S
ớm
nay, giữa tiết đầu đông, trời trở gió, bấc mới thổi
được vài cơn mà đã đưa cái hơi lạnh từ phương Bắc
xa xôi về thành phố nhỏ ven biển cực Nam Trung bộ này,
làm lao xao cây lá, xao xuyến lòng người, khiến cho người
ta có cảm giác nao nao, gời gợi nhớ… xa xăm. Mùa xuân
về cận kề trong hơi bấc. Có lẽ đó chính là cảm nhận
tự nhiên của con người về thời gian, về cái lẽ biến
dịch của thiên nhiên, trời đất, sự chuyển động của
không gian vũ trụ. Hình như cái se se lạnh cũng làm cho người
ta tự dưng muốn gần gũi với nhau hơn, lòng rộng mở bao
dung và cảm thấy yêu thương hơn cuộc sống này. Rồi người
ta lại muốn nhìn quanh mình, nhìn những cái mà từ lâu,
có thể vô tình ta đã lướt ngang qua, chạm nhẹ vào, rồi
bỏ quên đâu đó bên lề cuộc đời bề bộn… Tôi cũng
vậy, khá lâu rồi, cũng đã bỏ quên, không còn xục xạo
vào cái đống sách cũ, “kho tàng tri thức” của mình
ngày xưa ấy nữa. Những ngày mà đất nước đang còn khó
khăn đủ bề. Sách được in ra trong cơn thiếu giấy, thiếu
mực. Giấy thì được làm bằng bột rơm, xác mía; chữ
in thì nhỏ như những đàn kiến gió xếp thành nhiều hàng
lủ lượt kéo nhau đi từ trang giấy này sang trang giấy
khác. Tôi đã bỏ thói quen đọc sách cũ, vì tuổi lớn
rồi, mắt mũi kèm nhèm, phải đánh vật khổ sở, nhức
mắt mới đọc được vài trang sách. Nhưng bỗng dưng cơn
gió bấc đầu đông sáng nay đã làm cho tôi nao lòng nhớ
về những cuốn sách cũ kĩ phủ đầy bụi bặm kia. Tôi
mở tủ, rút hú hoạ một cuốn… Sách của Tô Hoài, cuốn
“ Chuyện cũ Hà Nội”, in năm 1986. Đọc lan man một
hồi về nỗi niềm xưa cũ, cũng ngán. Tôi mở máy vào mạng
coi thử tác giả “Dế mèn phiêu lưu kí” có gì mới hơn,
hay hơn không. Tôi lướt web và dừng lại, cũng “Chuyện
cũ Hà Nội”, nhưng mới được tái bản có bổ sung
gần đây, đọc tới đoạn nói về bông vông ven hồ Hoàn
Kiếm: “Ô hay, bất chợt vào mùa thu, hoa vông -
đỏ như hoa vông, đông như miếng tiết, chỉ
đến mùa hoa vông đỏ khé một góc hồ mới nhớ ra, chứ
hàng ngày qua dưới gốc vông, không ai
để ý tới loại cây cọc rào quá
quen mắt ấy”, tôi bỗng giật mình. Trong tiềm thức
mù sương của tôi, đột ngột hiện lên một vòm không
gian rực rỡ sáng đỏ góc trời thành phố biển nhỏ bé
một thời yêu quý của chúng tôi và của bao người Phan
Thiết xa quê. Khu vườn bông vông đỏ thắm bên dòng Cà
Ty…
Phan
Thiết có sông Cà Ty, còn gọi là sông Mường Mán, Phan Thiết
hay Mường giang. Nhà trí thức, nhà thơ yêu nước Nguyễn
Thông, nguời sáng lập “Ngoạ Du Sào”, trong bài
“Ngoạ du sào” ( in trong “Ngoạ du sào tập”), ông viết
tên sông là Phan giang: “ …thiểu hạ nhân cấu tiểu
đình ư Thắng kiều chi tây nam vi tĩnh dưỡng kế.
Đình hạ lâm Phan giang …”. Dịch Nôm: “ tôi dựng
một cái đình nhỏ ở phía tây nam cầu Thắng
để nghỉ ngơi. Đình kề bên sông Phan”. Ngoạ Du Sào
chính là nơi vào năm 1907, các con của Nguyễn Thông theo
lời gợi ý của cụ Phan Châu Trinh đã cho xây dựng ngôi
trường mang tên Dục Thanh nổi tiếng, mà sau đó, năm 1910,
chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã về dạy
học. Hiện nay, là chỗ dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh- chi
nhánh Bình Thuận. Cầu Thắng là chiếc cầu đầu tiên bắc
qua sông Phan. Theo trí nhớ của những cụ già từng sống
ở Phan Thiết, thì cầu Thắng được làm hoàn toàn bằng
gỗ, các chân trụ cầu bắt chéo liên kết nhau cắm xuống
lòng sông. Vị trí cầu Thắng nằm ở giữa cầu Quan (cầu
Lê Hồng Phong ngày nay) và cầu Trần Hưng Đạo. Tôi suy
luận, có lẽ con đường dẫn lên cầu từ hữu ngạn phía
Nam sông, chính là đường Lý Thường Kiệt bây giờ. Thời
gian sau đó, người Pháp làm cầu sắt mới kề bên (cầu
Quan) và dỡ bỏ cầu Thắng. Sông Cà Ty chảy cắt ngang giữa
Phan Thiết đã làm cho thành phố nhỏ bé này đẹp hẵn
lên, như thiếu nữ đẹp hơn nhờ có mái tóc suông chảy
dài óng ả trên lưng. Có lẽ vì vậy mà dòng Cà Ty chỉ
dài có 7,2 km nhưng cũng được tôn vinh, “nâng cấp” thành
sông, thành giang. Soi bóng xuống dòng sông Cà Ty, nổi bật
lên bên bờ bắc là Tháp Nước Phan Thiết, trước đây
thường được gọi tên bằng tiếng Pháp là “Château d’eau”.
Và không dưng mà Tháp Nước Phan Thiết lại trở thành hình
tượng trong biểu trưng chính thức của tỉnh Bình Thuận.
Tháp Nước tuy không đồ sộ, cao lớn, nguy nga, nhưng dáng
vẻ hết sức thanh thoát, sang trọng, mang đậm dấu ấn
kiến trúc phương Đông. Hình tháp thân trụ trông giống
như một búp sen đương ủ hương, phần đài hoa hình bát
giác nở phình ra ở trên cao ba mươi hai mét ôm những cánh
hoa sắp bừng nở. Mái tháp được lợp ngói đỏ tươi.
Từ xa, ta dễ dàng nhìn thấy màu đỏ của mái ngói nổi
bật lên trên nền những tán lá xanh. Đàn chim yến làm
tổ bên dưới mái tháp bay lượn không ngừng trên những
ngọn cây, mái nhà, cánh giang thẳng chao nghiêng ngoài mặt
nước sông lồng lộng gió ngày nước lớn. Tháp Nước
Phan Thiết được giới kiến trúc đánh giá là đẹp và
độc đáo nhất trong các tháp nước được xây dựng ở
Việt Nam. Cách nay mấy năm, có một nhóm sinh viên Lào theo
học ở Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Hà Nội)
đi thực tế ở Phan Thiết, tình cờ gặp tôi trong một
bữa nhậu nơi quán cóc bên bờ sông Cà Ty. Khi tôi chỉ
Tháp Nước và giới thiệu đây là công trình kiến trúc
do kiến trúc sư Hoàng thân Xu-pha-nu-vông (sau này là chủ
tịch Nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào) thiết kế
và được khởi công xây dựng vào năm 1928, các sinh viên
Lào hết sức bất ngờ, trố mắt ngạc nhiên. Họ không
thể nào tưởng tượng được rằng ở một nơi xa xôi
trên đất nước Việt Nam, lại ghi đậm dấu tích thật
đẹp đẽ vị nguyên chủ tịch nước của họ, một nhân
cách thật lớn, mà nhân dân các bộ tộc Lào trong cả nước
hết sức kính yêu. Hoàng thân Xu-pha-nu-vông thời trẻ đã
từng đảm nhận chức vụ Kiến trúc sư trưởng Khu công
chánh Nha Trang và ông đã vẽ thiết kế Tháp Nước Phan
Thiết trong thời gian này.
Château d’eau - Tháp Nước, trong kí ức thời học sinh của
chúng tôi không thể tách rời với không gian toạ lạc của
tháp. Đó là Vườn Bông lớn. Gọi “lớn” để phân biệt
với Vườn Bông nhỏ nằm đối diện bên bờ nam sông. Hai
bờ nam-bắc thông thương nhau qua một cây cầu ngắn, là
dạng cầu sắt effel, thường được gọi là cầu Quan. Sau
này, khi thành phố có thêm hai cây cầu mới hai bên cầu
Quan, người dân ở đây hay gọi tên là cầu Giữa. Hiện
nay, cầu Quan cũ được thay thế bằng chiếc cầu treo bê
tông mới. Chiếc cầu treo hiện đại này là vật kiến
trúc đặt ở trung tâm thành phố có vẻ không đúng chỗ,
nên đã làm vỡ không gian kiến trúc nền rất nhuần nhị
ở tầng thấp của thành phố, được mở ra từ hai bên
bờ sông, hình thành nên một đô thị nhỏ bé, giản dị
mà xinh xắn này. Nhưng thôi, hiện nay còn nhiều thứ nữa
quanh ta bị phá vỡ để lên đời hiện đại, mà ta không
còn cách nào khác là buộc phải chấp nhận trong sự nuối
tiếc “bao giờ cho đến ngày xưa”.
Vườn
Bông từ khi hình thành, không biết có ý muốn tạo
nên ý nghĩa gì đặc biệt không mà những người có trách
nhiệm đã trồng hầu hết là cây vông trong vườn...
Người
xưa trồng cây nơi công cộng, vườn nhà ở hoặc chơi cây
kiểng, thường không ngẫu nhiên mà luôn có chủ ý chọn
loài cây để ngầm biểu hiện cái chí của mình; như trồng
trúc là chỉ sự thanh cao, trồng bách, trồng tùng là nêu
cao tích cách của người quân tử... Vậy trồng cây vông
trong Vườn Bông là có ý nghĩa gì? Theo sử sách viết về
Hà Nội có ghi lại, vào năm 1864, văn nhân nổi tiếng một
thời Nguyễn Văn Siêu, thực hiện theo lệnh của triều
đình, làm chủ công xây dựng Tháp Bút và Đài Nghiên bên
bờ Hồ Gươm, làm biểu trưng cho chí khí của kẻ sĩ đất
Việt. Ông đã cho trồng năm cây vông làm nền cho Tháp Bút.
Việc làm đó của “Thần Siêu” chắc hẵn phải có ý
nghĩa gì đó đặc biệt lắm… Không biết có sự liên
quan sâu xa nào giữa việc trồng năm cây vông quanh Tháp
Bút ở đất nghìn năm văn vật, với việc trồng một vườn
cây vông quanh chân Tháp Nước của thành phố Phan Thiết
bé nhỏ ở chót cùng mìền Trung xa xôi, cách Hà Nội hàng
ngàn cây số? Hoàng Phủ Ngọc Tường, một nhà văn uyên
bác về hoa và cây, trong bài kí “Mùa xuân thay
áo trên cây” đã cho biết, trước đây, ở Huế, người
Pháp vốn tính toán quy hoạch rất kĩ, đã quyết định
cho giữ lại và trồng thêm nhiều cây vông trong kinh thành.
Hiện nay, một số cây vông đã thành cổ thụ cùng những
cây vông thế hệ sau đang góp phần điểm xuyết cho vẻ
đẹp cổ kính của thành phố “di sản văn hoá thế giới”
này bằng màu xanh của lá, bóng mát của cây và “màu
hoa đỏ thắm, trong như ngọc và toả ra
ánh sáng” (Hoàng Phủ Ngọc Tường). Tôi nghĩ, như vậy,
có thể coi cây vông là cây sang trọng, góp phận mình để
làm nên nét văn hóa kinh kì. Thế nhưng, ngược lại, nhà
thơ “chơi ngông” Nguyễn Công Trứ trong bài thơ “Vịnh
cây vông” của mình đã không tiếc lời chê bai: “Càng
lớn càng già càng xốp xoáp/ Ruột gan không có có gai chông”.
Tất nhiên, chúng ta đều biết nhà thơ chỉ mượn vật
để nói người. Nhưng, có phải cây vông hoàn toàn không
có ích lợi gì, theo nghĩa đen mà Nguyễn Công Trứ nói đến
không?
Trước khi đặt bút viết bài này, tôi đi tìm công dụng
vật chất của loài cây vông này và biết thêm một ít.
Cây vông có ít nhất là sáu công dụng chứng tỏ họ nhà
vông danh giá chẳng kém cạnh với bất cứ “đồng mộc”
nào, kể cả đó là danh mộc. Thứ nhất, lá cây vông được
dùng làm chất liệu bao gói nem không có gì sánh bằng, nên
cây vông còn được gọi là cây vông nem (sau này cây vông
hiếm dần đi, người làm nem phải lấy lá chùm ruột thay
thế). Công dụng thứ hai là, cả lá và vỏ cây vông đều
được dùng làm thuốc chữa bệnh rất hữu hiệu. Lá vông
dùng để an thần, chữa bệnh mất ngủ, hạ nhiệt, hạ
huyết áp, co bóp các cơ, sát trùng, tiêu tích, trừ phong
thấp…Vỏ cây vông có tác dụng khu phong, thông lạc, sát
trùng, trấn tĩnh… Công dụng thứ ba là, gỗ vông (cả
cây vông đồng nữa) được dùng làm guốc mộc độc nhất
vô nhị, vì nó rất nhẹ, mang êm, là mặt hàng tiêu dùng
phổ biến thời trước. Các cụ ông râu dài, bận bà ba
lụa trắng, đội mũ cối trắng, mang đôi guốc “dông”
(theo giọng nói người phương Nam) vào, là coi như đủ lệ
bộ, có thể đàng hoàng lên đường đi dự đám cưới,
ăn đám giỗ ngon lành. Những năm chín mươi của thế kỉ
XX, “Trung niên thi sĩ” Bùi Bán Dùi (Bùi Giáng) vẫn còn
diện đôi guốc vông xênh xang giữa phố xá Sài Gòn hoa
lệ mà “đâu có ngán thằng Tây nào”. Thứ tư, cây vông
có liên quan đến lễ tiết, hiếu đạo. Những gánh hát
bội trong Nam thời xưa, khi đi lưu diễn rày đây mai đó,
luôn mang theo bàn thờ Tổ hát bội. Không rõ lí do sâu xa
ra sao mà cốt của ông Tổ bao giờ cũng được đẻo tạc
bằng gỗ vông. Thêm nữa, theo tục lệ ông bà xưa, trong
ngày lễ đưa tang của người mẹ quá cố, các con trai phải
chống gậy được đẽo gọt bằng cây vông (cha chết thì
chống gậy tre), để thể hiện lòng hiếu kính của mình.
Công dụng thứ năm là, các nhà vườn cả nước xưa nay
thường dùng cây vông còn nhỏ để trồng sống làm cây
choái (giá đỡ) cho dây tiêu, dây trầu leo bò lên cao, rất
hiệu quả về kinh tế. Thời xưa, khi đồ nhựa polymer chưa
được phát minh, người dân hành nghề đánh cá trên sông
biển, đều dùng gỗ vông gọt thành khối nhỏ hình bầu
dục cột vào mép trên của lưới đánh cá để làm phao
và hầu như trên tất cả các thuyền đánh cá thời đó
ở xứ biển này đều có phao cứu sinh được làm bằng
gỗ vông. Đó là công dụng thứ sáu của cây vông… Chắc
là cây vông còn nhiều công dụng khác nữa mà tôi chưa
biết. Bỗng nhiên, tôi có sự so sánh, có thể khập khiểng,
đó là sự giống nhau giữa cây vông và số phận của nhân
dân. Nhân dân thường sống trong im lặng, trong sự nhẫn
nhục chịu đựng. Họ không cần danh vọng, tiếng tăm,
mà chỉ lẳng lặng bằng máu và nước mắt của mình đóng
góp cho sự tồn vong, sự phồn vinh của một dân tộc…
Với
riêng tôi, cây vông đã in sâu vào kí ức không bao giờ
có thể phai mờ được, không phải từ ở lá, ở thân,
vỏ cây vông, mà chính là ở màu đỏ thắm như máu của
bông vông. Lại cũng không phải ở bông vông bất kì đâu,
mà chỉ là bông vông đỏ trong Vườn Bông Tháp nước Phan
Thiết…
Nhiều
chục năm về trước, vào những ngày cận Tết âm lịch,
khoảng từ 27 đến 30 tháng Chạp, khúc đường Trưng Trắc
dọc bờ sông phía Nam đầu cầu Quan biến thành chợ hoa
quả tết. Đoạn đường Bà Triệu phía Bắc đầu cầu
Quan không được phép họp chợ, vì gần khu quân sự của
chính quyền cũ. Khu vực bán mai và khu vực bán các loại
hoa vạn thọ, trường sanh, cúc, thược dược, hồng… được
phân riêng chỗ khác nhau. Những nhánh mai bị chặt rời
từ những gốc mai trên rừng được dựng ngay bên đường
để bán. Lúc đó, người ta chưa nghĩ tới việc chơi mai
trồng vào ngày tết như bây giờ. Kẻ bán người mua nhộn
nhịp, vui vẻ. Đó là một phần của không khí tết không
thể nào thiếu được ở các đô thị ở miền Nam lúc
đó. Càng nhích gần đến giao thừa, chợ hoa mõn dần, nhưng
những nhánh mai chưa bán được đã từ tốn vẽ lên màu
ràng rực của hoa đã bung đều hết cánh, chen với màu
xanh nhạt hoặc pha tím của lá mai non. Bên kia sông, đối
diện chợ bán hoa là Vườn Bông lớn. Lúc này, những cây
vông trong vườn đã ngã sang màu úa và đang lác đác rụng
những chiếc lá vàng đầu tiên, để rồi chỉ trong vài
ngày sau đó, khi những cơn gió bấc ròng thổi thốc từ
biển vào, bao nhiêu lá trên cây sẽ trút sạch, như người
vừa cởi bỏ chiếc áo cũ đã bạc màu và không còn lành
lặn nữa. Những cành cây màu mốc của vông vươn lên cao
như những cánh tay níu trời xin sớm cho cây áo mới. Lúc
này, toàn thân của Tháp Nước không còn được lá vông
che khuất, những mảnh sứ đủ màu được ghép vào thân
tháp lộ ra lấp lánh dưới ánh mặt trời. Rồi những ngày
tết cũng qua nhanh, nhưng mùa xuân thì vẫn còn ở lại ủ
hơi lạnh trong sương sớm, núp trong những chồi cây lấp
ló lá non. Ta có thể nhìn thấy nhịp mùa đi trên những
tàng cây, trên hoa trái bốn mùa trong không gian trải dài
theo chiều từ Nam ra Bắc hay từ đồng bằng ngược lên
núi. Nhớ những ngày đi từ trên núi xuống, vào lúc gần
hết mùa xuân, khi cây cối trên cao đã không còn xanh nữa,
tôi bắt gặp màu xanh được dệt bằng lá non đậm dần
từ dưới thấp lên cao. Cũng vậy, trái cây cũng chín dần
theo mùa tự nhiên từ Nam ra Trung. Trước tết một chút,
cây xoài ngoài Bình Thuận bắt đầu trổ bông, thì xoài
chín từ trong Nam đã đưa ra bán ở các chợ ngoài này cho
các gia đình mua đơm bàn thờ ngày tết. Đến giữa mùa
mưa, xoài trong Nam và Bình Thuận đã hết, thì xoài Khánh
Hoà, Phú Yên mới chín rộ. Bông vông cũng vậy. Những cây
vông ở đây bao giờ cũng trổ bông sớm hơn ở Huế, rồi
đến Hà Nội. Sau Nguyên tiêu, có thể sớm hoặc muộn hơn
chừng nửa tháng, tuỳ theo năm, trên những nhánh cây vông
không còn chiếc lá nào trong Vườn Bông, như có sự thoả
thuận ngầm với nhau trước, nên chỉ cần qua một, hai
đêm là đã rực một màu như lửa cháy trên cây. Đó là
mùa bông vông trổ. Hàng ngàn chùm hoa hình sao tạc lên trời
xanh vào thời khắc bình minh thành những đóm sáng đỏ
rực rỡ như mặt trời vừa ló dạng. Mùa bông vông không
kéo dài, chỉ chừng non một tháng. Buổi sáng, trên đường
đến trường, tôi nhìn thấy bông vông rụng đầy Vườn,
bay rơi ra tận ngoài đường Hải Thượng Lãn Ông, Nguyễn
Hoàng (Lê Hồng Phong bây giờ), Bà Triệu và bên hông bar
Đào Viên, sân tennis ( chỗ bây giờ là công viên trước
Trung tâm hội nghị tỉnh). Các nữ sinh áo dài trắng thướt
tha đi bộ theo từng tốp như những đàn bướm cánh trắng,
vừa đi vừa nói chuyện ríu rít như chim, vô tư đến trường,
ngang qua Vườn Bông, bước chân vô tình dẫm lên xác bông
vông rơi dầy trên đường như tấm thảm đỏ… Một nhà
thơ, đã thật lãng mạn khi tả hình ảnh trên đây bằng
mấy câu lục bát:
Thương hàng cây cũ Vườn Bông
Mùa bông vông nở rực hồng bình minh
Thương em gái nhỏ vô tình
Đạp lên hoa đỏ lặng thinh tới trường”
(Yên Ba).
Bông đỏ
rụng hết, lá xanh bung ra, chẳng mấy chốc mà Vườn Bông
lại mượt mà với màu xanh lá mới. Lúc này, những bầy
chim cà cưởng, chim sảnh, chim sáo…đã bỏ đi khi mùa vông
trút lá, nay lại lủ lượt rủ nhau về náo nức hót ca,
giao tình và làm tổ mới, chuẩn bị cho mùa sinh nở, tiếp
diễn không ngừng đời sống của thiên nhiên…
Vườn
Bông là nơi gắn bó với nhiều thế hệ
thanh thiếu niên học sinh thuở trước. Đây là nơi diễn
ra sinh hoạt cộng đồng của các nhóm Du ca, Hướng đạo
sinh, Gia đình Phật tử, Hồng thập tự… vào ngày chủ
nhật. Là nơi mà thời còn niên thiếu, các ca sĩ thành danh
lừng lẫy của Việt Nam đã từng đến đây sinh hoạt theo
nhóm, tập hát, thi hát như: Thanh Thuý, Mỹ Lệ, Trúc Mai,
Anh Khoa, Nhật Trường… Có nhà thơ, sinh ra và lớn lên
ở Phan Thiết, sau kháng chiến trở về, ông thấy những
cây vông già trong Vườn Bông mục ruỗng từ trong gốc,
chết dần rồi biến mất, ông rất buồn và luyến tiếc.
Có lúc ông đề đạt ý kiến với cấp thẩm quyền cho
trồng lại cây vông nơi vườn cũ. Hình như những người
có trách nhiệm cho rằng cây vông quá tầm thường không
xứng để trồng nơi vị trí trung tâm sang trọng này. Thương
nhớ bông vông, ông đã cùng với một số văn nghệ sĩ
cao tuổi ở Phan Thiết, thành lập “Nhóm thơ
Bông Vông”. Đến nay, các thành viên tuổi cao của câu
lạc bộ đã lần lượt ra đi mãi mãi mà ước nguyện được
một lần nhìn thấy lại màu đỏ thắm của bông vông trên
Vườn Bông kỉ niệm không bao giờ có được nữa…
Vườn Bông
và mùa xuân bông vông đỏ chỉ còn là hình ảnh đẹp
được cất giữ đâu đó trong kí ức của những người
một thời đã biết đến, đã có kỉ niệm với nó, đã
yêu mến nó. Vườn Bông có thể là nơi chốn của những
mối tình bắt đầu, rạo rực hạnh phúc, rồi chia li dưới
bóng cây vông, giữa màu đỏ như máu của bông vông.
Tôi viết bài này cũng chính từ kỉ niệm đẹp đẽ về
những mùa bông vông trổ, như một cách đền trả món nợ
ân tình thời trai trẻ của tôi với bạn bè, với người
thân đã từng tha thiết yêu Phan Thiết, yêu hoài và nhớ
mãi những chùm bông vông đỏ chói chang, đẹp nhưng nhức
giữa mùa xuân gió bấc tràn, nơi Vườn Bông ngày đó…
Tôi xin mượn mấy câu thơ của nhà văn Hồ Việt Khuê,
mà anh đã viết khi còn là học sinh Trường Trung học Phan
Bội Châu, Phan Thiết, để làm dấu chấm hết bút kí này:
Cây vông già cạn nhựa tung trời
Ngàn hoa máu rưng rưng Phan Thiết
Vườn Bông ấy tình ta li biệt
Buồn lắm, Mường Giang lặng lẽ trôi…
VVM.22.11.2025-NVA.
Phan Thiết có sông Cà Ty, còn gọi là sông Mường Mán, Phan Thiết hay Mường giang. Nhà trí thức, nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông, nguời sáng lập “Ngoạ Du Sào”, trong bài “Ngoạ du sào” ( in trong “Ngoạ du sào tập”), ông viết tên sông là Phan giang: “ …thiểu hạ nhân cấu tiểu đình ư Thắng kiều chi tây nam vi tĩnh dưỡng kế. Đình hạ lâm Phan giang …”. Dịch Nôm: “ tôi dựng một cái đình nhỏ ở phía tây nam cầu Thắng để nghỉ ngơi. Đình kề bên sông Phan”. Ngoạ Du Sào chính là nơi vào năm 1907, các con của Nguyễn Thông theo lời gợi ý của cụ Phan Châu Trinh đã cho xây dựng ngôi trường mang tên Dục Thanh nổi tiếng, mà sau đó, năm 1910, chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã về dạy học. Hiện nay, là chỗ dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh- chi nhánh Bình Thuận. Cầu Thắng là chiếc cầu đầu tiên bắc qua sông Phan. Theo trí nhớ của những cụ già từng sống ở Phan Thiết, thì cầu Thắng được làm hoàn toàn bằng gỗ, các chân trụ cầu bắt chéo liên kết nhau cắm xuống lòng sông. Vị trí cầu Thắng nằm ở giữa cầu Quan (cầu Lê Hồng Phong ngày nay) và cầu Trần Hưng Đạo. Tôi suy luận, có lẽ con đường dẫn lên cầu từ hữu ngạn phía Nam sông, chính là đường Lý Thường Kiệt bây giờ. Thời gian sau đó, người Pháp làm cầu sắt mới kề bên (cầu Quan) và dỡ bỏ cầu Thắng. Sông Cà Ty chảy cắt ngang giữa Phan Thiết đã làm cho thành phố nhỏ bé này đẹp hẵn lên, như thiếu nữ đẹp hơn nhờ có mái tóc suông chảy dài óng ả trên lưng. Có lẽ vì vậy mà dòng Cà Ty chỉ dài có 7,2 km nhưng cũng được tôn vinh, “nâng cấp” thành sông, thành giang. Soi bóng xuống dòng sông Cà Ty, nổi bật lên bên bờ bắc là Tháp Nước Phan Thiết, trước đây thường được gọi tên bằng tiếng Pháp là “Château d’eau”. Và không dưng mà Tháp Nước Phan Thiết lại trở thành hình tượng trong biểu trưng chính thức của tỉnh Bình Thuận. Tháp Nước tuy không đồ sộ, cao lớn, nguy nga, nhưng dáng vẻ hết sức thanh thoát, sang trọng, mang đậm dấu ấn kiến trúc phương Đông. Hình tháp thân trụ trông giống như một búp sen đương ủ hương, phần đài hoa hình bát giác nở phình ra ở trên cao ba mươi hai mét ôm những cánh hoa sắp bừng nở. Mái tháp được lợp ngói đỏ tươi. Từ xa, ta dễ dàng nhìn thấy màu đỏ của mái ngói nổi bật lên trên nền những tán lá xanh. Đàn chim yến làm tổ bên dưới mái tháp bay lượn không ngừng trên những ngọn cây, mái nhà, cánh giang thẳng chao nghiêng ngoài mặt nước sông lồng lộng gió ngày nước lớn. Tháp Nước Phan Thiết được giới kiến trúc đánh giá là đẹp và độc đáo nhất trong các tháp nước được xây dựng ở Việt Nam. Cách nay mấy năm, có một nhóm sinh viên Lào theo học ở Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Hà Nội) đi thực tế ở Phan Thiết, tình cờ gặp tôi trong một bữa nhậu nơi quán cóc bên bờ sông Cà Ty. Khi tôi chỉ Tháp Nước và giới thiệu đây là công trình kiến trúc do kiến trúc sư Hoàng thân Xu-pha-nu-vông (sau này là chủ tịch Nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào) thiết kế và được khởi công xây dựng vào năm 1928, các sinh viên Lào hết sức bất ngờ, trố mắt ngạc nhiên. Họ không thể nào tưởng tượng được rằng ở một nơi xa xôi trên đất nước Việt Nam, lại ghi đậm dấu tích thật đẹp đẽ vị nguyên chủ tịch nước của họ, một nhân cách thật lớn, mà nhân dân các bộ tộc Lào trong cả nước hết sức kính yêu. Hoàng thân Xu-pha-nu-vông thời trẻ đã từng đảm nhận chức vụ Kiến trúc sư trưởng Khu công chánh Nha Trang và ông đã vẽ thiết kế Tháp Nước Phan Thiết trong thời gian này.
Château d’eau - Tháp Nước, trong kí ức thời học sinh của chúng tôi không thể tách rời với không gian toạ lạc của tháp. Đó là Vườn Bông lớn. Gọi “lớn” để phân biệt với Vườn Bông nhỏ nằm đối diện bên bờ nam sông. Hai bờ nam-bắc thông thương nhau qua một cây cầu ngắn, là dạng cầu sắt effel, thường được gọi là cầu Quan. Sau này, khi thành phố có thêm hai cây cầu mới hai bên cầu Quan, người dân ở đây hay gọi tên là cầu Giữa. Hiện nay, cầu Quan cũ được thay thế bằng chiếc cầu treo bê tông mới. Chiếc cầu treo hiện đại này là vật kiến trúc đặt ở trung tâm thành phố có vẻ không đúng chỗ, nên đã làm vỡ không gian kiến trúc nền rất nhuần nhị ở tầng thấp của thành phố, được mở ra từ hai bên bờ sông, hình thành nên một đô thị nhỏ bé, giản dị mà xinh xắn này. Nhưng thôi, hiện nay còn nhiều thứ nữa quanh ta bị phá vỡ để lên đời hiện đại, mà ta không còn cách nào khác là buộc phải chấp nhận trong sự nuối tiếc “bao giờ cho đến ngày xưa”.
Vườn Bông từ khi hình thành, không biết có ý muốn tạo nên ý nghĩa gì đặc biệt không mà những người có trách nhiệm đã trồng hầu hết là cây vông trong vườn...
Người xưa trồng cây nơi công cộng, vườn nhà ở hoặc chơi cây kiểng, thường không ngẫu nhiên mà luôn có chủ ý chọn loài cây để ngầm biểu hiện cái chí của mình; như trồng trúc là chỉ sự thanh cao, trồng bách, trồng tùng là nêu cao tích cách của người quân tử... Vậy trồng cây vông trong Vườn Bông là có ý nghĩa gì? Theo sử sách viết về Hà Nội có ghi lại, vào năm 1864, văn nhân nổi tiếng một thời Nguyễn Văn Siêu, thực hiện theo lệnh của triều đình, làm chủ công xây dựng Tháp Bút và Đài Nghiên bên bờ Hồ Gươm, làm biểu trưng cho chí khí của kẻ sĩ đất Việt. Ông đã cho trồng năm cây vông làm nền cho Tháp Bút. Việc làm đó của “Thần Siêu” chắc hẵn phải có ý nghĩa gì đó đặc biệt lắm… Không biết có sự liên quan sâu xa nào giữa việc trồng năm cây vông quanh Tháp Bút ở đất nghìn năm văn vật, với việc trồng một vườn cây vông quanh chân Tháp Nước của thành phố Phan Thiết bé nhỏ ở chót cùng mìền Trung xa xôi, cách Hà Nội hàng ngàn cây số? Hoàng Phủ Ngọc Tường, một nhà văn uyên bác về hoa và cây, trong bài kí “Mùa xuân thay áo trên cây” đã cho biết, trước đây, ở Huế, người Pháp vốn tính toán quy hoạch rất kĩ, đã quyết định cho giữ lại và trồng thêm nhiều cây vông trong kinh thành. Hiện nay, một số cây vông đã thành cổ thụ cùng những cây vông thế hệ sau đang góp phần điểm xuyết cho vẻ đẹp cổ kính của thành phố “di sản văn hoá thế giới” này bằng màu xanh của lá, bóng mát của cây và “màu hoa đỏ thắm, trong như ngọc và toả ra ánh sáng” (Hoàng Phủ Ngọc Tường). Tôi nghĩ, như vậy, có thể coi cây vông là cây sang trọng, góp phận mình để làm nên nét văn hóa kinh kì. Thế nhưng, ngược lại, nhà thơ “chơi ngông” Nguyễn Công Trứ trong bài thơ “Vịnh cây vông” của mình đã không tiếc lời chê bai: “Càng lớn càng già càng xốp xoáp/ Ruột gan không có có gai chông”. Tất nhiên, chúng ta đều biết nhà thơ chỉ mượn vật để nói người. Nhưng, có phải cây vông hoàn toàn không có ích lợi gì, theo nghĩa đen mà Nguyễn Công Trứ nói đến không?
Trước khi đặt bút viết bài này, tôi đi tìm công dụng vật chất của loài cây vông này và biết thêm một ít. Cây vông có ít nhất là sáu công dụng chứng tỏ họ nhà vông danh giá chẳng kém cạnh với bất cứ “đồng mộc” nào, kể cả đó là danh mộc. Thứ nhất, lá cây vông được dùng làm chất liệu bao gói nem không có gì sánh bằng, nên cây vông còn được gọi là cây vông nem (sau này cây vông hiếm dần đi, người làm nem phải lấy lá chùm ruột thay thế). Công dụng thứ hai là, cả lá và vỏ cây vông đều được dùng làm thuốc chữa bệnh rất hữu hiệu. Lá vông dùng để an thần, chữa bệnh mất ngủ, hạ nhiệt, hạ huyết áp, co bóp các cơ, sát trùng, tiêu tích, trừ phong thấp…Vỏ cây vông có tác dụng khu phong, thông lạc, sát trùng, trấn tĩnh… Công dụng thứ ba là, gỗ vông (cả cây vông đồng nữa) được dùng làm guốc mộc độc nhất vô nhị, vì nó rất nhẹ, mang êm, là mặt hàng tiêu dùng phổ biến thời trước. Các cụ ông râu dài, bận bà ba lụa trắng, đội mũ cối trắng, mang đôi guốc “dông” (theo giọng nói người phương Nam) vào, là coi như đủ lệ bộ, có thể đàng hoàng lên đường đi dự đám cưới, ăn đám giỗ ngon lành. Những năm chín mươi của thế kỉ XX, “Trung niên thi sĩ” Bùi Bán Dùi (Bùi Giáng) vẫn còn diện đôi guốc vông xênh xang giữa phố xá Sài Gòn hoa lệ mà “đâu có ngán thằng Tây nào”. Thứ tư, cây vông có liên quan đến lễ tiết, hiếu đạo. Những gánh hát bội trong Nam thời xưa, khi đi lưu diễn rày đây mai đó, luôn mang theo bàn thờ Tổ hát bội. Không rõ lí do sâu xa ra sao mà cốt của ông Tổ bao giờ cũng được đẻo tạc bằng gỗ vông. Thêm nữa, theo tục lệ ông bà xưa, trong ngày lễ đưa tang của người mẹ quá cố, các con trai phải chống gậy được đẽo gọt bằng cây vông (cha chết thì chống gậy tre), để thể hiện lòng hiếu kính của mình. Công dụng thứ năm là, các nhà vườn cả nước xưa nay thường dùng cây vông còn nhỏ để trồng sống làm cây choái (giá đỡ) cho dây tiêu, dây trầu leo bò lên cao, rất hiệu quả về kinh tế. Thời xưa, khi đồ nhựa polymer chưa được phát minh, người dân hành nghề đánh cá trên sông biển, đều dùng gỗ vông gọt thành khối nhỏ hình bầu dục cột vào mép trên của lưới đánh cá để làm phao và hầu như trên tất cả các thuyền đánh cá thời đó ở xứ biển này đều có phao cứu sinh được làm bằng gỗ vông. Đó là công dụng thứ sáu của cây vông… Chắc là cây vông còn nhiều công dụng khác nữa mà tôi chưa biết. Bỗng nhiên, tôi có sự so sánh, có thể khập khiểng, đó là sự giống nhau giữa cây vông và số phận của nhân dân. Nhân dân thường sống trong im lặng, trong sự nhẫn nhục chịu đựng. Họ không cần danh vọng, tiếng tăm, mà chỉ lẳng lặng bằng máu và nước mắt của mình đóng góp cho sự tồn vong, sự phồn vinh của một dân tộc…
Với riêng tôi, cây vông đã in sâu vào kí ức không bao giờ có thể phai mờ được, không phải từ ở lá, ở thân, vỏ cây vông, mà chính là ở màu đỏ thắm như máu của bông vông. Lại cũng không phải ở bông vông bất kì đâu, mà chỉ là bông vông đỏ trong Vườn Bông Tháp nước Phan Thiết…
Nhiều chục năm về trước, vào những ngày cận Tết âm lịch, khoảng từ 27 đến 30 tháng Chạp, khúc đường Trưng Trắc dọc bờ sông phía Nam đầu cầu Quan biến thành chợ hoa quả tết. Đoạn đường Bà Triệu phía Bắc đầu cầu Quan không được phép họp chợ, vì gần khu quân sự của chính quyền cũ. Khu vực bán mai và khu vực bán các loại hoa vạn thọ, trường sanh, cúc, thược dược, hồng… được phân riêng chỗ khác nhau. Những nhánh mai bị chặt rời từ những gốc mai trên rừng được dựng ngay bên đường để bán. Lúc đó, người ta chưa nghĩ tới việc chơi mai trồng vào ngày tết như bây giờ. Kẻ bán người mua nhộn nhịp, vui vẻ. Đó là một phần của không khí tết không thể nào thiếu được ở các đô thị ở miền Nam lúc đó. Càng nhích gần đến giao thừa, chợ hoa mõn dần, nhưng những nhánh mai chưa bán được đã từ tốn vẽ lên màu ràng rực của hoa đã bung đều hết cánh, chen với màu xanh nhạt hoặc pha tím của lá mai non. Bên kia sông, đối diện chợ bán hoa là Vườn Bông lớn. Lúc này, những cây vông trong vườn đã ngã sang màu úa và đang lác đác rụng những chiếc lá vàng đầu tiên, để rồi chỉ trong vài ngày sau đó, khi những cơn gió bấc ròng thổi thốc từ biển vào, bao nhiêu lá trên cây sẽ trút sạch, như người vừa cởi bỏ chiếc áo cũ đã bạc màu và không còn lành lặn nữa. Những cành cây màu mốc của vông vươn lên cao như những cánh tay níu trời xin sớm cho cây áo mới. Lúc này, toàn thân của Tháp Nước không còn được lá vông che khuất, những mảnh sứ đủ màu được ghép vào thân tháp lộ ra lấp lánh dưới ánh mặt trời. Rồi những ngày tết cũng qua nhanh, nhưng mùa xuân thì vẫn còn ở lại ủ hơi lạnh trong sương sớm, núp trong những chồi cây lấp ló lá non. Ta có thể nhìn thấy nhịp mùa đi trên những tàng cây, trên hoa trái bốn mùa trong không gian trải dài theo chiều từ Nam ra Bắc hay từ đồng bằng ngược lên núi. Nhớ những ngày đi từ trên núi xuống, vào lúc gần hết mùa xuân, khi cây cối trên cao đã không còn xanh nữa, tôi bắt gặp màu xanh được dệt bằng lá non đậm dần từ dưới thấp lên cao. Cũng vậy, trái cây cũng chín dần theo mùa tự nhiên từ Nam ra Trung. Trước tết một chút, cây xoài ngoài Bình Thuận bắt đầu trổ bông, thì xoài chín từ trong Nam đã đưa ra bán ở các chợ ngoài này cho các gia đình mua đơm bàn thờ ngày tết. Đến giữa mùa mưa, xoài trong Nam và Bình Thuận đã hết, thì xoài Khánh Hoà, Phú Yên mới chín rộ. Bông vông cũng vậy. Những cây vông ở đây bao giờ cũng trổ bông sớm hơn ở Huế, rồi đến Hà Nội. Sau Nguyên tiêu, có thể sớm hoặc muộn hơn chừng nửa tháng, tuỳ theo năm, trên những nhánh cây vông không còn chiếc lá nào trong Vườn Bông, như có sự thoả thuận ngầm với nhau trước, nên chỉ cần qua một, hai đêm là đã rực một màu như lửa cháy trên cây. Đó là mùa bông vông trổ. Hàng ngàn chùm hoa hình sao tạc lên trời xanh vào thời khắc bình minh thành những đóm sáng đỏ rực rỡ như mặt trời vừa ló dạng. Mùa bông vông không kéo dài, chỉ chừng non một tháng. Buổi sáng, trên đường đến trường, tôi nhìn thấy bông vông rụng đầy Vườn, bay rơi ra tận ngoài đường Hải Thượng Lãn Ông, Nguyễn Hoàng (Lê Hồng Phong bây giờ), Bà Triệu và bên hông bar Đào Viên, sân tennis ( chỗ bây giờ là công viên trước Trung tâm hội nghị tỉnh). Các nữ sinh áo dài trắng thướt tha đi bộ theo từng tốp như những đàn bướm cánh trắng, vừa đi vừa nói chuyện ríu rít như chim, vô tư đến trường, ngang qua Vườn Bông, bước chân vô tình dẫm lên xác bông vông rơi dầy trên đường như tấm thảm đỏ… Một nhà thơ, đã thật lãng mạn khi tả hình ảnh trên đây bằng mấy câu lục bát:
Thương hàng cây cũ Vườn Bông
Mùa bông vông nở rực hồng bình minh
Thương em gái nhỏ vô tình
Đạp lên hoa đỏ lặng thinh tới trường”
(Yên Ba).
Bông đỏ rụng hết, lá xanh bung ra, chẳng mấy chốc mà Vườn Bông lại mượt mà với màu xanh lá mới. Lúc này, những bầy chim cà cưởng, chim sảnh, chim sáo…đã bỏ đi khi mùa vông trút lá, nay lại lủ lượt rủ nhau về náo nức hót ca, giao tình và làm tổ mới, chuẩn bị cho mùa sinh nở, tiếp diễn không ngừng đời sống của thiên nhiên…
Vườn Bông là nơi gắn bó với nhiều thế hệ thanh thiếu niên học sinh thuở trước. Đây là nơi diễn ra sinh hoạt cộng đồng của các nhóm Du ca, Hướng đạo sinh, Gia đình Phật tử, Hồng thập tự… vào ngày chủ nhật. Là nơi mà thời còn niên thiếu, các ca sĩ thành danh lừng lẫy của Việt Nam đã từng đến đây sinh hoạt theo nhóm, tập hát, thi hát như: Thanh Thuý, Mỹ Lệ, Trúc Mai, Anh Khoa, Nhật Trường… Có nhà thơ, sinh ra và lớn lên ở Phan Thiết, sau kháng chiến trở về, ông thấy những cây vông già trong Vườn Bông mục ruỗng từ trong gốc, chết dần rồi biến mất, ông rất buồn và luyến tiếc. Có lúc ông đề đạt ý kiến với cấp thẩm quyền cho trồng lại cây vông nơi vườn cũ. Hình như những người có trách nhiệm cho rằng cây vông quá tầm thường không xứng để trồng nơi vị trí trung tâm sang trọng này. Thương nhớ bông vông, ông đã cùng với một số văn nghệ sĩ cao tuổi ở Phan Thiết, thành lập “Nhóm thơ Bông Vông”. Đến nay, các thành viên tuổi cao của câu lạc bộ đã lần lượt ra đi mãi mãi mà ước nguyện được một lần nhìn thấy lại màu đỏ thắm của bông vông trên Vườn Bông kỉ niệm không bao giờ có được nữa…
Vườn Bông và mùa xuân bông vông đỏ chỉ còn là hình ảnh đẹp được cất giữ đâu đó trong kí ức của những người một thời đã biết đến, đã có kỉ niệm với nó, đã yêu mến nó. Vườn Bông có thể là nơi chốn của những mối tình bắt đầu, rạo rực hạnh phúc, rồi chia li dưới bóng cây vông, giữa màu đỏ như máu của bông vông.
Tôi viết bài này cũng chính từ kỉ niệm đẹp đẽ về những mùa bông vông trổ, như một cách đền trả món nợ ân tình thời trai trẻ của tôi với bạn bè, với người thân đã từng tha thiết yêu Phan Thiết, yêu hoài và nhớ mãi những chùm bông vông đỏ chói chang, đẹp nhưng nhức giữa mùa xuân gió bấc tràn, nơi Vườn Bông ngày đó… Tôi xin mượn mấy câu thơ của nhà văn Hồ Việt Khuê, mà anh đã viết khi còn là học sinh Trường Trung học Phan Bội Châu, Phan Thiết, để làm dấu chấm hết bút kí này:
Cây vông già cạn nhựa tung trời
Ngàn hoa máu rưng rưng Phan Thiết
Vườn Bông ấy tình ta li biệt
Buồn lắm, Mường Giang lặng lẽ trôi…
