Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
      



  HOA VỚI LÁ CHỈ MỘT MÀU TRẮNG ĐỤC



Nguyên tác của Gideon Telpaz

     Vài Hàng Về Tác Giả:

     Vài hàng về tác giả: Gideon Telpaz đậu cao học văn chương tại Hebrew University. Ông chuyên viết truyện dài, truyện ngắn, kịch bản và phê bình văn học. Năm tuyển tập truyện ngắn đã được xuất bản. Ông từng đoạt các giải thưởng Acum Prize, Anna Frank Prize, Valenrod Prize và giải nhất về kịch bản vào năm 1967 do hội đồng văn chương và kịch nghệ Do Thái trao tặng.



V ào lúc 7 giờ 45 phút sáng, ánh nắng ban mai chiếu xuống cửa sổ bệnh viện với những tia sáng vàng tươi. Sau khi đậu chiếc xe vào chỗ dành riêng, Jacob, viên y sĩ bước ra khỏi xe. Một tràng tiếng vang o o từ xa vọng lại, ông ta ngừng chân trên con đường trải sỏi và nhìn lên bầu trời. Sương ban mai còn hờ hững treo trên những ngọn núi phía xa và bầu trời hoàn toàn trong sáng. Cuối cùng ông ta nhận ra tiếng vang trên chỉ là tiếng động của chiếc máy trộn xi măng nơi cánh mới của bệnh viện đang được xây cất thêm.

Jacob băng qua sân cỏ, đi vào cửa đối diện với phòng cấp cứu rồi xuống cầu thang vào phòng thay quần áo. Cảm giác lành lạnh của chiếc áo xanh mặc bên trong làm ông thấy thoải mái. Khoác vội chiếc áo choàng trắng ra ngoài, ông bước ra phía cầu thang máy để lên lầu thứ năm. Tại khu y tá làm việc, một cô y tá trẻ đang cắm cúi trên cuốn sổ dầy, lọn tóc sau gáy được buộc bằng một sợi dây cao su, tay áo cuộn cao khỏi khuỷu tay, đôi môi dày mọng đỏ.

Mắt chăm chú nhìn vào biểu đồ báo cáo hàng đêm, viên y sĩ nói với cô:

- Nói cho tôi biết tại sao chưa có chàng nào bắt cóc cô đi vậy, Ditza?

- Tại sao phải vậy, thưa bác sĩ? - Cô y tá chúm môi ngửng lên nhìn ông.

Ông nhìn chăm chăm vào mắt cô:

- Vẫn mơ mộng vì yêu đương à?

- Ai mà chả vậy.

- Yêu đương là một căn bệnh, giống như bệnh của loài sò vậy.

- Chữa bệnh là nghề của tôi mà, thưa bác sĩ.

Cánh cửa phòng bên cạnh bật mở. Trên những chiếc giường trắng toát, những bệnh nhân đang ăn điểm tâm. Một luồng gió nhẹ thổi qua các cửa sổ mang theo hơi hướng núi rừng. Viên y sĩ nhắm mắt lại, hít một hơi dài không khí trong lành buổi sáng sớm. Khi ông mở mắt ra thì thấy bác sĩ Katros đang đi lại phía mình.

- A, ông đã ở đây rồi, tôi tìm hoài ở dưới nhà mà không thấy. Đừng nói với tôi là ông chưa nghe tin tức mới nhất nhé. Báo động đỏ.

Đầu óc như tê dại, ông nhìn qua cửa sổ. Bầu trời vẫn trong xanh nhưng không khí hầu như đặc quánh và rung động. Một chiếc máy bay trực thăng thoáng hiện ở chân trời.

Katros nói tiếp:

- Họ xếp tôi với ông vào cùng một toán. Ông có xuống dưới bây giờ không?

Ông lắc đầu, Katros nhướng mắt nhìn, môi mấp máy định nói gì rồi bước đi về phía thang máy. Khi Katros đã đi khuất, ông bước vào phòng dành cho bác sĩ và đóng cửa lại. Qua khung cửa sổ, các tế bào mắt bắt đầu phân biệt màu sắc cảnh vật: màu xám nhạt của các cây Olive và cây thông trên các trườn dốc, màu xám tro của bãi đất, màu đen sậm của con đường trải nhựa chạy vòng qua ngọn đồi phía dưới tu viện. Phía xa, lớp sương phủ trên các ngọn núi đã tan và đỉnh đã hiện lên rõ. Từ hướng đông, một chiếc trực thăng xuất hiện trên nền trời xanh nhạt, chiếc bóng trườn chạy nhấp nhô qua những ngọn đồi, tiếng máy rầm rầm rì rì vọng lại qua các rặng núi. Rồi một lúc sau, nó hạ dần xuống sân bệnh viện. Những cánh quạt to lớn tiếp tục quay tròn như muốn cắt khoảng không khí ra thành những lát mỏng. Ba chiếc xe cấp cứu phóng vội ra, các sinh viên tập sự khiêng cáng phóng xuống, chạy rạp dưới làn không khí cuồng loạn. Khi các thương bệnh binh đã được chuyển hết ra khỏi chiếc trực thăng, những chiếc xe lần lượt lăn bánh về phía phòng cấp cứu, chiếc trực thăng từ từ cất lên khỏi mặt đất, nó lượn một vòng trên khu bệnh viện rồi bay trở lại về phía hướng đông, sau cùng mờ dần, chỉ còn để lại trên nền trời một hình bóng nhỏ như một con chim, con châu chấu, một con ong, một con ruồi, rồi cuối cùng biến mất hẳn sau rặng núi.


Viên y sĩ rời khỏi khung cửa sổ đi trở về khu y tá. Ditza đứng bất động đang chăm chú nghe bản tin phát ra từ chiếc máy phát thanh nhỏ để trên bàn, một cuộc hành quân đại quy mô đã thực hiện vào buổi sáng nay với mục đích tiêu diệt những căn cứ quân khủng bố dọc theo khu phi quân sự. Cô ta tắt chiếc máy phát thanh rồi quay sang nói với ông:

- Chiến tranh chẳng bao giờ chấm dứt, phải không bác sĩ? Bên nào sẽ thắng cuộc chiến này?

Cô ta không cười nữa, giọng nói run run đầy lo lắng.

Viên y sĩ bước vào thang máy đi xuống từng lầu trệt. Phòng cấp cứu giờ đây nhộn nhịp hẳn lên. Trên tấm bảng thông cáo, vài miếng giấy mới đã được gắn lên. Katros nói đúng: cùng một toán.

Những chiếc cáng này tiếp cáng kia được mang vào phòng. Mùi hôi hám khó chịu phút chốc tràn ngập căn phòng: mùi máu tanh tưởi, mùi thịt cháy trộn lẫn với mùi quần áo trận ướt đẫm mồ hôi. Chỉ một năm trước đây khi chiến tranh ở mức khốc liệt, ông nằm trong lữ đoàn thủy quân lục chiến, lúc đó mỗi ngày số thương vong một gia tăng, một bệnh viện dã chiến tạm thời được xây dựng ngay sau một vườn cam làm khu ranh giới với phía địch quân, phía bên kia là một vườn cây ăn trái và dãy hàng rào bằng cây xương rồng. Từ phía bên này ông có thể nhìn thấy thấp thoáng bóng dáng địch quân mang mặt nạ qua lại, thỉnh thoảng bắn qua một cách bâng quơ. Ông làm việc đêm ngày, lo cho các thương binh trước khi một viên đạn găm vào tay. Nhưng không vì vậy mà bỏ cuộc, sau khi chỉ dẫn cho viên phụ tá băng bó vết thương cho chính mình, ông tiếp tục săn sóc các thương binh. Suốt đêm quân địch từ vườn cây ăn trái bắn qua bên này và ông cũng chẳng lưu tâm vì quá bận rộn với hàng lớp thương binh đang quằn quại trên giường bệnh.

Giờ đây, tiếng súng trường cũng như tiếng súng cối vọng lại suốt ngày và mỗi lúc số thương binh được tải về càng nhiều. Phòng cấp cứu trở nên chật chội không đủ giường cho nhu cầu. Ông cúi xuống một thương binh trẻ tuổi, toàn thân bị cháy xém ngoại trừ chiếc đầu. Anh ta đang nằm dán mình trên chiếc cáng, bộ quần áo trận rách bươm tơi tả.

- Phỏng 80 phần trăm, cấp ba - Ông nói với Katros.

Về phương diện y khoa, đây là một lời kết án tử hình, nhưng ông chỉ là một bác sĩ chứ không phải là ông quan tòa. Con mắt sáng và trong xanh của người thương binh nhìn theo ông với nụ cười đau đớn, lúng túng và gượng gạo. Anh ta tên là Yuval.

- Anh bị thương ra sao?

- Một viên đạn bắn trúng khi tôi đang ở bên trong chiếc xe tăng. Còn hai người nữa ...

- Họ ra sao?

- Chiếc xe tăng bốc cháy, hai người kia không nhẩy ra ngoài kịp.

Nhóm thương binh kế tiếp đổ tới nên Yuval phải chuyển vào đơn vị kế. Mọi việc khác trước xa, rất có trật tư ngăn nắp.

Trong bệnh viện dã chiến vào giờ này năm ngoái, ông là viên y sĩ độc nhất nên không có thì giờ nghĩ tới vết thương của chính mình. Ông ở lại với lữ đoàn cho tới hết ngày hôm sau trước khi gục xuống vì kiệt lực, sau đó được chở tới một bệnh viện phía bắc. Nằm được một ngày, ông trốn khỏi bệnh viện để tìm về đơn vị cũ. Bấy giờ đơn vị của ông đóng tại một ngôi nhà thật lớn mà mỗi phòng sơn một màu khác nhau. Nước thật bẩn, mỗi buổi sáng lính tráng cạo râu phải dùng bia Amstel thay cho nước; bia này được mua lại từ toán lính Ba Tây thuộc đoàn quan sát Liên Hiệp Quốc. Vào buổi trưa, viên Đại Tá chỉ huy trưởng lữ đoàn đứng lên, đưa cao ly bia lên rồi nói lớn:

- Tất cả hãy cạn ly mừng bác sĩ "bánh mì-mứt". Bác sĩ đáng được đề nghị gắn huy chương anh dũng bội tinh.

Chẳng là một tháng trước đó, không một người nào trong đơn vị lại không bị tiêu chẩy. Trời nóng bức, trong bóng mát nhiệt độ lên tới 110 độ F., ông phải ra lệnh khẩu phần cho binh sĩ chỉ có bánh mì, mứt và trà thôi. Khi nghe được các lời than phiền, ông chỉ nói:

- Các bạn muốn chết thì hãy chết dưới viên đạn của quân thù chứ đừng phải chết vì bệnh tiêu chẩy.

Từ đó ông có biệt danh là bác sĩ "bánh mì-mứt" vậy.


Những chiếc trực thăng đáp xuống rồi bốc lên liên tục suốt ngày, đêm xuống thật nhanh. Tiếng súng từ xa vẫn liên tục vọng lại. Những chiếc cáng đặt dọc suốt các dãy hành lang bệnh viện và nhiều thương binh đã chết trên giường. Chỉ cho đến nửa đêm khi toán thương binh cuối cùng được chở đến, tiểu đoàn nhẩy dù đã chiến đấu suốt từ sáng sớm cho tới khi trận chiến tạm ngừng. Viên đại tá dù cùng một toán lính ngồi trên chiếc xe halftrack phóng thẳng từ mặt trận về bệnh viện.

- Xin săn sóc kỹ cho người này - Viên đại tá nói với ông, tay chỉ một thương binh mới được đưa từ xe xuống, nét mặt người lính hãy còn ngời lên như thể còn đang ở ngoài mặt trận. - Anh ta chiến đấu thật can đảm như một con cọp, rất xứng đáng lãnh một huy chương.

Viên y sĩ không nói một lời.

Toán lính rời khỏi nhà thương sau khi được băng bó sơ sài. Tiếng ồn ào trong phòng cấp cứu đã giảm dần, những binh sĩ bị thương đã được phân phối tới các phòng khác trong bệnh viện. Sau cùng khi ông ngồi sau tay lái chiếc xe thì kim đồng hồ đã chỉ 2 giờ sáng. Lái xuống con đường mờ tối, ông quay lại nhìn khu bệnh viện lúc này nó trông giống như một con tàu ma quái đang chập chờn trên mặt biển đen tối. Đôi chân tê dại nên rất khó đạp ga vì đã đứng suốt 18 giờ không ngừng nghỉ. Hai bên thái dương đau nhói, đầu nghiêng ngả, ông cảm thấy như có cát trong mắt. Sợ phải ngủ gục ở dọc đường, ông quay cửa kính xuống và phóng hết ga.


Sáng hôm sau vào lúc 7 giờ 45, ông đã có mặt tại bệnh viện. Bước dọc theo hành lang về phía trạm y tá làm việc, Ditza đang bận rộn với những chai lọ ngổn ngang và khi ông tiến lại gần, cô ta đang lắc một lọ thuốc. Chắc là cô không còn tinh thần nào bàn luận về ngọc trai và sò nữa.

- Họ nằm ở phòng nào? - Ông hỏi sẵng và cô ta hiểu là ông ám chỉ ai.

- Phòng số 8.

Có 5 người nằm tại phòng này, hai người bó bột, một người đầu băng kín và hai người bị phỏng nặng. Yuval nhận ra ông trước tiên và gật đầu chào. Chiếc đầu của hắn toàn vẹn ngoại trừ vài vết phỏng nhẹ. Chiếc cằm nhọn, chiếc mũi thẳng, miệng rộng với hai gò má cao, đôi mắt tinh anh; tuy vậy từ cần cổ trở xuống, cơ thể hắn chỉ là một đống thịt bầy nhầy.

- Tôi thấy mình như đang ở trong một trại khỏa thân vậy. - Người thương binh nói đùa.

- Tôi sẽ che lại sau khi khám xong.

Yuval gật đầu, hai lỗ mũi phồng lớn như thể đang cố gắng ngửi lấy mùi da thịt cháy của mình. Hắn không còn đủ da trên cơ thể để có thể ghép được nữa. Cả những bắp thịt cũng bị cháy xém nên không thể ngồi dậy được. Im lặng, hắn không hé môi hỏi về tình trạng của mình.

Rồi những bộ quân phục đi lại ngoài hành lang. Các quân nhân tới viếng thăm đồng đội đang nằm ở đây. Họ mang theo hơi nóng, mồ hôi cùng bụi bặm tới những chiếc giườmg phủ khăn trắng toát và vô nhiễm. Họ đứng vòng quanh những chiếc giường, nói đùa, tán dóc, rồi thình lình tất cả đều im lặng, một khoảng thời gian nặng nề như ngưng đọng. Hình như có tiếng nấc nghẹn đâu đây.

Yuval nằm yên một cách bình thản, nhưng sau hai ngày những tiếng ồn ào bắt đầu làm hắn khó chịu. Do lời yêu cầu, hắn được chuyển sang phòng khác nơi đó hắn được nằm im một mình cho tới ngày cha mẹ tới thăm.

Viên y sỹ gặp họ sau khi Yuval được ghép da lần đầu tiên. Người mẹ có thân hình dong dỏng cao, mớ tóc đen phủ bờ vai, nét mặt hơi xanh và đài các của một quí tộc Âu Châu thời trung cổ. Người cha trông hốc hác thảm hại, đôi mắt vẩn đục, nét mặt thê lương am đạm. Ông ta mặc chiếc áo trắng, chiếc quần màu xám, ngồi khom mình trên ghế, chiếc mũ nồi xoắn tít giữa những ngón tay. Cả hai ngồi trong phòng đợi nhỏ, cạnh phòng của Yuval. Khi viên y sĩ trở lại phòng cùng với Katros và Ditza để khám lại bệnh nhân, bốn con mắt dính chặt vào họ.

Môi Yuval mấp máy, trong cơn mê sảng, người thương binh đang vật lộn với con bệnh trong cơn ác mộng:

- Đưa họ ra! ... Đưa họ ra khỏi chỗ này mau! ... Chúng tôi đang bị cháy!

Khi họ ra khỏi phòng, người đàn bà đứng dậy. Khi nói hai hàm răng bà ta đập lập cập vào nhau :

- Thưa bác sĩ, tôi là mẹ của Yuval, nó ra sao rồi?

- Rất dễ trả lời bà lúc này. Với độ phỏng như vậy, tuần lễ đầu tiên không lo ngại gì cả, tuy vậy 10 ngày sau sự nhiễm độc mới bắt đầu. Chúng tôi sẽ sử dụng những loại thuốc mới nhất được bào chế tại các dược phòng của quân đội Hoa Kỳ. Nếu anh ta qua được cơn nguy hiểm đó thì sẽ sống sót.

Cơn mỏi mệt làm ông ta kiệt sức. Cô y tá Ditza đang đẩy chiếc xe về phía cuối hành lang, Katros đi theo sau. Ông vẫn còn nghe tiếng lập cập của hai hàm răng của bà mẹ đánh vào nhau. Hai tay vẫn xoắn chiếc mũ, người cha đứng lên nói:

- Thưa bác sĩ, chúng tôi biết là bệnh viện này sẽ làm hết sức cho con chúng tôi.

Tại khu y tá làm việc, những cây con xanh tươi trồng trong chậu được đặt trên những chiếc kệ, một bức tranh ngộ nghĩnh vẽ một người Mễ Tây Cơ cổ xưa có một nụ cười thật rộng chạy từ tai này sang tới tai kia treo trên bức tường đối diện, Ditza đang lúi húi đổ thuốc ra từ một chiếc lọ, cánh tay tròn xạm nắng và lọn tóc sau gáy được cột bằng sợi dây cao su màu xanh. Giọng nói của Katros vang lại như từ cõi xa xăm nào đó:

- Nếu như nền kỹ nghệ sản xuất trẻ con trong phòng thí nghiệm ở xứ này bắt đầu được thực hiện nhỉ? Chiến tranh còn tiếp diễn trong nhiều năm nữa. Nếu chúng ta sản xuất được 30,000 đứa con trai mỗi năm và đưa ra tiền tuyến thì vấn đề giải quyết gọn gàng biết bao.

Có tiếng cười the thé chói tai của cô y tá, tiếp theo là tiếng chai thuốc rơi xuống sàn nhà.

- Không, tôi nghĩ là chẳng giải quyết được gì cả.

Katros cúi xuống nhặt chai thuốc lên, chiếc chai không vỡ nhưng thuốc đổ lênh láng ra sàn.

- Thì vậy, tôi cũng không nghĩ như thế. - Rồi quay lưng hấp tấp đi ra ngoài hành lang.

Viên y sĩ nhìn chằm chặp cô y tá rồi chậm rãi nói:

- Cô điên rồi à?

- Tôi không muốn bị xúc động như vậy, thưa bác sĩ, nhưng tôi không thích lối pha trò này. Một thanh niên trẻ tuổi khỏe mạnh, đầy sức sống bây giờ đang nằm chờ chết ở đây. Anh ta chết cho mỗi người chúng ta được sống. Mỗi khi bước vào phòng thăm anh ta, tôi thấy mình như chết đi mười lần vậy.

Ông ta quay ra ngoài, dù cho không nhìn thấy cha mẹ anh thương binh nhưng ông cũng biết là họ chưa rời khỏi phòng đợi. Có thể là họ không nghe thấy lời nói của cô y tá.


Vào cuối tuần, bệnh tình của Yuval có vẻ trầm trọng. Nỗi đau đớn mỗi ngày một gia tăng và không còn thiết tha gì với mọi vật chung quanh, mỗi ngày sử dụng bình dưỡng khí lâu hơn. Ditza và các y tá khác quanh quẩn bên anh ta với nước mắt quanh tròng. Vào những lúc tỉnh táo, Yuval thường nói chuyện khôi hài với họ. Từ sáng sớm tới tối mịt, cha mẹ anh ta luôn luôn ngồi bên cạnh giường hay trong phòng đợi. Yuval lại phải mang xuống phòng giải phẫu. Cánh tay phải bị thối hoại nên bị cắt bỏ. Anh ta nói với viên y sĩ:

- Bác sĩ muốn làm gì thì làm nhưng đừng bắt tôi không được lái máy cày nhé.

- Không sao đâu - Katros nói. - Anh có thể lái một tay được mà. Ngoài ra anh chỉ bị cắt tới khuỷu tay mà thôi. Với cánh tay giả anh vẫn có thể lái dễ dàng.

- Như vậy thì tốt. - Yuval nói trong nụ cười gượng gạo, nét mặt phủ màu thê lương ảm đạm.

Những mũi thuốc morphine làm cho anh ta mỗi ngày xa dần cuộc sống hơn. Thân xác ngày càng mỏng, gò má nhô cao và khuôn mặt ngày càng xám hơn. Cứ mỗi giờ anh ta bị đánh thức dậy để đo nhiệt độ và mỗi hai giờ lại được chích một mũi thuốc. Cơ thể mỗi ngày nhẹ thêm, nước vàng thấm qua cơ thể chẩy xuống nệm giường. Rồi mỗi hai ngày, anh ta được đưa xuống phòng giải phẫu, gây mê rồi ghép da. Nhưng biến chứng bắt đầu phát hiện: thuốc mới chống nhiễm độc máu lại tàn phá thận. Ngày qua ngày, giờ qua giờ, người chiến sĩ trẻ tuổi đang tiến dần về cõi chết.


Suốt ngày viên y sĩ ra vào phòng của Yuval. Ông ta tham khảo ý kiến với các bác sĩ trong bệnh viện này cũng như với các bệnh viện khác, sử dụng hầu hết các phòng thí nghiệm, nói chuyện với các nhà vi trùng học, đọc các bài khảo cứu về sự nhiễm độc, về sự cân bằng về điện phân. Ngồi trong phòng làm việc chong đèn đọc sách cho đến khi đôi mắt nhức mỏi, quên cả về nhà, quên cả ăn uống, quên cả thói quen đọc báo mỗi buổi sáng. Nhiều khi nằm trên giường trong bệnh viện, đầu óc vẩn vơ suy nghĩ, nếu như có phép mầu nhiệm nào làm hắn khỏi bệnh. Một phép lạ?

Những đêm thức trắng, nằm đó nhưng đôi mắt mở chừng chừng nhìn lên trần nhà. Kể từ buổi đầu tiên quyết định hướng cuộc đời cho nền sinh học của loài linh trưởng hai chân này, ông đã hiểu đâu là con đường phải bước tới. Hàng ngày ông đã quá quen thuộc với những bệnh nhân già nua. Từ lâu, ông tin là mình thuộc về loại người cứng rắn, ít tình cảm. Nhưng thình lình ông lại thấy mình chữa trị cho những thanh niên tuổi hai mươi đưa về từ mặt trận, kẻ thì bị cháy xém, kẻ bị cắt ra từng mảnh, và rồi tất cả không còn như xưa nữa. Những đêm này tiếp theo những đêm khác không ngủ chồng chất lên nhau, ưu tư đè nặng lên ông cân nặng như cả trái núi.

Một buổi chiều tối đầu óc trống trải không biết phải làm gì, ông bước những bước chân vô định dọc theo dãy hành lang, một bên cửa phòng mở, tia sáng dịu hắt ra. Thình lình một luồng ánh sáng bí mật đập vào mắt ông như thể có một chốt điện ẩn náu tại một góc nào đó trong đầu bất chợt được bật lên. Những hình ảnh từ cõi xa xôi nào trong dĩ vãng lần lượt hiện lên trước mắt như được chiếu trên một màn ảnh lớn. Chẳng có một người nào có mặt trong hành lang nhưng lại đầy những tiếng âm vang như tiếng vọng từ một cõi vô hình nào đó, thoang thoảng đâu đây có mùi hương thơm phảng phất.

Hơi cảm thấy chóng mặt, ông bước vội vào chiếc thang máy để vào nhà ăn. Hít một hơi thật dài, ông tự nhủ có thể vì nhiều đêm mất ngủ nên đưa đến một ảo giác. Ông ăn một cái cheese sandwich, uống một tách trà nóng. Ngồi nhắm mắt một lúc cho đầu óc tỉnh táo, ông trở vào cầu thang máy. Bước dọc theo dãy hành lang, ông cảm thấy một luồng hơi lạnh buốt chạy dọc theo xương sống khi nhìn thấy chiếc đồng hồ treo trên tường. Ông đã đi qua chỗ này cả ngàn lần nhưng chua bao giờ nhìn thấy có một chiếc đồng hồ treo trên tường cả. Ai đã treo nó ở đây vậy? Từ bao giờ? Có lớp bụi mỏng phủ lớp kính phía ngoài. Không khí, ông thầm nghĩ là mình cần không khí ngay bây giờ.

Thò đầu ra ngoài cửa sổ, chiếc xe hơi của ông vẫn đậu phía dưới bãi, phía xa có một cột khói bốc lên. Ánh nắng vàng vọt buổi chiều tàn bao bọc những ngôi làng vùng núi, phủ lên những bãi cỏ, ngọn cây. Không gian đầy những tiếng chim líu lo. Bây giờ ngày sắp tàn, là giờ của những chiếc vòi phun nước trong bệnh viện. Một nhân viên bước ra khỏi thang máy, ông chờ cho hắn đi khuất hẳn rồi mới quay ra đi về hướng cầu thang. Lầu tư, lầu ba, lầu hai rồi tới lầu thứ nhất. Băng ngang qua phòng cấp cứu là lối ra.

Ngoài sân vắng lặng, một ngọn gió thổi phất cuốn theo một tờ báo bay lơ lửng rồi rơi ngay xuống chân ông. Nhặt lên, đó là phụ bản văn học nghệ thuật của tờ báo ra ngày thứ sáu. Dưới ánh sáng mờ nhạt của buổi chiều tàn, ông đọc được vài hàng thơ của một tác giả mà ông không quen biết:

"Hồn tuyệt vọng nhìn lên tường mờ tối,
Thấy bóng mình run rẩy với lá hoa.
Buồn mênh mông nên hình ảnh nhạt nhòa,
Hoa với lá chỉ một màu trắng đục ..."

Vo tròn tờ báo lại, ông ném nó vào giỏ rác gắn vào chiếc cột đề chữ cấm đậu. Bước chân nặng nề lê tới cuối sân, ông ngạc nhiên khi thấy nhà nguyện còn mở cửa. Một người đàn ông râu thật rậm, choàng chiếc áo đen đầu đội chiếc yarmulke (chú thíck: yarmulke là chiếc mũ của các tu sĩ Do Thái giáo) ra tận cửa chào và đưa cho ông chiếc yarmulke bằng giấy. Viên y sĩ đội chiếc mũ rồi bước vào bên trong. Ánh sáng yếu ớt của ngày sắp tàn còn vương lại xuyên qua những khung cửa kính mờ đục làm dịu đi màu sắc rực rỡ của những hình ảnh tưởng tượng mà nghệ nhân nào đó đã trình bày cho căn phòng. Mùi hương trầm của du khách vào trước còn vương lại trong nhà nguyện. Tiếng chuông từ ngôi giáo đường trên ngọn đồi xa vọng lại làm không gian nhuốm một màu thê lương ảm đạm.


Trời đã tối hẳn, viên y sĩ bước ra ngoài, người đàn ông có bộ râu rậm đứng ngay tại cửa dơ hai tay ra, miệng lẩm bẩm:

- Cầu cho người thành công và hưởng nhiều phúc! Nhiều sức khỏe và hạnh phúc.

Ông bỏ đồng tiền vào hộp, trả lại chiếc mũ rồi bước ra sân. Hai bên lối đi đèn đã thắp sáng. Ngôi mặt trăng trên cao sáng vằng vặc, mùi cây lá và cỏ mang mác trong không gian. Trời đã bắt đầu lạnh làm ông rùng mình.

Băng qua phòng cấp cứu để về phía cầu thang, chiếc thang máy trống không. Ông nhấn nút lên lầu 5 nhưng nó lại ngưng ở lầu thứ nhì. Hai bà sơ và một ông cha bước vào. Hai bà sơ đeo chuỗi tràng hạt dài có cây thánh giá nặng nề phía bên dưới. Đi đâu vào giờ này và quen biết ai trong này? Họ im lặng chăm chú nhìn ông. Ông cảm thấy hơi rùng mình, thình lình một mùi hương của thế giới khác tràn ngập thang máy, mùi này bốc lên mỗi lúc một nồng nặc. Rồi chiếc thang máy chậm chậm dừng ở từng thứ năm. Ông bước vội ra, đứng yên lặng một lúc. Hành lang vắng lặng và lạnh lẽo, phía cuối dãy, hai bệnh nhân mặc bộ quần áo ngủ đang tập đi với những bước thật chậm. Nhìn vào khu y tá, ông tưởng là nhìn thấy Ditza, nhưng ông chợt hiểu là trí tưởng tượng đã đánh lừa ông. Ca làm việc của Ditza đã chấm dứt từ lâu rồi.

Viên y sĩ hơi ngạc nhiên khi thấy bà mẹ của Yuval đang ngồi một mình trong phòng đợi, cuốn sách mở để trên đùi. Bà ta hút thuốc và đọc sách dưới ngọn đèn để ở góc phòng. Khi ông tới gần, bà ta dụi điếu thuốc vào chiếc gạt tàn rồi ngửng đầu nhìn ông:

- Nó đang ngủ, thưa bác sĩ.

Ông nghe có tiếng răng đập vào nhau trong giọng nói nhừa nhựa thiếu ngủ. Bà ta cũng thấy một nỗi thắc mắc trong ánh mắt của viên y sĩ nên vội nói tiếp:

- Nhà tôi không có ở đây. Tôi nói ông ấy về nhà để tưới cây rồi. Chúng tôi không về nhà từ... từ...

- Ông bà có vườn cây ăn trái à?

- Vâng, nhưng chỉ một mình ông chồng tôi chăm sóc thôi. Chúng tôi đang hy vọng thằng Yuval có thể phụ vào công việc trồng trọt, hạn quân dịch của nó chỉ còn một năm nữa thôi.

- Có thể nó là nhà trồng tỉa giỏi với một tay thôi.

- Mong là như vậy, thưa bác sĩ.

- Cầu nguyện được như thế.

Đôi mắt bà nhìn theo viên y sĩ đi vào phòng Yuval. Hắn nằm bất động, tiếng rên khe khẽ thoát ra ngoài cuống họng, nhưng nét mặt không lộ vẻ đau đớn. Ánh trăng bàng bạc trải rộng trên những ngọn núi phía xa, xuyên qua cửa sổ chiếu vào phòng. Trời ơi, tôi đang cố gắng làm gì đây? Đang chơi canh bài sì phé với thần chết hay sao đây?

- Chúng ta mong một phép lạ, thưa có phải vậy không?

Tiếng nghẹn ngào của người đàn bà như đâm xuyên qua tim óc ông. Bà ta đứng sát phía sau và ông nghe thấy hơi thở của bà.

- Phép lạ sẽ xẩy ra.

Tiếng gió đập cánh cửa sổ, người đàn bà nấc lên nho nhỏ và quay mặt đi. Một lúc sau, bà ta nói:

- Trễ quá rồi, sao bác sĩ không về nhà đi. Yuval ngủ say và có tôi ở đây. Khi còn bé, ban đêm thức giấc nó thường gọi tôi và lúc nào tôi cũng ở bên cạnh cho tới khi nó ngủ lại. Tôi không muốn nó cảm thấy cô đơn mỗi khi thức giấc. Tôi không muốn nó trơ trọi một mình trong đêm tối.

Mặc dù bà ta đã im lặng nhưng viên y sĩ còn nghe thấy tiếng đôi môi chuyển động, ông ta lặng im không nói gì.

- Tôi không ở trong một gia đình sùng đạo. - Bà ta tiếp tục nói - Tôi chẳng bao giờ cầu kinh cả và tôi cững không biết cầu kinh ra sao nữa. Nhưng sáng nay tôi có vào nhà nguyện.

Viên y sĩ tiến sát gần bà ta hơn.

- Tôi đã cầu cho Yuval. Nó luôn luôn hãnh diện về tôi, bác sĩ thấy không, chúng tôi thân nhau hơn cả tình mẹ con nữa.


Vào lúc nửa đêm sau khi người vợ đi ngủ, ông đi ra phòng khách. Tiếng rì rào do các cành lá thông chạm vào nhau phía ngoài sân như một bản nhạc buồn dài bất tận. Thỉnh thoảng có tiếng xe hơi chạy vụt qua dãy phố đang ngái ngủ hay tiếng rú của một chiếc xe gắn máy. Ông ngủ chập chờn với cuốn tạp chí y khoa trên tay. Dưới ánh đèn mờ, ông thấy người vợ đứng ở cửa phòng.

- Em nằm mơ ghê quá. Em ngửi thấy mùi thịt cháy. Bây giờ em còn ngửi thấy nữa, chính anh đã mang mùi đó từ bệnh viện về nhà.

Ba ta vuốt lại chiếc áo ngủ, đầu lắc lắc cho mái tóc thẳng xuống. Có dấu trách móc trong ánh mắt, khi nói chiếc ngực phập phòng:

- Anh phải tự quyết định lấy, hoặc là anh chữa lành cho nó hoặc là anh để nó giết anh.

Ông tiếp tục nhìn chằm chập vào khoảng không chỗ bà vợ đứng dù cho bà ta đã đi vào trong phòng ngủ từ lâu. Đêm đen vẫn im lặng một cách độc ác, cuốn tạp chí rơi xuống sàn nhà từ lúc nào. Ông quay lại tắt đèn, tiếng rì rào phát ra từ những cây thông sau nhà khi có ngọn gió thổi thốc tới, ánh trăng bàng bạc chiếu trên tường và ông biết là đêm nay lại không thể nào ngủ được nữa.


Viên y sĩ ngạc nhiên khi nhận được tờ quyết định. Mọi việc đều quá mật. Khi tới căn cứ quân sự ông mới biết là mình được đề nghị lãnh huân chương anh dũng bội tinh. Đó là một buổi lễ quan trọng trên toàn quốc. "Làm chi vậy?" ông càu nhàu khi biết tin trên. Đã ra khỏi quân ngũ hơn một năm nay để trở về đời sống dân sự, vậy thì ai là người đáng được lãnh huy chương đây. Ông lẩm bẩm:

- Những người đáng được gắn huy chương và tham dự buổi lễ này lại bị quên lãng.

Phải mất hai ngày chuẩn bị. Ngày thứ nhất, người ta đưa quần áo cho những người được vinh danh mặc thử rồi toàn thân họ được đánh bóng, chải chuốt; ngày thứ nhì người ta chở họ tới buổi tiếp tân tại dinh Tổng Thống.

Ông bắt tay các ông đại tá, các ông tướng, chụp hình, trả lời các phóng viên, ăn bánh ngọt, uống rượu nhẹ, cười cười nói nói, nhưng lúc nào cũng nghĩ là târn hồn mình không thực sự ở đây. Cuối cùng Tổng Thống xuất hiện, bắt tay từng người.

- Và bạn nữa, công việc bạn làm xuất sắc biết chừng nào. - Tổng Thống nói với ông, nụ cười rạng rỡ.

Những ánh đèn loang loáng của máy chụp hình làm ông lóa mắt, phải mất một lúc sau ông mới trả lời được:

- Thưa Tổng Thống, tôi không biết là tôi đã làm được những việc như vậy.

Vị Tổng Thống rút tay về và bước sang phía người khác. Bất chợt ông cảm thấy có một ngọn lửa đang hừng hực thiêu đốt tâm can, cơ thể ông. Nhìn quanh nhưng chẳng thấy chiếc điện thoại nào, ông đi về phía bàn để thức ăn, “Mình ăn thịt người chết đây”, ông nghĩ thầm. Chiếc đồng hồ đeo tay chỉ đúng một giờ trưa, ông nghĩ tới Yuval. Mùi da thịt cháy khét lại nồng nặc xông lên, theo ông tới tận đây, ông tự hỏi không biết những người khác có ngửi thấy không. Đã một tháng rồi, nếu mình có thể kéo dài thêm, phép màu nhiệm sẽ xẩy ra. Một tháng rồi. Phá tiền lệ, với độ bỏng như vậy, một tháng rồi ... , nhưng chẳng có nghĩa gì.

Thay vì trở về nhà, ông lại lái xe hướng về khu bệnh viện. Đôi mắt sưng húp của cô y tá Ditza nhìn ông chòng chọc.

- Yuval mất khi nào? - Ông đoán ra việc gì đã xẩy ra.

Cô ta quay mặt lại, những ngón tay run rẩy lật cuốn sổ dầy.

- Chết sớm hay muộn có khác gì đâu, ông đã không có mặt ở đây suốt hai ngày và bây giờ anh ấy đã yên phận.

Thình lình Ditza quay người lại:

- Lúc một giờ trưa hôm nay. - Một luồng hơi lạnh buốt chạy suốt dọc cột sống, mắt ông tóe lên muôn ngàn ngôi sao. - Bà ấy có kiếm bác sĩ, mẹ của anh ấy đó. Bà ta chào và cám ơn tất cả mọi người ở đây.

- Còn ông bố?

- Ông ta đau khổ cùng cực, chúng tôi phải dìu ông ta xuống dưới nhà khi xác anh ta mang ra khỏi phòng. Tôi không thể tháo băng ra khỏi thân anh ấy được, phải có hai người phụ mới xong.

Ditza run rẩy, viên y sĩ nghĩ là cô ta sẽ bật khóc, nhưng không.

- Kìa, bà ấy kìa.

Khi ông quay lại, bà ta đang từ phía cuối hành lang đi lại, bà mẹ của Yuval nói:

- Tôi đi kiếm bác sĩ mãi. Ông nhà tôi và tôi sẽ không bao giờ quên ơn bác sĩ đã săn sóc cho Yuval và chắc chắn một điều là tôi đang nói lời cám ơn dùm cho Yuval. Bác sĩ đã quá tận tụy chữa cho nó, chúng tôi hết lòng cám ơn tấm lòng ưu ái của bác sĩ.

Giọng nói của bà như không còn hơi nhưng ông không còn nghe tiếng răng đập vào nhau nữa. Rồi bà ta quay lại đi về phía cuối hành lang.


Viên y sĩ quay lại nhìn Ditza, cô y tá trẻ cúi gập mình xuống cuốn sổ, tránh nhìn ông. Cô ta không tha thứ cho ông vì đã không cứu được người lính trẻ. Bức tường trước mặt treo bức hình người Mễ Tây Cơ cổ có nụ cười rộng chạy suốt tai này tới tai kia. Một điệu nhạc vui phát ra từ chiếc máy thu thanh từ phòng bên cạnh. Hai người khách đang bước tới từ phía cuối hành lang, trên tay có hộp kẹo, mắt họ nhìn ông một cách tò mò. Ông chợt nhận ra mình còn đang mặc bộ quân phục

Viên y sĩ bước nhanh như chạy về phía cầu thang máy. Tới từng chệt, ông bước ra khỏi bệnh viện như người mất hồn.

Bên ngoài, trời vẫn nắng chói chang.




VVM.18.3.2023

| UNIVERSELLE LITERATUR | UNIVERSAL LITERATURE | LITERATURA UNIVERSAL | LETTERATURA UNIVERSALE | УНИВЕРСАЛЬНАЯ ЛИТЕРАТУРА |
vietvanmoinewvietart007@gmail.com