Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
        


MỘT SỐ ĐIỂM QUAN TRỌNG TRONG
ĐẠI THỪA KIM CANG KINH LUẬN

  

    

       II.

11.- VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT HỎI PHẬT :

Thế nào gọi là tu chứng được Sáu Pháp Ba La Mật ?

Phật đáp : Nếu có chúng sanh nào hay bỏ rượu thịt không dùng. Hay bỏ của cải không ham, hay bỏ ân ái không luyến, hay bỏ cái ác không làm, hay bỏ nhơn ngã không tranh. Người ấy gọi là Đệ Nhất Bố Thí Ba La Mật.

Lại nữa. Nếu có chúng sanh nào hay Giữ Giới của Phật không phạm, hay tập oai nghi của Phật, hay hàng phục được Sáu Căn, hay đoạn trừ được tà mị. Người ấy là Đệ Nhị Trì Giới Ba La Mật.

Lại nữa. Nếu có chúng sanh nào hay chịu được người chê bai, hay nhịn được người mắng nhiếc, hay lấy chơn chánh đối với tà phi. Hay lấy thuận thảo đối với trái nghịch. Không những hoàn toàn không oán hận mà còn tìm cách cứu độ kẻ thù. Người ấy gọi là Đệ Tam Nhẫn Nhục Ba La Mật. Lại nữa. Nếu có chúng sanh nào hay đọc được 12 Bộ Kinh của Như Lai, thọ trì, đọc, tụng, giảng giải; chưa thông phải thông, chưa Chứng cần phải Chứng. Người ấy gọi là kẻ được Đệ Tứ Tinh Tấn Ba La Mật.

Lại nữa. Nếu có chúng sanh nào hay đoạn được trần duyên, hay dứt vọng niệm, hay trừ được hôn trầm, tán loạn, hay tu Thiền Định, sức Định vững vàng như núi, tà ma quấy rối không tán loạn. Người ấy gọi là kẻ được Đệ Ngũ Thiền Định Ba La Mật.

Lại nữa. Nếu có chúng sanh nào hay phá được Vô Minh, không chấp các tướng. Giáo lý Phật Pháp đều thông, dứt bặt hết thị phi, ngôn ngữ đứng đắn, văn tự rõ ràng. Người ấy gọi là Đệ Lục Trí Huệ Ba La Mật.

Người nào đầy đủ Sáu Pháp Ba La Mật ấy thì người đó đã vượt khỏi sanh tử, đến bờ Giải Thoát bên kia, gọi là vuợt ra Ba Cõi, lên Thập Địa, vào Kim Cang, thành Chánh Giác.

Lược giải : Ba La Mật có nghĩa là qua “Bờ bên kia”. Lục Độ Ba la Mật là Sáu việc làm để đưa chúng sinh qua Bến bờ Giải Thoát. Lục Độ Ba La Mật gồm có : BỐ THÍ, TRÌ GIỚI, NHẪN NHỤC, TINH TẤN, THIỀN ĐỊNH và TRÍ HUỆ.

Bố Thí có hai cách : Cách thứ nhất là mang tiền của, vật chất để tặng, cho người khác. Bố Thí này chỉ có kết quả là tích góp Phước Đức. Người siêng Bố Thí như người tích lũy tài sản, sẽ được giàu có, sung sướng ở kiếp vị lai. Bố thí của đường tu là THÍ XẢ những cái Chấp của bản thân. Đó là cái Chấp Nhân, Ngã, chấp Thân Tâm là Mình nên chấp những pháp đến với mình rồi sinh ra Tham Sân Si, giận hờn, thương ghét, đố kỵ, ganh tỵ. Vào tu hành thì cao, thấp, hơn thua, muốn có Quả vị cao hơn người khác, muốn được nhiều người tôn kính, muốn có đông đệ tử.. Những thứ đó chứng tỏ cái CHẤP TA vẫn kiên cố. Vì vậy Thí, Xả Cái Chấp Ta thì mới có thể Qua Bờ Bên kia được, Vì Giải Thoát chính là gỡ những dính mắc của các Pháp đối với cái Thân. Bờ bên này là Cái CHẤP TA với bao nhiêu phiền não. Bờ Bên kia là Giải Thoát, thanh thịnh, an lạc.

TRÌ GIỚI là giữ Giới kiên cố, NHẪN NHỤC là chịu được những thử thách khó bỏ để đạt mục tiêu Giải Thoát. THIỀN ĐỊNH là Kinh VIÊN GIÁC giải thích là CHỈ, QUÁN và CHỈ QUÁN SONG TU. Tức là người NGỒI THIỀN mục đích là tập trung cả Thân, Tâm để tĩnh lặng mà Quán Sát, Tư Duy về Các Pháp, mục đích để có sự hiểu biết trên con đường tu tập gọi là TRÍ HUỆ. Càng tập trung để Quán sát, tư duy. Hành trì tất cả các ĐỘ một cách TINH TẤN thì sẽ có kết quả là được Giải Thoát tức Qua Bờ bên kia.

12.- VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT HỎI PHẬT :

Hành trì như thế nào mà được gọi là Thiện Tri Thức ?

Phật đáp : Người Thiện Tri Thức tâm tánh nhu hòa, giới hạnh tinh chuyên, không tham lam, không tật đố, không luyến tiếc vật chất, tâm hành bình đẳng, ý không thương ghét, có phương tiện rộng lớn độ mình, độ người. So lường căn cơ mà bố thí đạo đức. Đủ đại tổng trì, hảo tâm với người. Làm ơn không cầu trả, tu hành thanh tịnh, không có lỗi lầm. Thuyết pháp luận nghĩa đều hợp ý Kinh. Đủ các hạnh ấy gọi là Thiện Tri Thức.

Lại có trí huệ hơn người, phước đức xuất chúng. Không có việc gì không lành. Không có pháp gì không biết. Làm tai, mắt cho trời, người, làm rường cột trong phật Pháp. Giữ quyền hành của Phật, Tổ, làm lãnh tụ của pháp môn. Mở cửa Chánh Đạo, lấp đường tà ma, làm cho Chánh Pháp thạnh hưng, trí huệ Phật đời đời miên viễn thơm lây. Dùng Tâm ấn Tâm, lưu truyền mãi mãi. Căn cơ rộng lớn, uy thế rộng lớn. Ấy là chơn chánh Đại Thiện Tri Thức.

Lược Giải : Thiện Tri Thức là người bản thân đã thực hành, có kết quả thì mới có thể có kinh nghiệm để hướng dẫn lại cho người sau. Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA dạy muốn trở thành Chân Thiện Tri Thức cần phải “Vào nhà như Lai, Mặc Y Như Lai, ngồi Tòa Như Lai, rồi sau mới vì Bốn chúng mà giảng Kinh” tức là bản thân phải là người Chứng Đắc, không còn Nhân, Ngã. Tâm không còn tham lam, tật đố, đã đắc Cái Tâm mới có thể dùng Tâm ấn Tâm cho đệ tử cũng chứng đắc như mình. Đó mới là Chân Thiện Tri Thức.

13.- VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT HỎI PHẬT :

Tu phước nghiệp gì được sanh lên Thiên Đường ?

Phật đáp : Nếu có chúng sanh nào tin Nhơn Quả của Phật dạy, Quy Y Tam Bảo, giữ Ngữ Giới, tu Thập Thiện, phụng thờ cha mẹ, đoạn tuyệt tà dâm, thường hành chánh đạo, Trai Tăng cúng Phật, làm lành tránh ác, làm vị đại phước đức. Người ấy mạng chung liền sanh lên cõi trời thứ 33, thọ hưởng phước trời, vui thú ngũ dục nhiệm mầu, tưởng ăn có ăn, tưởng mặc có mặc. Tất cả đều tự nhiên biến hóa ra, không cần lực tạo tác. Một ngày trên trời bằng 100 năm ở nhân gian. Ai cũng có đủ năm món thần thông, khoái lạc, tiêu diêu, tự tại.

Lại nữa. Này Văn Thù Sư Lợi. Thế gian phần nhiều tà sư ngoại đạo không biết thiện ác, Nhơn Quả, không hiểu Luân Hồi báo ứng. Tâm cứ một bề ngông cuồng, điên đảo, tin theo tà kiến. Tôn thờ ma quỷ, mê hoặc người đời. Giết hại vô số cầm thú : heo, dê, trâu, ngựa. Tự mình tham ăn thịt, lại nói dối để tế trời đất, cúng thần, cúng quỷ cầu phước, cầu thọ, để bảo hộ nhà cửa, thân mạng. Lấy cớ dâng cúng quỷ thần để ăn hưởng của người. Lại thêm vẽ bùa, niệm chú, truyền dạy người đời, dối gạt rằng bùa chú này có công năng đưa người lên cõi trời, mục đích chỉ vì tham lam của người, để sanh sống cách tà vạy.

Nếu giết mạng cứu được mạng, thì các bậc vương hầu thường sống không chết. Nếu vẽ bùa, đọc chú mà hay độ người, thì các tà sư đều lên trời hết. Ở đời, những người mê muội theo các tà thuật ấy thì cả nhà đua nhau xuống Địa Ngục. Một phen mất thân người, muôn kiếp khó trở lại.

Vì sao vậy ? Vì cầu phước không có gì hơn là giữ gìn Trai Giới. Cầu Thọ không có gì hơn là không sát sanh, mà phóng sanh. Cầu Huệ không có gì hơn là học rộng, nghe nhiều. Cầu an vui không có gì hơn là dứt hết thị phi. Vậy nên muốn cầu Chánh Đạo thì không nên tin thầy tà.

Muốn thoát Luân Hồi nên không khinh thường Nhơn Quả. Tội phước báo ứng như bóng theo hình, tà chánh hai đường, vui khổ không giống nhau.

Lược giải : Muốn sinh cõi Thiên thì phải có cuộc sống chân chánh. Làm đầy đủ bổn phận của một con người đối với cha mẹ, xã hội. Giữ Giới. Không làm ác, trái lại còn hành Thiện. Tóm lại, tất cả cũng chỉ là Nhân Quả : Muốn cầu gì thì phải thực hiện. Luận chỉ rất rõ : Cầu Phước thì giữ trai giới. Cầu Thọ thì đừng Sát Sanh. Cầu Huệ thì phải học rộng nghe nhiều. Muốn Thoát Luân Hồi, muốn không bị đọa thì đừng tạo ác nghiệp.

14.- VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT HỎI PHẬT :

Thế nào là Lục Sư ngoại đạo ?

Phật đáp : Sau khi Như Lai tịch diệt rồi, có nhiều thứ Ma Ba Tuần vào trong Phật Pháp, ở trong Chùa ta, lạm xưng là đệ tử Phật, cùng với các nhà đàn việt ăn thịt, uống rượu, làm nhơ cảnh thanh tịnh của Phật. Đó là hạng ngoại đạo thứ nhất.

Lại có người đem vợ dắt con vô trong Chùa học hết giáo tướng Du Già, tự xưng để tử được truyền pháp. Uống rượu, ăn thịt mà cũng đi làm chay, tụng Kinh cho người. Không phải Tăng, không phải tục. Đó là hạng ngoại đạo thứ hai.

Lại có những người tà, trên không được thầy truyền, dưới không có thầy chứng. Bị ma quỷ ám ảnh, hiểu biết bất chánh cho là thông minh. Không có công tu hành, tự xưng mình thành đạo. Bên ngoài giống theo Phật Pháp, bên trong làm theo tà ma. Mê hoặc người đời, đưa họ vào đường tà, tiêu diệt giống trí của Phật. Đó là hạng ngoại đạo Thứ Ba.

Lại có người y theo việc hữu hình, bên ngoài riêng học phép hữu vi, vẽ bùa chú nước, sai khiến quỷ thần, phỉnh gạt người đời, ác kiến càng nhiều, tiêu diệt chánh kiến của Phật. Đó là hạng ngoại đạo thứ tư.

Lại có người y theo tốt xấu, học cách xem quẻ, bàn luận kiết hung, coi bói xem tướng, nói trước những điều họa phước, dốt gạt người làm cho Chánh Pháp của Phật phải tiêu diệt. Đó là hạng ngoại đạo thứ Năm.

Lại có người trang sức hình tướng, bụng trống lòng cao, không có tài năng gì. Chưa Chứng nói đã Chứng. Chưa Ngộ nói đã Ngộ. Học được một vài câu cho mình hoàn toàn thấu đạo lý. Không ăn dùng dầu, muối, trà, quả, tương, dấm. Giữ tà Giới, dối gạt người kém suy nghĩ là không cần xem Kinh, không cần làm phước, tu Thiền. Không cần Xuất Gia, thọ Giới. Không cần tầm sư học đạo. Dám chỉ sắc thân của mình cùng Phật không khác. Dối gạt người không hiểu biết, dắt họ đồng vào chỗ mê muội, dứt hết căn lành, tiêu diệt giống trí huệ, chấp trước, ngu si, ngoan cố. Đó là hạng ngoại đạo thứ sáu.

Những hàng Lục Sư ngoại đạo Ba Tuần này về đời Mạt Pháp vào trong Đạo ta, phá hoại Chùa chiền, hủy báng Chánh Pháp của Phật, tiêu diệt phần sự tướng của Giáo Lý Vô Thượng. Do đó nên Phật dạy các vị Đại Thừa Bồ Tát phải đem nguyện lực đầy đủ oai đức của mình tùy nơi thuận tiện, ứng hiện ra giữa đời. Hoặc làm Vua, làm quan, làm trưởng giả, mỗi người đàn việt của Phật một phương, để diệt trừ tà đạo, giữ gìn Chánh Đạo, không cho tà ma ngoại đạo tự tiện khuấy phá.

Ai làm đúng lời Phật dạy ở đây mới là đệ tử của Phật. Nếu thuận theo thầy tà đó là ma Ba Tuần. Đồng nhau hủy báng Chánh Pháp thì cùng đồng nhau vào ngục A Tỳ như tên bắn. Một phen mất thân người, muôn kiếp khó trở lại.

Lược Giải : Lục Sư ngoại đạo là sáu loại ngoại đạo vô Chùa giả làm Sư để lừa dối bá tánh. Họ không tu hành theo Chánh Pháp mà hành theo tà đạo rồi mê hoặc bá tánh, làm bùa, chú, để dối gạt rồi hưởng dụng của bá tánh, làm cho Chánh Pháp của Phật bị suy tàn, đưa con người vào chỗ mê muội, tiêu diệt giống trí huệ. Hoặc có người chưa chứng đắc mà dối là đã chứng đắc để hướng dẫn những người tin theo vào tà đạo. Vì vậy, Phật dạy những Bồ Tát Đại Thừa phải đem nguyện lực để ứng hiện giữa đời. Hoặc làm Vua, quan hay trưởng giả để giữ gìn Chánh Pháp, không để cho tà mà khuấy phá.

15. VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT HỎI PHẬT :

Hoặc có thiện nam tử, thiện nữ nhơn nào căn tánh chậm chạp, đần độn, phước đức mong manh. Tuy tin Phật tu hành, nhưng tâm không tỏ ngộ, công phu chưa rồi, có giải thoát được không ?

Phật đáp : Căn tánh tuy đần độn, nhưng có lòng tin kiên cố, chơn thật, không bỏ Trai Giới, luôn luôn phát nguyện, ăn năn sám hối cho tội chướng đời trước, đến khi mãn nghiệp rồi thì hiện tiền Tánh phát sanh, liền được sáng suốt tỏ ngộ, thấy được Bản Tánh Thanh Tịnh của mình và thành Phật.

Lược Giải : Vào tu Phật không phân biệt người học ít hay học cao. Nhiều người học cao nhưng sinh lòng ngã mạn nên không đạt mục đích cuối cùng được. Người ít học nhưng lòng tin kiên cố, tinh tấn hành trì, sám hối tội chướng, giữ trai giới thì khi nghiệp hết sẽ sáng suốt tỏ ngộ Bản Tánh mau chóng thành Phật.

16.- VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT HỎI PHẬT :

Có những chúng sanh thấy Phật không lạy, nghe Pháp không tin, gặp Tăng không kính, hủy báng người lành, phá hại người trai Giới, không tin Nhơn Quả, khinh mạn thánh hiền, trở lại tin theo tà quỷ, tạo nghiệp mãi mãi, không tu mảy thiện. Những chúng sanh ấy mắc phải những quả báo gì?

Phật đáp : Những chúng sanh ấy đầy đủ tà kiến. Trong khi sống không tin Tam Bảo giáo hóa, sau khi chết phải đọa vào đường ác, chịu các khổ não không có ngày ra. Dù có ngàn Đức Phật ra đời cũng không thể thoát được.

Lược giải : Phần này đã giải thích rõ nghiệp quả của những người không tin Nhân Quả, khinh mạn thánh hiền, không theo giáo hóa của Đạo Phật nên làm những việc ác thì kết quả là sẽ phải đọa vào đường ác. Dù Phật có ra đời cũng không thể cứu được.

17.- VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT HỎI PHẬT :

Trong tất cả các nghiệp, nghiệp nào nặng nhất ?

Phật đáp : Trong tất cả các nghiệp, Sát Sanh hại mạng, ăn thịt chúng sanh là tội nặng nhất. Vì sao vậy ? Vì xẻo một dao phải đền một dao, giết một mạng phải đền một mạng, ngàn vạn đời ăn nuốt lẩn nhau mãi mãi. Vậy nên Bồ Tát muốn thoát Luân Hồi trước hết phải học Từ Bi, không ăn, không giết.

Thứ hai là Trộm cắp, phá hại sự giàu sang của người, vốn ít, lời nhiều. Cho nên muôn ngàn kiếp phải đền nợ cũ. Vì sao vậy ? Vì vật thuộc kẻ khác, không cho mà tự lấy, đồng tiền hạt gạo đều phải trả lại. Cho nên tu đạo Bồ Tát muốn có nhiều của cải, được giàu sang như ý muốn thì trước hết phải tu hạnh Bố Thí, sao lại trộm cắp, dối gạt người ?

Thứ Ba là phạm tội Dâm Dục, ân ái buộc ràng trong muôn ngàn kiếp không thể giải thoát. Vì sao vậy ? Vì Dâm Dục là hột giống chánh thức của sanh tử, trước hết phải đoạn trừ ái dục.

Thứ Tư là phạm tội Vọng Ngữ. Khẩu nghiệp vu khống, hủy báng lẫn nhau. Muôn ngàn đời phải trái, chống nhau, cãi nhau. Vì sao vậy ? Vì oan oan tương báo, đời đời muốn nuốt lẫn nhau bằng lời nói. Cho nên Bồ Tát muốn đắc đạo trước hết phải thành thật, trừ khử dối trá.

Thứ Năm là phạm tội Uống Rượu. Rượu làm mê mờ Chân Tánh muôn vạn kiếp, tâm trí tối tăm. Vì sao vậy ? Vì rượu có năng lực làm cho tâm trí ám độn, đời đời ngu si, thân thể hôi hám, say sưa, nghiêng ngửa. vậy nên Bồ tát muốn cho tinh thần định tĩnh, trí huệ thông minh thì phải dứt nghiệp uống rượu.

Năm nghiệp này rất lớn, rất nặng. Người nào giữ được hoàn toàn sẽ thành đạo. Ngược lại, người nào hoàn toàn trái phạm thì vĩnh kiếp sa đọa luân hồi. Một phen mất thân người, muôn kiếp khó trở lại.

Lược giải : GIỚI của Đạo Phật như là bờ bao, vòng đai, cho người ở trong đó được an toàn. Người giữ được Năm Giới là người dù chưa tu hành cao đạo, nhưng cũng là một người thanh cao, tốt đẹp, vượt xa những người được cho là phàm phu, chỉ biết chìu theo sự đòi hỏi của Lục Căn.

Sát, là giết những con vật, mục đích là để ăn cho khoái khẩu. Thời xưa thì muốn ăn thịt con nào thì phải đích thân giết nó để ăn. Ngày nay thì có những lò sát sinh người ta giết hàng lọat trâu, bò, gà, vịt, heo … để cung cấp cho thị trường. Người muốn ăn thịt loại nào không phải tự tay giết, và cũng không mang tội nó chết do mình, dù vẫn phải chia nghiệp gián tiếp. Nhưng vẫn có những người đòi hỏi thịt phải tươi, phải tự tay giết hay ra lịnh cho người bán giết ngay trước mắt thì họ mới chịu !. Vào tu Phật chúng ta học Tâm Từ, không tướt đoạt sinh mạng của loài vật, vì chúng nó cũng có đực, cái, cũng có đôi có cặp, sinh con đẻ cái, tất nhiên không muốn phải chịu chia lìa. Hơn nữa, oan oan tương báo, Nghiêp Sát thì sẽ đoản thọ. Vì vậy, muốn sống lâu thì không nên sát sinh, hại vật.

ĐẠO hay trộm cắp hoặc bằng cách nọ cách kia chiếm đoạt của người khác để làm giàu bất chính. Vào tu Phật chúng ta được học đạo lý, không xâm phạm của người khác, giữ đức công bằng. Nếu không bỏ được cái Tâm trộm cắp thì làm sao tu hành cho thành công được.

DÂM hay tham muốn không biết đủ. Không cứ là Dâm dục, mà tham đủ thứ nhằm cung cấp thỏa mãn các sở thích cho Lục Căn. Đã có vợ nhà còn thèm muốn ngoại tình. Thấy người có những gì vừa ý thì cứ muốn chiếm đoạt. Người muốn tu thành công thì phải kiềm chế cái Tâm mình, không để cho cái Tham lôi đi để làm những việc bất chính.

VỌNG NGỮ. Người tự trọng còn không nói hai lời huống là người tu hành mà còn chuyện có nói không, chuyện không nói có. Chỉ cần là Người có nhân cách thì lời nói lúc nào cũng chuẩn mực huống là người tu hành mà lại nói những lời xảo ngôn ?

TỬU là rượu chè say sưa vô độ. Người nhậu nhẹt say sưa thì còn làm sao tỉnh táo để mà quán sát, tư duy, tu hành ? Những Giới Phật ra thì những người có chút đạo đức làm người cũng không vi phạm. Lẽ nào người đã cho là bỏ đời để đi tu mà còn Phá Giới ?

18.- VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT HỎI PHẬT :

Tạo những nghiệp gì phải chịu quả báo làm Ngạ Quỷ ?

Phật đáp : Hết thảy chúng sinh vì bỏn xẻn của cải, tham tiếc ăn mặc, dối gạt trộm cắp của công để riêng mình thọ dụng. Có người nghèo đói đến xin cũng không giúp đỡ một đồng nào mà còn sân hận mắng nhiếc. Chỉ mưu đồ no ấm thân mình, không thương người khác đói lạnh. Người keo kiệt như vậy sau khi chết quyết định phải đọa trong loài Ngạ Quỷ, chịu đói lạnh mãi. Cổ nhỏ như kim. Bụng to bằng trống. Đầu lớn như núi. Không thể ăn uống, dầu gặp được đồ ăn đồ uống, thì đồ ăn uống tự nhiên hóa thành sắt nóng, nước đồng sôi. Đói đến miệng khạc ra sắt nóng. Mũi phun khói xanh. Thân hình trần truồng, đen đủi, gầy ốm, cho đến lúc ấy mới hết nghiệp Ngạ Quỷ.

Lược Giải : Ngạ Quỷ được dịch là Quỷ đói. Người thọ nghiệp này do quá tham lam, ích kỷ, bỏn xẻn, chỉ biết có bản thân, không hề giúp đỡ người khác. Người tu Phật phải có Tứ vô Lượng Tâm tức là Tâm Từ, Tâm Bi, Tâm Hỉ, Tâm Xả. Có điều kiện thì giúp đỡ những người gặp hoàn cảnh khó khăn, đó cũng là một cách tích lũy phước đức theo Luật Nhân Quả.

19.- VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT HỎI PHẬT :

Tạo những nghiệp gì đọa làm Súc Sanh ?

Phật đáp : Tất cả chúng sanh tham ăn uống rượu thịt, giết hại cầm thú làm tiệc ăn chơi, ca hát vui thú, nên phải trả quả làm Súc Sanh đền mạng oan trái kiếp trước.

Lại có người vay mượn tiền tài của kẻ khác trả chưa đủ. Hoặc có người trộm cắp, lường gạt, nên phải bị quả báo làm Súc Sanh mới thoát khỏi Luân Hồi.

Lược Giải : Theo Đạo Phật, những gì thể hiện trong hiện kiếp của mỗi chúng ta là cái Quả của những gì đã làm ở tiền kiếp, và những gì chúng ta đang làm ở kiếp này sẽ là Nhân cho kiếp sau. Cả kiếp sống chúng ta thuần thục với kiểu sống thế nào thì khi hết kiếp sẽ đầu thai về đó. Làm một con người thì phải ngay thẳng, hòa đồng. Yêu kính cha mẹ, giúp đỡ mọi người. Làm tròn bổn phận của con người đối với xã hội. Không gian tham, lừa lọc, hại người. Không tạo Ác Nghiệp thì sau khi hết kiếp sẽ trở lại làm người với những phước báo đã tạo. Ngược lại, người chỉ quen chơi bời, phóng túng, thích những thú vui hạ cấp, gần với loài vật hơn thì tất nhiên sau khi hết kiếp sẽ theo tập khí mà sinh vào loài súc sanh thấp hơn con người. Đó là tập khí thuần thục vậy.

20.- VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT HỎI PHẬT :

Thế nào gọi là Nhất Thế TAM BẢO ?

PhẬt đáp : TÁNH LÀ PHẬT BẢO, vì Như Như bất động vậy.

TÂM LÀ PHÁP BẢO, vì sáng suốt quyết định công bằng chánh trực vậy.

THÂN LÀ TĂNG BẢO, vì Trai Giới thanh tịnh vậy.

Lược giải : TAM BẢO là PHẬT, PHÁP, TĂNG nhưng không phải Phật là những Tượng đúc, tạc theo những tướng tốt của Phật ở trong Chùa. Pháp là những gì Đạo Phật dạy và TĂNG là những vị Sư ở trong Chùa. Phật có thể hiểu là những vị đã được thành công trên con đường Giái Thoát. Đó là Đức Thích Ca, Chư Tổ và Chư Vị Giác Ngộ. PHÁP là những những gì Có Tướng hàng ngày chúng ta phải đối mặt. trong đó có pháp Thuận làm cho ta hài lòng, vui vẻ và Nghịch Pháp là những pháp làm cho ta phải Phiền Não. Vào tu Phật thì mọi người được học Phật Pháp, là cách thức hiểu, hành để đi đến kết quả Giải Thoát. TĂNG là những vị tu hành theo Đạo Phật. Luận này giải thích : Mỗi người đều có TAM BẢO, vì đều có PHẬT TÁNH, CÓ CHÂN TÂM và có Cái Thân nhưng hướng về con đường tu hành chân chính.

21.- VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT HỎI PHẬT :

ThẾ nào gọi là Ba Tịnh Giới ?

Phật đáp : Thứ nhất BỎ HẾT ÁC TÂM

Thứ Hai : ĐẦY ĐỦ THIỆN TÂM

Thứ ba : ĐỘ HẾT CHÚNG SANH.

Ấy là ba món Tịnh Giới của Bồ Tát.

Lược Giải : Ngoài Ngũ Giới mà người tu cần giữ, mọi người còn phải Cải Ác, Hành Thiện và làm Hạnh Bồ Tát để cứu độ cho hết Chúng Sanh. Chúng sanh mà Đạo Phật mong mỏi mọi người tu hành phải cứu độ không phải là những con người bên ngoài, mà là những Cái Khởi còn mang tính xấu, ác, chưa thanh tịnh của mình. Cứu độ cho hết Chúng sanh này thì mới Giải Thoát hay thành Phật được.

22.- VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT HỎI PHẬT :

Tu phước nghiệp gì thường được làm thân đàn ông ?

Phật đáp : Cung kính Tam Bảo, Hiếu dưỡng cha mẹ. Thường tu Thập Thiện. Thọ trì Năm Giới. Tâm hành chánh đạo. Chí mộ hiền lương, làm các căn lành ấy thường được thân đàn ông.

Ba kiếp không tu như thế liền đọa vào thân đàn bà, và trong năm trăm năm được làm người một phen. Hoặc trong khi chuyển đổi thân như thế quên mất nhơn làm lành kiếp trước, gặp phải nhơn duyên xấu ác, đồng làm điều bất thiện, liền mất thân người, muôn kiếp khó trở lại.

Lại nữa. Văn Thù Sư Lợi; Nam thân có đủ Bảy Thứ Báu. Nữ thân có đủ Năm thứ hữu lậu.

Những thứ gì là bảy báu ?

Báu thứ nhất là CHÍ KHÍ : Dạo chơi đến đâu cũng không sợ.

Báu thứ hai là LÀM CHỦ : Làm việc gì cũng nắm được quyền hành.

Báu Thứ Ba là THÀNH GIA NGHIỆP : Nghĩa là hay sanh tài lập nghiệp.

Báu Thứ Tư là AN THÂN : Hay có trí tuệ quyết đoán phải trái như thánh nhơn.

Báu thứ Nam là AN BANG : Nói ra lẽ phải, trên dưới đều nghe.

Báu thứ Sáu là ĐỊNH TÁNH : Hay thân cận người hiền, tôn thờ các vị Thánh. Như thế gọi là thân nam tử có bảy thứ báu.

NhỮng gì là Năm thứ hữu lậu của nữ thân ?

1.- Không được làm chủ thân mình.

2.- Không được làm chủ nhà.

3.- Không được làm chủ người.

4.-Không được làm chủ của cải.

5.- Không được làm chủ thánh nhơn.

Như thế gọi là thân đàn bà có Năm thứ hữu lậu.

Lược Giải : Nhiều chỗ trong Kinh thường chê đàn bà là nặng nghiệp, không thể tu hành được. Theo truyền thuyết. Khi Di mẫu của Phật muốn xuất gia tu hành thì ngài A Nan phải nhiều lần xin với Phật thì Phật mới chấp nhận nhưng cho rằng “Trong Chánh Pháp của ta mà có đàn bà gia nhập thì năm trăm năm sau sẽ suy đồi”. Nhưng về sau thì Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN giải thích : “Đàn bà chính là những người mang thân đàn ông, nhưng không Thấy Tánh”. Trong nhiều Kinh đã chứng minh : Mạt Lợi Phu nhân, Thiên Nữ, Thắng Man Phu Nhân, tuy mang thân đàn bà, nhưng cũng Kiến Tánh, Thành Phật.

Kinh Lăng Nghiêm viết : “A Nan. Ta có dạy các Bồ Tát và A La Hán : Sau khi ta diệt độ rồi các ông phải thị hiện thân hình trong đời mạt pháp để cứu độ các chúng danh đang trầm luân. Hoặc thị hiện làm Thầy Sa Môn, Cư sĩ, Vua, quan, đồng nam, đồng nữ, cho đến hiện đàn bà góa, kẻ dâm nữ, người buôn bán để lẩn lộn trong từng lớp người, làm chung một nghề nghiệp đặng giáo hóa chúng sanh trở về chánh đạo”.

“Nhưng các vị ấy quyết chẳng bao giờ nói : “Ta đây thật là Bồ Tát hoặc A La Hán v.v..” hay tỏ ra một vài cử chỉ gì làm tiết lộ sự bí mật, để cho người ta biết mình là Thánh Nhân thị hiện. Chỉ trừ sau khi mạng chung rồi mới âm thầm để lại một vài di tích cho người biết thôi”. Rõ ràng, việc tu hành chứng đắc đâu có liên quan đến tướng Nam hay tướng Nữ. Vì tu Phật là Tu Tâm. Quan trọng là người có ý chí và quyết tâm. Ai hội đủ những yếu tố đó, đồng thời kiên trì Giữ Giới. Đi trong Bát Chánh Đạo. Gặp được Minh Sư để hướng dẫn, Sửa được Tâm, thì người đó sớm hay muộn cũng sẽ được Giải thoát.

23.- VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT HỎI PHẬT :

Lúc trẻ tạo nghiệp ác, đến khi già tu hành có thể thành Phật được không ?

Phật đáp : Bể khổ mênh mông, quay đầu là bờ bến. Nếu người nào hồi tâm phát nguyện tu hành, bỏ quấy theo phải, cải ác tùng thiện, trường trai giữ Giới, Tâm cầu Minh Sư, thấu rõ Chánh Pháp thì không luận già hay trẻ, hễ có chí tu hành thảy đều thành Phật.

Lược giải : “Bể Khổ mênh mông. Quay đầu là bờ”. Việc tu hành đâu có đòi hỏi Nam hay nữ, trẻ hay già, học nhiều hay học ít, tu lâu hay mới nhập môn. Có gia đình hay độc thân ? Vua quan hay tiện dân ? Chỉ cần có quyết tâm, biết cách tu hành đúng thì sẽ đạt kết quả như nhau.

24.- VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT HỎI PHẬT :

Có Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn, một đời trai giới, trồng căn lành, đến khi già điên đảo, phá trai phạm Giới, mắc phải quả báo gì ?

Phật đáp : Các chúng sanh ấy, tuy có căn lành, nhưng không có sức đại nguyện. Không hiểu biết chơn chánh. Xa lìa Minh Sư, nên mất hết công đức tu hành trước kia. Bị giặc Lục Căn xoay chuyển phản loạn, cướp mất công đức, sanh tâm điên đảo, không thể thành đạo.

Trong ấy, hoặc có người chỉ riêng phạm tội ăn thịt, quyết phải đọa vào thần đạo. Thượng phẩm làm quỷ vương, trung phẩm làm quỷ dạ xoa, hạ phẩm làm quỷ La sát.

Ba hạng này thọ sự cúng tế của người đời, đến khi năng lực phước đức tiêu hết, phải theo nghiệp lực mà luân hồi. Một phen mất thân người, muôn kiếp khó trở lại.

Lại nữa. Hoặc có người chỉ riêng phạm Giới Uống Rượu, quyết định phải đọa trong loài Quỷ. Thượng Phẩm làm Quỷ có của cải. Trung phẩm làm Quỷ Phong Nguyệt. Hạ Phẩm làm Quỷ Tiêu tán. Đến khi năng lực phước đức hết rồi, phải theo nghiệp báo mà chịu luân hồi. Một phen mất thân người, muôn kiếp khó trở lại.

Lại nữa. Người chỉ riêng phạm Giới Dâm Dục quyết phải đọa trong loài Ma. Thượng phẩm làm Ma Vương. Trung Phẩm làm Ma Dân. Hạ Phẩm làm Ma nữ. Phước hết thì theo nghiệp báo mà luân hồi. Một phen mất thân người, muôn kiếp khó trở lại.

Lại nữa. Có người chỉ riêng phạm Giới Trộm Cắp, quyết định đọa trong loài tà ma. Thương Phẩm làm Linh tinh. Trung phẩm làm yêu quái. Hạ Phẩm làm người tà. Đền khi tà khí tiêu hết phải theo nghiệp báo mà luân hồi. Một phen mất thân người, muôn kiếp khó trở lại.

Lại nữa. Có người chỉ riêng phạm Giới Vọng Ngữ. Chưa được nói đã được. Chưa Chứng nói đã Chứng. Bụng trống lòng không, quyết định phải đọa trong loài yêu quái. Thượng phẩm làm Ly Mỵ. Trung phẩm làm Vọng Lượng. hạ Phẩm làm y thảo phụ mộc. Đến khi yếu khí tan hết phải theo nghiệp báo mà luân hồi. Một phen mất thân người, muôn kiếp khó trở lại.

Lại nữa. Có người nhiều Sân Hận, tuy có phúc đức, nhưng quyết định phải đọa vảo đường ác làm A Tu La. Thượng phẩm làm A Tu La Vương. Trung phẩm làm dân A Tu La. Hạ phẩm làm nữ A Tu La. A Tu La thường ưa thích đấu tranh, chịu lao khổ vô cùng. Đến khi hết phước phải theo nghiệp báo luân hồi. Một phen mất thân người, muôn kiếp khó trở lại.

Vì sao vậy ? Vì người tu hành ăn thịt mà muốn thành đạo cũng như nhận oán tặc làm con để mưu cầu thân thích thì không thể được.

Người tu hành phạm Giới Uống Rượu mà muốn thành đạo cũng như uống thuốc độc để cầu an vui thì không thể đươc.

Người tu hành phạm Giới Trộm Cắp mà muốn thành đạo cũng như dùng lu lủng dáy để đựng đầy nước thì không thể được.

Người tu hành mà phạm Giới Nói Dối, lấy giả làm thật mà muốn thành đạo cũng như kẻ phàm phu tự xưng mình là Quốc Vương để cho giàu sang thì không thể được.

Tâm mình thường giận hờn, Tánh hay tranh hơn thua, người ấy thiếu lòng Từ Bi, bình đẳng mà muốn thành đạo cũng như kẻ chèo thuyền lủng mà mong qua bể cả. Rốt cuộc phải chìm đắm nơi bể sâu. Chính người ấy tự đọa chớ không phải Phật không cứu.

Nếu muốn thành tựu Quả bồ Đề mầu nhiệm, tự mình phải giữ gìn trai giới thanh tịnh của Như Lai. Thà chịu bỏ thân mạng, không dám hủy hoại cấm Giới. Phật hứa người ấy tức thời thành Phật.

Phật dạy Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng : Quả Phật có ra là từ chỗ giữ gìn Trai Giới thanh tịnh. Quả Phật từ chỗ chơn thật không thối lui mà được. Quả Phật từ chỗ tu hành bình đẳng, không biết oán thân mà được. Quả Phật từ chỗ hạ mình xuống tầm cầu Minh Sư mà được. Quả Phật từ chỗ Từ Bi, Nhẫn nhục mà được. Quả Phật từ chỗ Tinh Tấn tu hành, Giải Thoát Phiền Não mà được. Quả Phật từ chỗ khó làm hay làm, khó xả hay xả, khó học hay học mà được. Cho đến Quả Phật là từ chỗ hay gieo trồng tất cả giống Trí Huệ mà được.

Lược Giải : Luận nói rõ cái Quả những người không giữ Giới. Đã phát tâm tu hành rồi thời gian sau lại không đủ sức đại nguyện , xa lìa Minh Sư nên mất hết công đức, bị Lục Căn xoay chuyển trở lại phàm phu. Nhiều lần nhắc lại là “Một phen mất thân người, muôn kiếp khó trở lại”.

Phật dạy có NĂM ĐIỀU KHÓ ĐƯỢC : “Nhân Thân nan đắc. PhẬt Pháp khó được nghe. Khó sinh ra cùng thời với Phật. Khó được sinh ra nơi có Phật Pháp lưu hành. Thiện Tri Thức khó gặp” . Theo Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN, thì “số người chết rồi được trở lại làm người như chút đất dính trên đầu móng tay so với đất trên trái đất”. Có được Thân Người, được sinh ra làm con người là nhờ kiếp trước chúng ta có tu hành, không gây ác nghiệp nên mới được sinh ra làm con người. Vì thế, không nên tạo ác nghiệp để như trong Luận này viết : “Một phen mất thân người. Muôn kiếp khó trở lại”, bởi nếu phải sinh vào loài Súc sinh thì đầu óc u mê, chỉ biết đấu tranh với nhau, lo giành ăn để sống, hết kiếp thì chết. Làm sao biết có Giáo Pháp, biết có con đường tu hành để Giải Thoát ?. Về được sinh cùng thời với Phật hay nơi có Phật Pháp lưu hành và gặp được Thiện Tri Thức thì chúng ta may mắn có được những Bộ Chính Kinh, là những lời giải thích, hướng dẫn của Chư Vị Giác Ngộ nhiều đời để lại. Đọc Kinh là chúng ta được chính các Vị trực tiếp hướng dẫn cho những gì nên làm, nên tránh. Những gì sẽ phải gặp trên con đường tu hành, cho đến rốt ráo Giải Thoát.

Luận cũng nêu rõ những việc làm ra Quả Phật : Giữ gìn trai Giới. Chơn thật không thối lui. Tu hành bình đẳng, không biết oán thân. Hạ mình tìm cầu Chân Minh Sư. Từ Bi, nhẫn Nhục, Tinh Tấn tu hành. Việc khó làm hay làm, khó xả hay xả. Gieo trồng các giống Trí Huệ. Nếu chúng ta kiên trì hành theo những lời hướng dẫn thì chắc chắn sớm hay muộn cũng sẽ có kết quả.   -./.

......(Còn tiếp)




VVM.17.5.2025.