống cuộc đời bán trôn nuôi miệng. Ông
cũng vẽ điên cuồng. Các người nghèo khổ ngồi làm mẫu
cho ông. Các cô gái giang hồ và các người lao
động biến thành anh chị em của Van Gogh.
Tuy
vậy, Van Gogh không muốn đem Sien về giới thiệu với gia
đình hay bất cứ người quen nào trong cái xã hội ông đang
hiện hữu. Ông tự xa lánh, sống với Sien và hai đứa con
nhỏ của nàng như trong một gia đình riêng biệt và không
mong ước gì hơn là trở thành một người lao động có
cuộc đời bình thường an ổn. Nhưng, trong một thành phố
mà con người phải sống theo những cách thức nhất định
thì hành động bác ái thái quá đến độ khó hiểu của
Van Gogh lại không thể được chấp nhận. Những người
quen bắt đầu tránh mặt mỗi khi gặp ông đâu đó trên
đường phố. Ông phải chiến đấu với xã hội bằng ý
nghĩ và nghị lực của riêng ông.
Thời
gian chung sống với Sien và đứa con gái 5 tuổi của
nàng trong căn nhà nhỏ ở số 138 Schenkweg
(1/1882), bạn bè đều từ bỏ Van Gogh. Chỉ còn Théo
là người vẫn đứng về phía ông như vẫn thường đứng.
Van Gogh viết kể cho em rõ mọi sự, tâm tình về cái ước
muốn tạo dựng một mái ấm riêng, cho dù người vợ cùng
tạo dựng có là một cô gái điếm.
Mùa
hè 1882, Van Gogh và cái gia đình mới này dọn sang
một căn chung cư rộng hơn bên cạnh (sau khi Sien hạ sanh
đứa thứ nhì), số 136 Schenkweg, La Haye. Bấy giờ, ông đã
có riêng một phòng vẽ. Ông viết cho Théo: “Thỉnh thoảng
trong anh vẫn có một ước muốn ghê gớm là
được vẽ trở lại. Vì thế mà anh
đã cố thu xếp cho mình một vị trí riêng.
Tháng
8/1882, ông sáng tác một loạt tranh sơn dầu, 14 bức
trong số này vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay.
Trong
khi nghệ thuật đang phát triển hứa hẹn thì
cuộc sống riêng lại báo trước cho thấy một sự
lụi tàn ở tương lai.
Sự đắm mình theo nghệ
thuật đã làm lớn dậy sự tự tin trong việc
có thể kiếm ra tiền từ những bức họa,
nên Van Gogh đã không dè xẻn số lợi tức hạn hẹp của
mình trong những tiêu xài cho Sien và đám trẻ. Vì vậy tài
chánh đâm trở thành kiệt quệ.
3.
Lúc
bấy giờ, trong gia đình Van Gogh có tới bốn miệng
ăn. Với nhiệt tình quen thuộc, ông đã thành công trong
việc khuyên nhủ Sien bỏ nghề làm điếm, nhưng cái
hậu quả về tài chánh lại cũng là điều làm khổ tâm
ông không ít.
Sự
hết lòng theo nghệ thuật sớm bị đẩy lùi về
phía sau: “Trong 14 ngày, anh
đã vẽ từ sáng tới tối mịt, và nếu cứ như thế,
điều đó sẽ trở thành là sự tiêu pha quá
đắt đỏ khi nào anh vẫn còn chưa bán
được tranh.”
Trong
nỗi hoan hỉ trước những khám phá mới về
nghệ thuật và một mái gia đình vừa tạo dựng,
Van Gogh đã tự dấn mình vào một hoàn cảnh nghịch
lý: ông càng làm việc bao nhiêu thì tiền bạc lại
càng hao tốn bấy nhiêu.
“Anh
không thể tằn tiện hơn bây giờ nữa; bọn anh
đã cắt bỏ bất cứ cái gì có thể cắt, nhưng luôn luôn
đều có việc để cần đến.
Gia
đình Van Gogh dần dần đi vào sự đói. Dẫu số tiền tiện
tặn đã có hiệu lực trên phẩm chất của tác phẩm, nhưng
nỗi hy vọng trong việc kiếm tiền như một nghề nghiệp
của một nghệ sĩ thì bắt đầu lùi xa.
Ðó
là cái vòng lẩn quẩn giữa đam mê nghệ thuật và sự
đối diện với nghèo khổ. Ông giải thích với Théo:
“Những phí tổn rõ ràng đã
đem lại hiệu quả tốt cho các bức tranh, nhưng anh
đang lo sợ không biết làm sao
để tiếp tục vẽ. Anh có một thể chất vừa
đủ mạnh để chịu đựng được những cơn
đói nếu như nó đừng kéo dài lâu quá. Giá
gì nó cứ lưng chừng như thế!
Ðàng này, hoặc là làm việc
ít hơn, hoặc là đi đến sự
đói. Và bất cứ khi nào có
thể, anh đều chọn cách thứ
nhất. Nhưng bây giờ sức khỏe anh
đã cạn kiệt rồi.”
Mặt
khác, giữa Sien và Van Gogh đã thấy có những dấu
hiệu cách biệt.
Sien không còn là người đàn bà mà sự
tuyệt vọng đau khổ làm dậy lên nỗi xót thương cao độ
trong lòng Van Gogh như thuở ban sơ nữa. Nàng đã thay đổi,
ít ra trên cách nhìn bình thường nào đó. Và chính nàng
cũng bắt đầu nhận ra Van Gogh giống như một con người
kỳ dị thuộc vào một thế giới “khác” với cái thế
giới nàng quen thuộc. Mỗi khi có ai đến thăm Van Gogh, nàng
lánh mặt bằng cách bỏ đi khỏi nhà. Mẹ của Sien lại
bắt đầu mè nheo con gái. Có lẽ Sien không muốn sống trở
lại cái đời làm điếm dơ bẩn ấy nhưng sâu thẳm trong
lòng, nàng vẫn biết rằng một nhà thổ thích hợp với
nàng hơn là cái phòng tranh chật hẹp của họa sĩ, nơi
mà những lời nói buông thả không thể được tự do phát
biểu. Trong mái nhà này không có đủ thức ăn và hạnh
phúc cho những con người đang hiện hữu.
Là
một người rất có từ tâm, Van Gogh tự mang
trách nhiệm trên những người ông yêu thương.
Nhưng nỗi
ao ước mang an bình và bảo đảm cho sự sống
của họ cũng là điều quá lớn lao khó
nhọc. Van Gogh nghĩ đến điều đưa Sien và
hai con nhỏ của nàng về vùng quê sống vì chi phí
ở đó ít tốn kém hơn trong thành phố. Nàng không phản
đối, nhưng cũng không tỏ ra sốt sắng chấp nhận. Khi
Van Gogh vừa vắng mặt khỏi nhà là nàng tìm ngay đến bà
chủ nhà thổ và lao trở về nghề cũ. Nàng uống rượu
và hút xì gà trong khi Van Gogh sắp sửa phải đói. Tất
nhiên Van Gogh cực kỳ đau khổ vì cái viễn ảnh về một
tổ ấm gia đình đã không thực sự đến như ông hằng
ước mơ.
Cuối
hè 1882, Théo, người duy nhất giúp đỡ họ, đến
thăm anh và đã kinh hoảng bởi những điều kiện sống
quá ư kham khổ của họ. Một cách thận trọng, Théo cố
gắng nhắc nhủ anh nhận lấy cái quyết định không thể
tránh: một cuộc chia ly sẽ
rõ ràng là cơ may duy nhất để Van Gogh tìm về
con đường nghệ thuật. Phần Van Gogh cũng đã nhìn ra
điều đó. Sống với cái hậu quả của sự quyết định
như trên thì không phải dễ dàng trong những tháng năm trước
mặt. Nhưng ông không còn chọn lựa nào khác. Từ
nay trở đi, tất cả những xúc cảm mãnh liệt chỉ
được gom tụ vào một điểm duy nhất: Nghệ
Thuật. Trong các bức tranh, Van Gogh nắm bắt toàn
thể cuộc đời một cách chắc chắn và dễ dàng bao nhiêu
thì ngoài thực tế, cuộc đời ấy càng lẩn tránh ông
một cách tàn nhẫn bấy nhiêu.
Trước
khi vĩnh viễn chia tay nhau, Van Gogh đã nói với Sien: “Anh
không mong em hoàn toàn chân thật, nhưng hãy chân thật trong
tất cả những cố gắng của em. Từ
đây, dù em có là một người
đàn bà nghèo khổ hay là một cô
điếm đầy tội lỗi, bao giờ
em còn sử dụng đúng đắn tình mẹ
trên các con em, anh vẫn nghĩ
về em như một người tốt. Phần anh sẽ
làm việc rất nhiều. Và anh mong em hãy vì các con em mà
làm việc…”>
Tháng
12/1882, người đàn bà tên Sien biến mất hẳn khỏi
cuộc đời Van Gogh. XIII 1.
Sau
kinh nghiệm đau khổ này, thật khó cho Van Gogh
trở lại bình thường trên những liên quan mật thiết
với nghệ thuật.
Tháng
9/1883, ông lại lang thang đến Drenthe, một vùng nghèo
nàn hẻo lánh về hướng đông bắc Hòa Lan với tâm trạng
của một con thú bị thương tìm vào rừng trốn lánh. Tình
trạng sống kham khổ hiu hắt của số cư dân ít ỏi chỉ
chuyên nghề đào than bùn ở đây đã gợi mối thương tâm
trong lòng Van Gogh. Ông sáng tác một loạt các bức vẽ về
cảnh sống này.
Cũng
tại tỉnh Drenth, lần đầu tiên Van Gogh cảm nhận
được cái chứng điên trong chính con người mình.
Cây thập tự giá mà ông đã nhận lãnh theo ý muốn riêng
(lần đầu ở Borinage và lần sau với người đàn bà say
sưa đau khổ) đã đánh gục ông đến gần như khó lòng
trỗi dậy. Trên cái nghĩa của tôn giáo, có lẽ Van Gogh
đã đạt tới đỉnh cao tuyệt diệu. Nhưng trên cái nhìn
bình thường của nhân loại và luôn cả giới tu sĩ thì
đó là điều khó thể vượt qua.
Mùa
đông đến, trời mau tối, vào tuổi 30, Van Gogh lại cảm
nghe tuyệt vọng buồn bã. Ông lê lết trở
về nhà cha mẹ với tâm trạng sầu thảm, giống
như cậu con trai hoang đàng đã hoàn toàn tiêu phí
cả kho tàng trái tim trong những cuộc trác táng của
lòng từ thiện, hay những cơn yến tiệc say sưa của sự
hy sinh.
Ông
Théodorus Van Gogh lúc bấy giờ là mục sư giảng đạo tại
Nuenen, một làng nhỏ trong vùng miền đông của tỉnh North
Brabant, Hòa Lan. Sự hiện diện của Van Gogh, một kẻ không
ưa giao thiệp cởi mở, đã tạo nên trạng thái căng thẳng
cho tất cả những người trong gia đình, đồng thời trở
thành mối khó khăn lớn cho chính họa sĩ. Nỗi tôn trọng
mà Van Gogh dành cho cha đã bị vơi đi và sự liên hệ tinh
thần với mẹ thì mong manh hơn bao giờ hết. Người em gái
tên Wilhelmien đã mô tả về Van Gogh thời kỳ này như sau:
“Bề ngoài luôn luôn xốc xếch trong cái
áo choàng kiểu nông dân, tóc cắt ngắn rối bù, râu mọc
lởm chởm, khuôn mặt màu nâu,
đôi mắt thường xuyên đỏ rực lên
ánh khích động mỗi khi ngó vào vật gì
dưới ánh sáng mặt trời, cái nón rộng vành sụp xuống
dưới trán…”
Théo
cung cấp tiền bạc trả cho cha mẹ phần ăn
ở của Van Gogh; và để cứu vãn sự kiêu
hãnh của anh, Théo đưa ra một
“giao kèo làm việc” rằng sự chi trả này chỉ là một
lối đầu tư trên những bức tranh của Van Gogh sẽ
bán ra ở tương lai.
Phòng
vẽ của Van Gogh thời gian này là trong một căn
phòng giặt giũ nối liền với khu vườn.
Ở
Nuenen, Van Gogh lại chứng tỏ nên một họa sĩ
đầy tài năng. Những gì sáng tạo trước kia thật ra
vẫn chỉ mang giá trị tỉnh lẻ, không xây dựng được
cho họa sĩ một tên tuổi vĩnh cửu. Chính thời gian
ở Nuenen đã đánh dấu giống như
giai đoạn đầu tiên trong sự
nghiệp hội họa vĩ đại của
ông. Tại đây, Van Gogh dành tất cả thì giờ cho việc
vẽ tranh. Những bức còn lưu lại của thời kỳ Nuenen,
đa số là những bức vẽ phong cảnh chung quanh căn nhà của
gia đình Van Gogh, chân dung các nông dân cực khổ, các người
lao động, các phụ nữ lam lũ, bầu trời thăm thẳm, cánh
đồng rộng lớn, những ngôi nhà buồn tẻ, con đường
làng hiu quạnh mang bối cảnh quê hương Hòa Lan và một
loạt những mái nhà tranh của các người thợ dệt; ví
dụ như trong bức “Người Dệt Vải” (sơn dầu,
1884, 62.5x84.4cm), cái máy dệt bằng khung gỗ chính đã là
một di vật còn lưu lại của thời tiền công nghiệp.
Van
Gogh đã từng đọc và ưa thích Emile Zola. Tình yêu dành
cho đất đai đồng nội đã sẵn có trong ông, càng trở
nên mạnh mẽ hơn từ những tác phẩm của nhà văn Pháp
ấy. Lúc
bấy giờ, đối với Van Gogh, họa sĩ Pháp Honoré
Daumier (1808-1879) có một tầm quan trọng rất lớn do
bởi màu sắc đen tối và cũng bởi yếu tố nhân bản,
xã hội phô bày rõ trong các tác phẩm.
Màu
sắc của Van Gogh trong các bức vẽ
thời kỳ ở Nuenen cũng thường
ảm đạm, buồn bã, nhưng cách kết cấu nội dung
đã đạt được một giá
trị rất cao.
Điển
hình nhất là bức “Những Người
Ðang Ăn Khoai” (sơn dầu, 82x114cm) rõ ràng cho
thấy một sự quan sát rất kỹ những sinh hoạt của giới
nông dân.
Bức tranh có màu đậm được vẽ ra trong tháng
4-5/1885, lâu hơn bất cứ bức nào, không bao lâu sau cái
chết của ông Théodorus (26/3/1885), mô tả một căn phòng
có đầy những nông dân đang dùng bữa ăn tối, là điều
đã phơi bày ấn tượng mạnh mẽ với cái ý nghĩa một
lần nữa khái niệm gia đình trong lòng Van Gogh lại tan vỡ.
Rút cảm hứng từ bức “Bữa
Ăn Thanh Ðạm” của Josef Israels, Van Gogh sắp xếp một
hình ảnh gần như thánh hóa của Bữa Ăn Cuối Cùng trong
Kinh Thánh, một chủ đề mà ông tán rộng ra bởi hình ảnh
cái đồng hồ và cây thánh giá treo tường được đặt
cạnh nhau. Những nhân dáng trình bày có hình thù xấu xí
như trong lối tranh biếm họa, nói lên sự cùng khổ của
họ, những con người tự đào khoai để làm bữa ăn tối;
khác hẳn lối vẽ các nông dân bình thường theo truyền
thống thi vị êm đềm trước kia.(*)
Ngày
26/3/1885, ông Théodorus qua đời; Van Gogh vẽ bức
“Tĩnh Vật với cuốn Thánh Kinh
Ðang Mở, Cây Nến Tàn và Tác Phẩm
‘Joie de Vivre’ của Zola” (sơn dầu, 65x78cm) dành
để tưởng niệm cha, trên đó, cuốn Thánh Kinh của ông
Théodorus được mở ra ở Chương 53; (chương 52 cũng có
xuất hiện trong tranh); 12 tiết của chương 53 nói về sự
tưởng thưởng cho kết quả chịu đựng gian khổ mà những
nhà truyền giáo đã gặp phải trên bước đường rao giảng
Kinh Thánh, cũng là ngầm ý ca tụng sự dốc lòng của ông
Théodorus trong vai trò một giáo sĩ.
Tác
phẩm “Joie de Vivre” của Zola (như trong tranh),
xuất bản tháng 2/1884, là một tiểu thuyết buồn, chủ
ý tán dương sự hy sinh quên mình của những
con người
vẫn gắn bó với những nỗi đau khổ của cuộc đời.
Trong
vài trường hợp, Van Gogh dùng màu vàng hay xanh da trời cho
những bìa sách như một biểu tượng xác
định thẳng thắn về tính chất hiện tại của sự
vật. Ví dụ như bức tĩnh vật “Bức Tượng
Nhỏ và Hai Cuốn Sách” (sơn dầu, 55x46.5cm),
hay “Chân
Dung Bác Sĩ Gachet” (sơn dầu, 68x57cm) vẽ vào tháng 6/1890
về sau này.
Trong
thời kỳ Nuenen, sự giao thiệp của Van Gogh chỉ
giới hạn với người bán thuốc lá tên Anton Kerssemakers,
vẫn thường cùng ông đi dạo hoặc thăm viếng bảo tàng
viện; và vài họa sĩ tài tử trong vùng thỉnh thoảng vẫn
đến vấn ý ông về những bài học hội họa.
2.
Van
Gogh lại tiếp tục đi trên con đường nghệ thuật
chín chắn của mình không phút xao lãng. Mùa thu 1885,
để tránh tình trạng thù địch đang có khuynh hướng lan
rộng trong giới nghệ sĩ trong vùng, và cũng vì muốn mở
rộng tầm nhìn theo hội họa, Van Gogh tìm đến Anvers, vùng
hải cảng miền Nam nước Bỉ; thuê căn phòng ở tầng trên
một cửa hàng bán tranh tại số 194 đường Images, rồi
trang hoàng bằng những bức vẽ theo lối Nhật Bản của
chính mình.
Sau
rất nhiều ngày tháng sống trong vùng đồng quê buồn
tẻ, giờ đây Van Gogh bắt đầu hưởng thụ
cuộc đời nơi đô thị lớn. Với ông,
quan trọng nhất là các viện bảo tàng, và đặc biệt là
bức tranh trang trí giáo đường rất đồ sộ của Peter
Paul Rubens, họa sĩ lừng danh người xứ Flandre thế kỷ
17.
Cũng
chính từ Ruben mà Van Gogh học hỏi
được cách pha màu sáng, ly khai với những màu sắc
ảm đạm. Ông đã từng khởi sự dùng nhiều màu xanh
da trời hơn, nhưng bây giờ lại thử với màu đỏ sau khi
bị lôi cuốn bởi độ nồng ấm của màu đỏ có điểm
thêm một đường viền mỏng trên các nhân dáng mà Ruben
đã vẽ trong tác phẩm.
Ngoài
ra, những nghệ sĩ Nhật Bản
cũng mở cho ông một hướng nhìn mới. Bài tập “Một
Trăm Cách Nhìn Ngọn Núi Fujiyama” của Hokusai Katsushika
(họa sĩ & điêu khắc gia Nhật Bản, 1760-1849) đã khiến
cây bút chì của Van Gogh có riêng một sắc thái và những
đường nét chính xác.
Ông
cũng ưa thích cách sử dụng những màu tương phản nhau
trên cùng một nền vải của họa sĩ Pháp Ferdinand Delacroix.
Màu
sắc trong các tranh của Van Gogh sáng dần, điển hình
là bức “Cái Ðầu Của Một Phụ Nữ”
vẽ trong
tháng 12/1885 (sơn dầu, 35x24cm) biểu lộ rằng trong sự thêm
vào màu hung đỏ, cây cọ của ông đã được chuyển hướng
rõ rệt hơn.
3.
Tháng
1/1886, gần 33 tuổi, Van Gogh ghi tên xin học trong trường
Mỹ Thuật ở Anvers. Dù rằng đã sáng tạo ra một số lượng
lớn họa phẩm bằng một sức cố gắng phi thường, Van
Gogh vẫn muốn học hỏi thêm nghệ thuật ở những người
khác. Tuy vậy, cách pha màu của ông còn chưa ổn thỏa,
chất sơn dầu nhỏ giọt từ khung vẽ xuống sàn nhà đã
khiến vị giáo sư hội họa trường Mỹ Thuật phải phẫn
nộ hét lên: “Anh là ai?” Van Gogh la to trở lại:
“Tôi là Vincent, một người Hòa Lan!”
Vị
giáo sư nhận định rằng các bức vẽ của
Van Gogh vẫn còn “tồi” và đẩy ông xuống
lớp dự bị. Van Gogh bèn kết hợp các bạn sinh viên
hội họa cùng nhau sáng tác vào buổi tối để tiền
công phải trả cho người mẫu giảm nhẹ đi.
Tiêu
pha gần trọn số tiền Théo cung cấp vào việc trả công
cho người mẫu và sơn dầu, khung cọ, ông hoàn toàn không
để tâm vào việc ăn uống; thêm với sự làm việc quá
độ đã khiến ông trở nên kiệt sức. Lại lần nữa,
Van Gogh sống rất cơ hàn kham khổ, thậm chí không có đủ
tiền mua bánh mì khô để lót dạ. Ông bắt đầu cảm nhận
được cái hậu quả tai hại gây ra từ sự thiếu dinh dưỡng
đồng thời với sự lao động trí não quá độ. Cái ý
tưởng chết sớm cứ đeo đuổi trong óc khiến ông càng
thêm say mê dồn hết năng lực vào việc sáng tạo mà không
ngờ rằng điều ấy chỉ càng đưa ông đến gần thêm
với sự hủy hoại.
Lúc
bấy giờ, Van Gogh lại ao ước một sự đổi mới sau
ba tháng lưu lại Anvers, bắt đầu phóng tầm mắt nhìn
xa hơn sang một chân trời lạ. Tại đây –Anvert—không
có gì khác ngoài sự việc ông trở nên là
thù địch của tất cả các giáo sư và sinh viên hội họa
do bởi lòng đam mê nghệ thuật trong ông vượt cao hẳn
họ. Paris có lẽ khá hơn!...
4.
Phần
Théo –lúc bấy giờ đang là người mại bản
các bức tranh thuộc trường phái Barbizon và Impresionisme
của công ty Boussod & Valadon ở Paris (những người kế
vị Goupil & Cie) đang nỗ lực để bán ra những bức
tranh phái Ấn Tượng. Trong các lá thư trao đổi giữa hai
anh em vào cuối năm 1885 đã cho thấy có nhiều bàn thảo
về giá trị tranh của các phái Hiện Thực (Réalisme), Tự
Nhiên (Naturalisme) và Lãng Mạn (Romantisme). Nhưng trong khi
Théo đặc biệt ca ngợi tranh của Edouard Manet thì Van Gogh
lại tỏ ra không mấy ưa thích lối vẽ của họa sĩ này.
Theo ông, Millet mới là người có công sáng tạo lớn nhất
cho nền hội họa hiện đại ở Pháp.
Từ
tháng 1/1886, Van Gogh đã nài xin em cho ông tìm đến Paris
để có thể tiếp tục học hỏi nghệ thuật, đặc biệt
lối vẽ từ những người mẫu khỏa thân hoàn toàn, điều
mà ở trường Mỹ Thuật Hội Họa Anvers đã không chấp
nhận. Trong một lá thư, Van Gogh phô bày cái linh cảm rằng
mình chẳng còn bao nhiêu thời gian làm việc, nên muốn đến
Paris để có thể thực hiện những gì cưu mang trong đầu
trước khi quá muộn.
“Những
gì đó” trong con người ông anh bất thường chính
là chức năng của một họa sĩ thiên tài mà từ lâu Théo
nhận thức được. Théo bèn gợi ý Van Gogh nên đến Paris
vào tháng 6/1886. Nhưng con người điên đảo ấy không thể
chờ lâu hơn nữa. Anvert đã chết! Tất cả quá khứ đã
chấm dứt. Giờ chỉ còn Paris!
XIV 1.
Ngày
28/2/1886, Théo nhận một lá thư ngắn viết rằng Van
Gogh đang đợi ông trước một bức tranh của Rembrandt, tại
Salon Carré, viện bảo tàng Louvre. Thế là hai anh em lại
sống chung với nhau trong căn nhà nhỏ của Théo, số 25 đường
Laval, Paris.
Paris
quả thật là vùng đất Van Gogh cần thiết, không chỉ
vì nghệ thuật thôi, mà còn cả trên phương diện đời
sống. Tại đây, ông khám phá ra rằng bên cạnh những bổn
phận và gánh nặng đối với cuộc đời bình nhật, ông
không phải bị khuất phục bởi bất cứ ai theo những gì
ông muốn tìm kiếm. Cuộc đời dường như thay đổi hẳn
với cái thế giới riêng mình lồng bên trong thế giới
thân mật của những người khác. Bà cụ già mang tặng
những chùm rau mới hái, người đưa thư vui vẻ, cô gái
trẻ trong khu xóm nhỏ, lũ trẻ con chơi đùa chung quanh các
ngôi nhà và những phụ nữ mập mạp thích ngồi lê đôi
mách..., tất cả ai cũng quen mặt Van Gogh. Họ gật đầu
chào mỗi khi gặp ông đâu đó trên đường phố. Tại đây,
Van Gogh mang cảm tưởng gần gũi như đang ở trong ngôi nhà
tại cái xóm nhỏ của vùng La Haye thuở xưa. Không ai nhăn
mặt trước bộ dạng bất thường, cũng không ai ngạc nhiên
trước bề ngoài lôi thôi bẩn thỉu của ông. Thảng hoặc
họ có cười thì chính ông cũng cùng cười phá lên theo
họ. Thời gian này, cuộc sống quả y hệt như trong một
giấc mơ!
Mùa
hè 1886, hai anh em Van Gogh dời đến số 54 đường Lepic
trên ngọn đồi Montmartre, nơi có quán rượu lộ thiên Moulin
de la Galette, quy tụ nhiều nghệ sĩ; và nhà hàng ăn nhỏ
của bà Bataille mà anh em Van Gogh và các nghệ sĩ khác như
Mendès, Willette, Jaures... thường đến dùng cơm.
2.
Trước
kia, Van Gogh không có cơ
hội nhìn tranh phái Ấn Tượng, hay hiểu biết chính
xác về phái này. Ðến Paris lần II trong năm 1886, họa
sĩ được chứng kiến
đúng lúc sự sụp đổ của phái
Ấn Tượng, đồng thời cũng có
dịp nối kết vào các cuộc tranh luận về
những biến thể mới cho một
đường hướng nghệ thuật tân tiến
đang hình thành.
Trong
tháng 5 và tháng 6/1886, Théo đưa Van Gogh tới tham
dự cuộc triển lãm lần thứ 8 và cũng là
cuối cùng, gồm nhiều thể loại khác nhau của phái
Ấn Tượng.
Giữa
230 bức họa trình bày, nổi bật đặc điểm Ấn Tượng
nhất chính là các tác phẩm của Mary Cassatt và Guill -aumin;
nhưng cũng có những bức thuộc phái Biểu Tượng của Odilon
Redon.
Về
lối vẽ bằng chấm chính thống của phái Tân Ấn
Tượng (Neo-Impressionisme) có các đại diện như bức
“La Grande Jatte” của Georges Seurat và bức phong cảnh
vẽ bằng những chấm nhỏ của Camille Pissarro. Cuộc triển
lãm cuối cùng này đã nói lên rằng sau một thập niên
thực hành theo đường lối Ấn Tượng, chính Pissarro cũng
đã chuyển hướng theo lối vẽ bằng chấm của nhóm Pointilliste
và chấp nhận những lý thuyết đi kèm về sự tương phản
màu sắc –điều mà vừa mới đây ở viện bảo tàng Anvers,
Van Gogh cũng từng ưa thích khi thưởng thức các bức tranh
của Delacroix và Rubens.
Edgar
Degas --người luôn phê bình sự bắt chước thiên
nhiên của phái Ấn Tượng giống như một sự
sáng tạo nghèo nàn-- đã đưa ra một loạt tranh vẽ
những người đàn bà đang tắm, qua đó ông cố
gắng trình bày giá trị liên hợp giữa truyền
thống khỏa thân cổ điển với đường hướng khỏa
thân mới của phái Tự Nhiên (Naturalisme).
19
bức họa không theo đúng đường lối phái Ấn Tượng
của Paul Gauguin (con người đang tìm kiếm cảm hứng từ
Brittany, hoặc các vùng biển Nam Thái Bình Dương) đã phô
bày sự kết hợp cường độ cảm xúc của họa sĩ
với sự hoang dã xưa cổ qua các màu sáng và rực rỡ.
Trong
khi đó Monet, Renoir và Sisley từ chối không tham
dự.
Cảm
nghĩ thứ nhất trong Van Gogh về
cuộc triển lãm tháng 5-6/1886 của phái
Ấn Tượng chính là “sự tàn sát giữa anh em với
nhau” như trong một lá thư ông đã viết cho em gái;
do đó, ý nghĩ thất vọng hẳn phải có trong ông, như đã
phàn nàn cùng em: “Sau Israels và Mauve, phái
Ấn Tượng rõ ràng chẳng có gì ngoài những hình
ảnh luộm thuộm và xấu xí.”
Nhưng
rồi dần dà, sau 9 tháng nghiền
ngẫm kỹ thuật, chủ đề và
ý tưởng trên nhiều giòng tranh khác nhau của từng nghệ
sĩ phái Ấn Tượng, cái nhìn Van Gogh mở
rộng hơn. Các sáng tác của họ
giúp ông khám phá ra màu sắc,
ánh sáng và một kỹ thuật mới.
Đặc biệt là Georges Seurat đã gây
ảnh hưởng trực tiếp trên
ông.
Van
Gogh bèn ghi tên tham dự khóa học với họa sĩ Fernand Cormon,
từ mùa xuân đến mùa thu 1886, chủ đích trau giồi lối
vẽ thẳng từ người mẫu. Giữa đám bạn đồng song của
lớp vẽ Cormon, Van Gogh gặp và quen biết với chàng trẻ
tuổi quý tộc kỳ dị Henri Toulouse-Lautrec, Louis Anquetin,
và John Russel.
Ưa
thích hơn cả với Van Gogh là cửa hàng tranh của Julien “père”
Tanguy (1825-1894) tọa lạc ở số 14 rue Clauzel, nơi những
bức họa của Pissarro, Cézanne, Renoir, Sisley, Guillaumin, Seurat
và Signac... được treo.
Cho
tới lúc này, ngoài tranh của các họa sĩ Hòa Lan, Van Gogh
chỉ mới biết đến tác phẩm của những họa sĩ Pháp
như Millet, Daumier, phái Barbizon và Monticelle. Bây giờ ông
biết thêm về tranh Delacroix và của các họa sĩ phái Ấn
Tượng. Edouard Manet đã chết ba năm trước đó (1883), còn
những người khác đang ở đỉnh cao của nghệ thuật và
nghề nghiệp.
Mùa
hè và mùa thu 1886 ở
Paris, trong một căn phòng nhỏ
tại nhà Théo, Van Gogh tập trung chủ
yếu trên chân dung tự họa và
tĩnh vật. Không có tiền trả cho người mẫu, và cũng
thiếu luôn sự tự tin, ông tự giới hạn tầm giao thiệp
của mình.
Những
bức tĩnh vật Paris đầu tiên vẫn chỉ
được vẽ trong cùng nét cọ
và màu sắc mờ tối như
những bức sáng tác ở
Bruxelles và Anvers, nhưng chúng cũng làm nhớ
lại lối vẽ tĩnh vật nào
đó giữa thế kỷ 19 của nền hội họa Pháp.
Théo
có được ít nhất một bức vẽ hoa của Fantin-Latour
và bức khác của Monticello (họa sĩ vừa mới qua
đời ở Marseilles) với màu sắc khá tối tăm và
cách cấu trúc phong phú. Van Gogh dùng chúng làm kiểu mẫu
nghiên cứu, trong khi lại tự
cảm biết mình đang bị lôi kéo về
một chiều hướng sử dụng màu sắc sáng sủa và
nhiều cảm xúc hơn, ví dụ như bức “Chậu Hoa
Thuốc Phiện” (56x46.5cm), vẽ vào mùa hè 1886.
Trong
một lá thư viết cho họa sĩ Anh, Lienens, mùa
thu 1886, Van Gogh diễn tả rằng bức tĩnh vật “Chậu
Hoa Thuốc Phiện” chỉ
là một cách áp dụng sự tương phản màu sắc như của
nhóm Pontillist, duy có điều rằng ông chưa dùng đến lối
vẽ bằng chấm như của họ. Ông vẫn còn đang tìm kiếm
sự hòa hợp tương phản giữa màu tuyền xanh dương với
màu cam, màu đỏ thắm với xanh lá cây, và màu vàng với
màu tím.
Ðề
tài những bức phong cảnh năm 1886 tập trung trên những
lối mòn của khách bộ hành chung quanh căn nhà Théo; những
góc yên tĩnh của khu Montmartre; những con hẽm giữa các
khu vườn và những công viên gần như trống trơn vào các
ngày trong tuần; những con phố buổi sáng sớm; và toàn
cảnh các mái nhà Paris nhìn từ cửa sổ. Riêng các
đại lộ tấp nập, các công viên rộng lớn hay các trạm
nhà ga thường xuyên được chọn bởi Monet, Pissarro, Sisley
và Renoir, bấy giờ Van Gogh lại tránh không vẽ.
Cũng
trong thời kỳ Paris 1886, quang cảnh của viện bảo
tàng Louvre và khu vườn Luxembourg là những bức hiếm hoi
về đề tài Paris đã được Van Gogh sáng tạo để tỏ
lòng tôn kính cho bộ sưu tập hội họa vĩ đại được
trưng bày tại hai nơi này mà từ lâu ông ngưỡng mộ.
Ðiển hình cho các bức thời kỳ này là
“Moulin de la Galette” vẽ trong tháng 10/1888, (sơn
dầu, 38.5x46cm) qua đó, ông cẩn thận thử
nghiệm nét cọ theo đường lối và
chủ đề của phái Ấn Tượng trong khi vẫn giữ
lại trên nền vải màu xám nhạt và
màu nâu ban đầu của mình.
Thời
gian này, Van Gogh nhìn tranh với cặp mắt chuyên cần và
học hỏi. Nhưng phải đợi đến mùa đông 1886-87,
sự khai triển thật sự mới xảy ra. Ông vẽ
cái quán ăn nhỏ với màu xanh và màu hồng,
dùng màu vàng trong các bức tĩnh vật. Ông cũng vẽ “père”
Tanguy tại cửa hàng để đổi lấy sơn màu đang bày bán
tại đó; vẽ con đường nơi ông đang lưu trú; vẽ cái
bàn trên có quyển sách bằng tiếng Pháp; vẽ những người
bạn; vẽ bất cứ ai muốn ngồi làm mẫu; nhưng phần
lớn là tự vẽ chính ông. Tuy vậy, không có
bức tự họa nào của Van Gogh mang tính chất hạnh phúc
như vẫn thấy trên các bức vẽ
chân dung “père” Tanguy hay các người khác.
Bức
sơn dầu Pittsburg “Moulin du Blute-Fin, Mont- martre”
vẽ trong tháng 3/1888 (sơn dầu, 47x39.4 cm) không giống như
những bức của 5 tháng trước; bây giờ nét vẽ sáng sủa
hơn với nhiều màu xanh lá cây ngạt ngào, còn những màu
nâu, tím và đen thì không nổi bật.
Bức
“Boulevard de Clichy” vẽ trong tháng 2-3/1887, (sơn dầu,
46.5x55cm), trình bày những thử nghiệm kiểu Pointillist, có
những mảng giống hình cái thang với những đường song
song mà màu sắc của nó mang rất ít, hoặc chẳng có gì
giống với màu sắc của các tòa nhà trên đại lộ này
thời kỳ ấy.
Ông
vẽ và vẽ... Paris đã làm thức dậy sự rung cảm cho Van
Gogh, giải thoát ông khỏi những dày vò mà khát vọng tôn
giáo đã tạo ra trong nội tâm thuở trước. Tuy nhiên,
dù cho màu sắc trong những bức mùa xuân 1887 có
trở nên sáng sủa hơn, thì cách kết cấu và
kỹ thuật sơn dầu của Van Gogh lại
rất khác biệt với các họa sĩ
phái Ấn Tượng. Ðó là bước mở
đầu cho các bức sẽ được vẽ thời kỳ sau này
ở miền Nam.
Có
điều, với ảnh hưởng địa vị mình trong công ty
Boussod & Valadon, Théo vẫn chẳng thể bán ra được bức
tranh nào của Van Gogh. Nhiều cuộc cãi vả xảy ra chung quanh
vấn đề này, và không khí giao thiệp giữa Théo với các
đồng nghiệp trở nên nặng nề khó chịu.
3.
Van
Gogh đã hơi cường điệu khi về sau kể với em gái rằng
ông có giao thiệp với nhiều họa sĩ trong phái Ấn Tượng.
Thực sự, dù đã từ lâu nhìn ngắm từng đường nét các
bức tranh của họ suốt qua số tranh mà Théo và những nhà
mại bản khác đang có, nhưng duy nhất Camille Pissarro
trong nhóm Ấn Tượng cũ mới là
người đặc biệt liên lạc với Van Gogh, ngoài ra
ông chỉ gặp Degas và Monet ở quán Café de la Nouvelles Athenènes
trong khu Place Pigalle trên Boulevard de Clichy, và không hề giao
thiệp riêng tư với Renoir, Cézanne, Caillebotte, Morisot hay
Cassatt.
Tình
bạn ở Paris được Van Gogh hạn chế
chính yếu trên những nghệ
sĩ trẻ ngay khi ấy tiếng tăm chưa có
gì nổi bật. Sau Pissarro, người quan trọng nhất
với Van Gogh chính là Paul Signac, mười tuổi trẻ hơn
Van Gogh và là kẻ biện hộ bền bỉ nhất cho giá trị của
đường lối Pointillist của Seurat. Họa sĩ cũng làm bạn
với Emile Bernard, 19 tuổi, (1868-1941) (người về sau
có một thời gian ngắn gia nhập phái Pointillism khi ấy đã
ổn định năm 1887, chủ yếu dùng các màu sáng, khai triển
cảm hứng từ những tính chất cổ xưa của vùng Breton
theo đường lối sáng tạo của Gauguin).
Cả
hai Bernard và Signac đều có song thân sống tại
Anières, thuộc ngoại ô Paris, cách Montmartre chừng
3 dặm. Trong mùa xuân và mùa hè 1887, Van Gogh thường
cùng với một hay cả hai người bạn đến vẽ ở đó.
Bấy giờ chủ đề được mở rộng theo vùng ngoại ô Clichy
với những cơ xưởng và các thùng đựng khí của nó; quang
cảnh bến thuyền Asnières và những nhà hàng ăn bên bờ
sông Seine.
Cả
Bernard lẫn Signac đều có
ảnh hưởng đối với tác phẩm thời kỳ
này của Van Gogh. Thỉnh thoảng, như trong bức “Nhà
hàng La Sirène ở Asnières” (1887, sơn dầu, 54x65cm) Van
Gogh dùng nhiều hơn những cái chấm nhỏ như những người
Pointillist chính thống, chung quanh các nhân dáng được cho
bao phủ một vầng sáng như vùng hào quang. Nhưng thật sự,
ông không bao giờ thấy thoải mái với cái tính khiêm nhường
trong nét vẽ Seurat hay Signac. Trong các tác phẩm riêng,
Van Gogh vẫn luôn phô bày màu sắc một cách nổi bật linh
động trên mặt phẳng nền vải, một giá trị cơ bản
về hội họa mà ông đã học được từ Mauve, Rubens và
tất cả những họa sĩ trước kia.
4.
Tại
cửa hàng tranh của “père” Tanguy, mùa thu 1886,
lần đầu tiên Van Gogh gặp Paul Gauguin, người vừa mới
trở về Paris sau khi trải qua suốt mùa hè đến vẽ ở
Pont-Aven, một làng hẻo lánh trên bờ biển Brittany, nơi
mà những nghệ sĩ muốn có một đời sống đồng quê yên
tĩnh và đơn giản, thường
tìm đến.
Cái
thái độ thô lỗ hung bạo của Gauguin khiến
Van Gogh không có cảm tình trong lần đầu gặp gỡ.
Cho đến về sau được Toulouse-Lautrec kể cho nghe cuộc
đời Gauguin: “Thoạt tiên, Gauguin là một thủy thủ,
sau đó trong suốt 11 năm trở nên một nhân viên ngân hàng,
kiếm ra rất nhiều tiền, tạo dựng
được số tài sản đáng kể cho gia
đình vợ con. Đột nhiên, Gauguin rời bỏ tất cả mọi
thứ đang có trong tay để khoác lên người cái
áo choàng của họa sĩ. Kể từ
đó, chàng tuổi trẻ luôn luôn lâm vào tình trạng
đói rách...”, Van Gogh đâm ra nể trọng con người hung
bạo kỳ dị kia.
Từ
giữa tháng 4 đến tháng 11/1887, Gauguin lại vắng mặt khỏi
Paris để tìm đến vùng Martinique, Nam Thái Bình Dương. Khi
trở lại với những bức tranh màu tươi sáng của miền
hải đảo, sự ngưỡng mộ dành cho Gauguin trong tâm hồn
Van Gogh lại càng gia tăng. Một tình bạn được kết nên
giữa họ. Dù với bao cá chất khác biệt, cả hai vẫn tìm
thấy một nỗi quý trọng dành cho nhau. Những cuộc bàn
cãi nghệ thuật với Gauguin đã làm khơi dậy trong Van Gogh
cái ước mơ thành lập một hiệp hội họa sĩ
để trong tinh thần tương trợ, các hội viên sẽ
có thể cùng chia xẻ với nhau những vật chất và
tư tưởng. Phần Théo cũng cố gắng bán giùm những
bức tranh cho Gauguin. 5.
Hầu
hết họa sĩ các phái Cloissonisme, Neo-Impres- sionisme,
Realisme, Naturalisme và Impressionisme đều tìm thấy vài
cảm hứng từ những bức in trên gỗ của Nhật
Bản. Ðó cũng là điều giúp Van Gogh tự giải phóng
khỏi xu hướng tổng hợp vào năm 1887 ở Paris. Khi còn ở
Anvers, nước Bỉ, Van Gogh đã từng mua những bản in Nhật
Bản rẻ tiền về cắm trên các bức tường như một hình
thức trang trí. Chỉ khi đến sống tại Paris, ông mới hiểu
được tính chất nghệ thuật trong chúng.
Hình
ảnh đầy màu sắc về phong cảnh nước Nhật, các
nghệ sĩ, những nàng geisha, hay các nhân dáng đang
trồng trọt cày cấy… trên các bức in Nhật Bản này đã
gây nên được một ảnh hưởng rối loạn nhưng đầy năng
lực trên nghệ thuật và kiến trúc Âu Châu khoảng 1860
trở đi.
Tuy
nhiên vào năm 1886-87, những loại hình như vậy
đã không còn đóng vai trò quan trọng với các nhóm
nghệ thuật tân tiến ở Paris, mà nó
trở thành là những thứ trang trí phòng
ốc thời trang (ví dụ như trong tác phẩm
“A la Recherche du Temps perdu” Marcel Proust đã diễn tả
căn phòng ngủ của nhân vật Odette với toàn những hình
ảnh Nhật Bản in trên tấm khăn trải giường bằng tơ,
hay trên các lọ bình…)
Ba
bức Nhật Bản được Van Gogh chuyển sang sơn dầu,
trong số có bức nổi tiếng nhất là “Loạt
Tranh Nhật Bản –Cây Cầu Trong Mưa (phỏng theo Hiroshige)”
được vẽ vào cuối năm 1888, (73x54cm), qua đó ông thoải
mái thêm vào màu xanh lá cây thật đậm, tương phản với
cái viền màu đỏ trên những tấm ván ô thẳng đứng của
nguyên bản bức tranh Nhật Bản. 6.
Trong
hai năm ở Paris, Van Gogh đã ném mình vào thế
giới của những nghệ sĩ ở Montmartre và
tự học tập trau giồi nghệ thuật trong niềm hoan
hỉ. Trên 230 bức tranh kết quả của thời kỳ
Paris; những bức như “Những Cây Cầu
Ở Asnières” (52x65cm, vẽ trong mùa xuân 1887)
và “Chân Dung Père Tanguy” (mùa thu 1887, 93x73cm)
được kể là những bức đẹp nhất.
Ông
cũng đã xếp đặt ba cuộc triển lãm, một cho các bức
vẽ theo lối Nhật Bản của riêng ông, và hai cho những
bức sơn dầu riêng, cùng chung với những bức của các
người bạn phái Tân Ấn Tượng (Neo-Impressionist). Ba cuộc
triển lãm được tổ chức ở quán Café de la Tambourin tọa
lạc ở số 62 đại lộ Clichy.Chủ nhân là một người
mẫu Ý Ðại Lợi nổi tiếng, đã từng ngồi làm mẫu cho
Van Gogh qua bức “Người
Ðàn Bà tại quán Café du Tambourin
(Agostina Segatori)” được vẽ trong mùa xuân 1887 (sơn
dầu, 55.5x46.5cm).
Riêng
với cuộc triển lãm các bức vẽ theo lối Nhật Bản,
kéo dài từ tháng 2 qua đến tháng 3/1887, dù đã
được Théo cảnh giác một sự thất bại, Van Gogh vẫn
khăng khăng hành động. Kết quả, chủ quán bị phá sản,
Van Gogh mất không những chỉ tranh mà còn cả các cái khung!
7.
Mục
đích Van Gogh tìm đến Paris là để học hỏi về
hội họa, và ông đã thu đạt được nhiều hiểu biết
về phái Ấn Tượng cũng như những phái tân
tiến khác, nhưng mặt khác, ông tự thấy mình không thể
nào thích hạp được với nếp sống cuồng nhiệt ở Paris.
Mùa
đông năm đó (1887), Van Gogh bất thần rơi
trở lại vào những cơn khủng hoảng, kiệt sức và đâm
ra không thích những cuộc họp mặt của giới nghệ sĩ
Paris. Từ một bức thư gửi cho em gái, Van Gogh thú nhận
rằng, tận trong sâu thẳm
ý nghĩ, Paris không đem lại được
điều ước mơ vẫn khiến ông bị
dày vò suy nghĩ. Với những họa sĩ phái Ấn Tượng,
rõ ràng là giữa họ với ông có một sự khác biệt rất
sâu. Họ yêu, ngắm nhìn và mô tả trạng huống của mọi
sự vật trên bề mặt nông cạn bằng cái tâm hồn tiểu
tư sản. Còn Van Gogh (người nghệ
sĩ Hòa Lan từng cất lên trong hội họa những
âm điệu bi thương vọng từ
lồng ngực gầy mòn vì thiếu
ăn, từ trái tim rướm máu; con người
đã nhìn được tới thấu đáy của sự
đau khổ) thì lại muốn đi xa hơn trên con
đường nghệ thuật của riêng
ông.
Ngoài
ra, các bức tranh với màu sắc sáng sủa tươi mát diễn
tả các vùng đảo Miền Nam Thái Bình Dương của Gauguin
đã cuốn hút Van Gogh theo ý niệm về một vùng đất
hoang dã, đối nghịch hẳn với nếp sống văn minh thành
phố. Một vòm trời biểu tượng cho nỗi hy vọng và ước
mơ được xếp đặt bên trong một cuộc sống với phong
cảnh vui tươi.
Một
hôm, Van Gogh nói với em trai rằng: “Anh phải bắt
đầu lại tất cả lần nữa, anh phải
đi sâu xuống trong lòng trái
đất, trần truồng, trơ trọi lần nữa. Anh biết mình chỉ
còn ba hay bốn năm thôi để sáng tạo, và
anh phải cố gắng hết sức. Có
một nơi nào đó dưới ánh mặt trời này anh phải tìm
cho ra trước khi quá muộn. Tại
đó sẽ có những luồng gió mà anh
ưa thích để có thể cảm nhận
được sự mơn trớn của nó trên da mặt anh.
Ở Paris, anh không còn cảm giác gì cả...”
Trong
cuộc sống chung giữa hai anh em, Théo đã phải nhận
lấy rất nhiều khó chịu. Cá tính hay gây gỗ
của Van Gogh đã là nguyên nhân cho những cuộc đấu khẩu
kịch liệt giữa hai anh em; và cũng là nguyên nhân khiến
cho chỉ đôi người bạn hiếm hoi mới còn tìm đến căn
nhà nhỏ của Théo. Thêm nữa, sự căng thẳng trong việc
điều hành cửa hàng Goupil cộng với sự thuyết phục khó
khăn những chủ nhân công ty đồng ý mở rộng chiều hướng
thương mãi một cách mạo hiểm, đã đẩy Théo đến trạng
thái khủng hoảng suy nhược mà ông từng thụ cảm trong
cơ thể. Vì vậy, vào tháng 2/1888, khi nghe Van Gogh quyết
định từ bỏ Paris để đi đến một vùng hẻo lánh nào
đó trong miền Nam nước Pháp-- tìm cảm hứng cho lối vẽ
theo tranh Nhật Bản, Théo bằng lòng ngay.
Họ đồng ý lựa chọn với nhau, không phải Marseille
mà là Arles.
Ngày
cuối cùng lưu lại Paris, trong khi Théo đang bận làm
việc ngoài công ty thì tại ngôi nhà riêng bấy lâu hai anh
em chung sống, Van Gogh trang hoàng lại tất cả các phòng
ốc. Lần đầu tiên trong cuộc đời, Van Gogh chùi rửa,
đánh bóng rồi xếp dọn ngăn nắp mọi thứ. Ông lôi hết
những bức tranh không có khung nhét dưới gầm giường ra,
phủi bụi và đóng đinh treo lên tường để cho Théo có
cảm nghĩ rằng ông đang còn hiện diện. Rồi kiếm tìm
những cánh hoa cắm lên chiếc bình đặt giữa bàn. Những
cánh hoa thật trông dường héo hắt hẳn bên cạnh những
cánh hoa trong tranh Van Gogh. Từ các mặt tường, các cánh
hoa này cúi nhìn sự quạnh hiu của Théo với ánh mắt thông
cảm xót xa.
Buổi
chiều, từ công ty làm việc trở về, Théo tìm
thấy trên bàn viết lá thư từ biệt của anh,
lời lẽ rất cảm động.
XV 1.
Ngày
26/2/1888, Van Gogh đến Arles, một tỉnh nhỏ nằm trên
bờ sông Rhône, miền Nam nước Pháp. Trời rất lạnh, tuyết
đóng dầy trên đường phố. Mọi cánh đồng và đồi núi
đều phủ đầy tuyết, thỉnh thoảng mới thấy một cành
cây nhỏ vươn lên như một chấm đen. “Giống như bức
tranh phong cảnh mùa đông được vẽ
bởi một họa sĩ Nhật” là cái cách Van Gogh diễn tả
cánh đồng và đồi núi tuyết phủ trong lá thư thứ nhất
gửi về cho Théo từ Arles. “Ðẹp như một bức tranh
Nhật Bản phô bày trạng thái trong trẻo của không khí
và màu xám nhạt đầy hiệu lực của không gian”
là cái cách mà ông tóm tắt miêu tả với Bernard.
Rõ
ràng ông đã tìm thấy những gì ông muốn tìm.
Tại
đây, Van Gogh thuê một phòng trong Hôtel Res- taurant Carrel
số 30 đường Cavalerie. Căn phòng với cái giường hẹp
khổ và hai ghế nhỏ xơ xác; quán
café với cái bàn bi-da ở giữa và ba ngọn đèn treo
trên trần đã là những hình ảnh xuất hiện trong các bức
tranh tuyệt mỹ của Van Gogh thời gian ở đây. Ban đêm,
Van Gogh dành thì giờ để đọc sách. Ông đọc Daudet, Maupassant,
đọc tất cả các tác phẩm nào mà ông tìm thấy được.
Đặc biệt Emile Zola, nhà văn Pháp, (1840-1902) rất được
ông hâm mộ. Văn chương Zola trở nên là bánh mì và phó
mát cho ông.
Chẳng
bao lâu, sau khi Van Gogh đến Arles, cây ăn trái trong các
khu vườn cũng nhú nụ hoa. Đối mặt với những
cái đẹp ngoạn mục chóng tàn này, ông thừa nhận với
Bernard rằng ông đã hoàn toàn bị chụp bắt bởi Thiên
Nhiên. Khắp vùng, cảnh sắc rộ lên nét quyến rũ rực
rỡ. Van Gogh vẽ hằng ngày không lúc nào ngưng nghỉ. Ông
vẽ những quãng trường; các con đường; công viên; cây
cầu; mặt trời lặn; cánh đồng có đường xe lửa chạy
ngang phía xa đàng sau... Vẽ những vườn hoa đầy màu sắc;
những bông hồng trong chậu; những quả chanh trong giỏ.
Ông vẽ nhiều bức tự họa; các người xứ Arles; vẻ Trung
úy Millet trong trung đoàn Zouave, một chàng người bé nhỏ
với cái cổ giống như con bò mộng và đôi mắt như con
hổ; vẽ các nông dân Camargue. Chỉ khi trở về phòng vẽ,
ông mới bắt đầu tô phết lại cho hoàn hảo bức tranh
với những đường nét và màu sắc công phu.
2.
Trong
tháng 3/1888, Van Gogh làm việc say mê trên 6 bức tĩnh
vật cùng một lúc, vẽ quả lê, quả đào và quả táo.
Viết
cho Bernard, ông phô bày nỗi ao ước mãnh liệt rằng
có thể chuyển đạt được những cảm xúc
của mình trên tất cả mọi màu sắc để đưa tới một
sự hài hòa cho bức tranh; giống như những giòng nhạc Wagner
khi được chơi bởi một dàn nhạc lớn, sẽ gây cho thính
giả những giây lát thân mật bên trong một tổng thể đầy
hiệu lực. Những lời này rõ ràng đã làm lôi cuốn Bernard,
bởi vì sự thăng bằng giữa âm thanh và màu sắc được
nối kết bằng một ngữ vựng xúc cảm riêng biệt là một
phần tiêu chuẩn của những người phái Biểu Tượng /
Cloissonist.
Tránh
xa Paris, ít mệt mỏi bởi lo nghĩ và rượu, không
bị đè nén bởi sự tiếp cận những tư tưởng
xung đột, Van Gogh có thể rút ra một sự hỗn
hợp tươi mát cho nghệ thuật của mình. Một trong những
bức vẽ trái lê (“Cây Lê
Màu Hồng Ðang Trổ Bông”, sơn dầu, 73x59.5cm), tưởng
niệm Mauve, người vừa chết bất thần trong đầu tháng
Hai 1888. Bức tranh nói lên cảm xúc của họa sĩ dành cho
người nghệ sĩ quá cố mà dù với những tranh luận giữa
cả hai, cũng đã từng cụ thể giúp đỡ Van Gogh rất nhiều
trong chiều hướng làm phát lộ tài năng. Ông gửi qua tay
Théo, bức tranh đề tặng cho vợ Mauve.
Sức
mạnh của màu sắc, sự trong lành của không khí
và xúc cảm mãnh liệt tạo ra từ thiên nhiên tìm
thấy trong Provence đã làm ngây ngất Van Gogh. Trong các bức
Paris mùa xuân và mùa hè 1886, ông đã từng suy luận
về nhịp điệu của các mùa qua một loạt canvas vẽ
những cánh hoa bị cắt và những chậu hoa. Bây giờ, trong
Arles rộng lớn, bên dưới cái vòm vĩ đại của bầu trời
xanh ngát, ông miên man vẽ một cách nhanh chóng những cánh
đồng lúa mì vàng óng, những cánh hoa huệ, hoa bắp đang
chín tới cho mùa gặt tháng Sáu.
Làm
việc nhiều giờ dài, cuối cùng Van Gogh biết rằng
ông đã thực hiện được một sự
hợp nhất chính xác về tầm nhìn, chủ
đề và kỹ thuật trên một bức tranh.
Ông
lùng sục mọi nơi để tìm những đề tài mới, đi đến
Les-Saintes-de-la-Mer trong vùng châu thổ sông Rhone, nơi mà
ông bị lôi cuốn bởi những cánh buồm rộng lớn trong
vùng để vẽ nên cảnh biển cả và những chiếc tàu bằng
những nét vẽ sáng sủa, đơn sơ (“Những Chiếc Thuyền
Trên Bãi Biển tại Saintes-Maries”, sơn dầu, 64.5x81cm).
Làm gợi nhớ những bức vẽ hai bên bờ sông Seine chính
là vài bức trình bày quang cảnh bờ sông Rhône với những
chiếc sà lan và cơ xưởng. Trên một mũi kênh yên tĩnh
của sông Rhône chảy về hướng Nam Arles, ông tìm thấy
một cái cầu gỗ được xây bởi một kỷ sư người Ðức.
Có một bức, ông vẽ một nhóm phụ nữ đang giặt áo quần
trên bờ Langloi (“Cầu Langlois Và
Những Phụ Nữ Đang Giặt Giũ”, sơn dầu, 54x65cm).
Ông
vẽ và vẽ... Những bức tranh
ở Arles đã làm tên tuổi ông trở
nên bất tử. Các tác phẩm có
giá trị vĩnh cữu đã ra đời tại
đây. Công việc không phải là
của một đôi mắt, một bàn tay, một cái dĩa màu... mà
là của một trái tim nhân ái bao la.
3.
Để
có chỗ treo tranh, ngày 1/5/1888, Van Gogh thuê bốn phòng
trong một căn nhà trống không có đồ đạc ở số 2, Place
Lamartine; bên ngoài sơn màu vàng, bên trong màu trắng, mặt
nền được phủ một lớp gạch vuông màu đỏ đẹp đẽ.
Giá tiền mỗi tháng phải trả là 15 quan. Ông thuê nó đơn
giản chỉ vì không thể để các bức tranh trong căn phòng
xấu xí ở quán trọ mãi được. Trong căn nhà màu vàng,
trên các bức tường trắng, những bức tranh trông huy hoàng
lộng lẫy hẳn. Van Gogh cũng muốn sống luôn trong căn nhà
ấy, nhưng phải tốn tiền trang bị các vật dụng cần
thiết. Vì vậy mà ông vẫn lưu lại quán trọ, dùng căn
nhà màu vàng làm xưởng vẽ và chỗ chứa tranh.
Tháng
9/1888, do một cuộc bất hòa về các khoản chi phí với
chủ nhân Hôtel-Restaurant Carrel mà Van Gogh dọn đến một
quán trọ khác, Café de la Gare, số 30, Place Lamartine,
do hai vợ chồng Joseph và Marie Ginoux làm chủ.
Những
giao tiếp trí thức chỉ giới hạn trong các các
cuộc chuyện trò với Boch và MacKnight, hai người
nghệ sĩ đã đến thăm Van Gogh chủ yếu
từ lá thư giới thiệu của Théo và những
trao đổi thư tín với Bernard. Những câu hỏi và
lý thuyết cấu trúc của Bernard có thể được suy ra
từ những lá thư hồi âm của Van Gogh với giọng điệu
dạn dĩ khôn ngoan kiểu đàn anh, điều đã không thấy có
trong những thư viết cho Théo.
Tháng
7/1888, Van Gogh kết giao với người đưa thư tên Joseph
Roulin (1841-1903), hàng xóm và về sau trở thành bạn thân
của họa sĩ thời gian ở Arles, một khuôn mặt Cộng Hòa
kiêu hãnh đã gợi Van Gogh nhớ đến père Tanguy, và
Millet, một viên Thiếu úy trong trung đoàn Zouave. Joseph Roulin
và vợ thường đem những đứa con tới chơi nhà Van Gogh.
4.
Khi
mùa hè đến, Van Gogh bị say đắm bởi mặt trời
và màu sắc chói lòa rực rỡ của nó. Ông
vẽ liên hồi, dữ dội, vẽ trong ánh nắng
chan hòa và cả trong gió lạnh. Ngày
16/9/1888, Van Gogh dọn đến ở hẳn trong căn nhà màu
vàng đã dùng làm xưởng vẽ dạo trước. Ông tự tay trang
hoàng các phòng bằng những bức tranh vẽ hoa hướng dương
rực rỡ và đặt tên ngôi nhà là “Căn nhà của những
tín đồ Quaker”. Đây là thời kỳ hạnh phúc nhất
trong cuộc đời nhà nghệ sĩ. Căn nhà màu vàng nho nhỏ
đã tạo được cho ông cái cảm giác thật sự an toàn.
Ông rất kiêu hãnh vì đã có riêng một trụ sở, mơ mộng
đến việc thành lập một hiệp hội nghệ sĩ để có thể
tương trợ và cùng nhau làm nghệ thuật.
Lúc
này, Van Gogh trở lại là con người sâu thẳm
đầy tình cảm như trước. Ông không phải là một
kẻ tiểu tư sản, cũng chẳng là họa sĩ
đơn giản. Cái nghĩa rộng và cao quý nhất của
hai chữ “Tình Cảm” đã được thể hiện rõ
rệt qua nghệ thuật và cách sống của ông.>
5.
Van
Gogh là người yêu chuộng và có cái nhìn thấu
suốt từ bề mặt đến bề sâu của mọi
sự vật. Ông “không yêu
ánh mặt trời”, nhưng “yêu mặt trời”.
Cũng chính “mặt trời” là cái mà ông muốn
vẽ, không phải “ánh mặt trời”. Khi ông viết
trong một lá thư “Ánh vàng mới
đẹp làm sao!” thì điều này không có nghĩa phát biểu
lên cảm xúc hiếm hoi của nghệ sĩ, mà thật đúng là sự
bày tỏ của một con người nghĩ về “màu vàng”
như là màu của mặt trời, đồng nghĩa với “ánh sáng
và ấm áp”. Màu vàng gợi nên trạng thái xuất thần
đầu tiên (cũng giống như tư tưởng trong đầu óc), sau
đó mới là màu sắc của mặt trời trong mắt nhìn nghệ
sĩ. Vì vậy, giữa những bức tĩnh vật thông thường, những
cánh hoa màu vàng Van Gogh vẽ ra đã nổi bật đầy ý nghĩa.
Và chính Van Gogh cũng nói rằng những cánh hoa ấy gây nên
trong lòng ông cái ấn tượng mạnh mẽ, giống như tấm
kính cửa sổ nhiều màu nổi bật lên trong các ngôi nhà
thờ có lối kiến trúc Gô-Tích.
Trong
các bức tự họa, giá trị của cảm nghĩ
và sự diễn tả nội tâm được tìm thấy
rất dào dạt. Van Gogh nhận rằng đã ưa thích trên hết
là việc vẽ các vị thánh, nhưng lại sợ những cảm xúc
của lòng mình. Chính ông đã biết, trong các bức vẽ, có
khi ông muốn phô bày nỗi an bình lớn, có lúc chỉ muốn
đưa ra sự cô đơn buồn khổ của con người.
Thái
độ tôn giáo của Van Gogh, sinh
động hơn hết có lẽ
là trong việc vẽ những cánh hoa. Em gái ông
viết rằng, ngay khi còn bé, Van Gogh đã tỏ ra hiểu được
“linh hồn” của chúng. Ông thường kết chúng lại
thành từng bó nhỏ bằng đôi tay dịu dàng mảnh khảnh.
Cũng
chính đôi tay dịu dàng ấy mà sau này nhà nghệ
sĩ dùng gói những bức tranh vào trong thùng gỗ, hoặc
săn sóc các bệnh nhân nghèo khó ở Borinage. Và
cũng chính đôi tay mảnh khảnh đó mà lúc bấy giờ
ở Arles, cây cọ của Van Gogh không những chỉ sáng
tạo bề mặt những bông hoa, mà
còn cả linh hồn của chúng. Trong một lá thư, Van Gogh
đã mô tả rất tỉ mỉ về “nụ cười héo hắt có
màu xanh tím của cánh hoa cuối cùng giữa mùa thu.”
Đó là ngôn ngữ hội họa của Van Gogh, một người nghệ
sĩ có cái nhãn thức trái ngược hẳn với những họa sĩ
phái Ấn Tượng.
Ngoài
ra, phải kể đến sự thấu hiểu của Van Gogh về
không gian giữa mọi sự vật trên các bức tranh. Ông
biết cách định cho chính xác một khoảng cách, không những
chỉ là khoảng cách giữa những mái nhà, cây cối,
xe cộ... mà ngay cả khoảng cách chi li giữa các luống cày
trên mặt cánh đồng lúa.
Trong
tác phẩm, Van Gogh dùng hai cách để diễn tả tính xác
thật của sự vật: Hoặc là lồng vào trong các
bức tranh hầu hết các chi tiết nhỏ về đất
đai, thuyền bè, nhà cửa, đồi núi (giống như các
họa sĩ Nhật Bản thường làm); hoặc cố tình đơn giản
hóa bằng cách bỏ quên những chi tiết. Khi ấy, nghệ thuật
chỉ là một sự gợi ý. “Tôi cố gắng giữ lại trong
hội họa những gì gọi là cốt tủy quan trọng của sự
vật”, như đã viết cho Bernard như thế.
Dù
vậy, trong tranh Van Gogh, trội hơn cả
chính là giá trị màu sắc. Qua những lá thư viết cho
Bernard từ Arles, mô tả về màu sắc, Van Gogh đã tận tình
ca ngợi các màu xanh lá cây, xanh da trời, màu vàng chanh,
màu cam, màu son thắm hay màu tím. Ông đặt những màu sắc
này lại với nhau, đối chiếu, tương phản hay hài hòa
kết hợp một cách tuyệt diệu trong các tác phẩm.
Bernard
đã kể lại rằng Van Gogh luôn luôn so sánh hội họa
với âm nhạc và đã theo học dương cầm với một
nhạc sĩ già, mục đích để tìm hiểu sự giống
nhau giữa màu vàng, màu xanh da trời, màu lam ngọc hay màu
son thắm, với các cung bậc của âm thanh.
Màu
đỏ cũng rất được
ưa thích với Van Gogh, ảnh hưởng từ
hội họa Nhật Bản, điển hình như các bức Cây
Mận Đang Nở Hoa (sơn dầu, 55x46cm); Orian (sơn dầu,
105x60.5cm); Cây Cầu Dưới Mưa (sơn dầu, 73x54cm).
Vẻ
đẹp và sự hài hòa màu sắc trong tranh Van Gogh
không hề vượt quá
giới hạn. Chúng xuất hiện trong tác phẩm cũng y hệt như
đã thấy xuất hiện ngoài vũ
trụ. Có thể ví vẻ đẹp này tương đương với những
cái mà Thượng Đế đã sáng tạo trên những con chim, những
cánh buớm, các bông hoa và trong cỏ cây, đất đá. Vẻ
đẹp đã làm tâm hồn con người trở nên phong phú, giúp
cho tư tưởng thâm trầm sâu sắc hơn.
Kỳ 2.
(7/1880
– 12/1881)
(Bruxelles
& Etten)
Van Gogh dời đến Bruxelles
để học hỏi
về
hội họa. Nơi đây, ông được dịp làm quen với họa sĩ
người Đức thuộc hàng quý tộc,
Anton D.A. Ridder van Rappart
và được cho vẽ chung trong phòng vẽ của ông này. Tình
bạn của họ kéo dài trong 5 năm. Rappard đã hướng dẫn
Van Gogh tìm hiểu --qua các tạp chí-- về cách chạm trỗ
với hai màu đen trắng trên các bản khắc bằng gỗ.
Nhưng kể từ khi chấp nhận
vai trò nghệ sĩ, ông mới lại tìm thấy sự hứng thú trong
tình cảm với đàn bà.
con gái ông chú Stricker, vừa mới trở thành góa
phụ, lớn tuổi hơn Van Gogh. Cô này cùng với đứa con trai
nhỏ đến thăm và lưu lại một thời gian ngắn trong nhà
cha mẹ Van Gogh. Toàn thể gia đình ông Théodorus rất lúng
túng khi khám phá ra sự đeo đuổi một cách quyết liệt
của con trai đối với người đàn bà đang đau khổ bằng
một tình yêu không đúng đắn, bất chấp luật lệ gia
đình và tôn giáo. Lại nữa, người góa phụ tỏ ra không
thích Van Gogh và luôn luôn bấu víu vào kỷ niệm người
chồng đã chết. Cô bỏ trở về Amsterdam, lưu lại một
nỗi buồn sâu đậm trong tâm hồn họa sĩ.
(1881
– 1883)
(La Haye,
Hòa Lan)
Ví dụ
như bức “Cô Gái Dưới Những Cành Cây” (cuối
hè 1882, 39x59cm) đưa ra rõ ràng sự nhận thức theo đúng
kiểu mẫu kỹ thuật hoặc chủ đề của Mauve. Giống như
vài họa sĩ phái La Haye, (trong số gồm có Mauve và Weissenbruch),
Van Gogh đã sử dụng từ màu đậm qua màu nhạt, làm nổi
bật sắc sảo các vỏ cây, lá cây hoặc cành cây trong bức
tranh.
Tên nàng là Christine Clasina Maria Hoornik,
còn được gọi là Sien. Nàng thường uống rượu
mạnh, hơi thở nồng nặc, lại còn đeo mang thêm bà mẹ
già nghèo khổ mà thỉnh thoảng nàng phải cấp dưỡng chút
ít.
Căn phòng rộng
rãi, ánh sáng chan hòa, anh có thể vẽ dễ dàng mà không
làm đảo lộn mọi thứ sắp bày trong
đó. Bây giờ thì anh đã nắm
được một bước chuyển động mới với màu nước.”
Số tiền cố định 150 quan mà Théo trợ cấp
hàng tháng, cộng thêm vài mối vẽ lẻ tẻ nhận từ ông
chú Cornelius (tháng 2 và 4/1882) chẳng đủ thiếu vào đâu
cho sự chi phí. Lời kêu gọi Théo gửi cho những món tiền
phụ trội càng lúc càng trở nên khẩn thiết.
Ðặc biệt là khi những phí tổn rắc rối cứ kéo dài
trong nhiều tuần lễ, anh không biết cách nào
để đương đầu.”
(12/1883
– 2/1886)
(2/1886
– 12/1887)
Trái lại,
dường như những bóng ma đau khổ
thời kỳ ở Nuenen thỉnh thoảng vẫn thấy thấp thoáng
trong nghệ thuật bây giờ của
ông.
(2/1888
– 10/1888)
(Arles)
Ở Paris,
nghệ thuật của Van Gogh đã lên đến cao độ.
Nhưng ở Arles, không bị
ảnh hưởng mảy may bởi bất cứ
ai, luôn cả Théo, sự sáng tác tiến
đến cực điểm. Nhà nghệ sĩ tự hiến mình một cách
hoang phí vào hội họa, như đã qua một lần ở Borinage
tự hiến cho lý tưởng tôn giáo. Bạn hữu ở đây của
Van Gogh chỉ là những con người bình dị đơn giản, vì
vậy mà tránh được hết các cuộc tranh luận nghệ thuật
dữ dội. Trên những bức tranh, cái ký ức về Hòa Lan thường
xuyên ẩn hiện. Những bức “Cánh Hoa Mặt Trời”,
“Căn Nhà Màu Vàng”, “Người Gieo Hạt”,
“Chiếc Thuyền Trên Bãi Biển”...
đều là những tác phẩm kỳ
diệu được sáng tạo ra trong thời kỳ này.
VVM.23.5.2025-NVA719.
