1.
Ông mang đôi giày bật gót của mình đến lão già ngồi góc đường để sửa. Ông định vứt đi, chỉ là loại giày rẻ tiền thôi. Nhưng là cái cớ để gần gã đàn ông chắc cũng bằng tuổi mình. Hằng ngày, ông hay đi qua ngã tư này, nhìn khuôn mặt trầm tư của gã khi vắng khách, thấy lạ. Điều gì đó thôi thúc ông đến tìm gặp gã chuyện trò. Có thể khám phá ra điều gì đó, nơi con người đàn ông khắc khổ đó.
Nhìn khuôn mặt u uẩn của gã, ông chẳng khám phá ra điều gì. Khô khốc, lạnh tanh. Gã kín tiếng, trả lời ậm ừ những câu hỏi vô thưởng, vô phạt của ông.
Vài ngày sau, ông lại mang đến đôi giày sứt quai của cháu nội. Đôi giày chưa kịp bỏ đi. Lại là cái cớ. Tặng cho gã tập truyện của mình, “Nước Mắt Nàng Vũ Nữ”. Ông nói với gã:
-Tăng anh tập sách này để đọc lúc rảnh.
Bàn tay gã lấm lem, trịnh trọng cầm cuốn sách:
-Cám ơn anh!
Ông vẫn thường đi qua lại ngã tư đó, lần nào cũng liếc nhìn gã. Có hôm, ngoài trời nắng nóng hơn bốn mươi độ, gã ngồi dựa tường, mắt lim dim, trên đầu đắp chiếc khăn ướt, tai gắn earphone nghe nhạc. Ông tấp xe máy vào lề, đập nhẹ tay gã:
-Anh..
Gã nhìn đôi giày hở đế:
-Loại này có nhiêu tiền đâu. Sao anh không thay đôi mới?
-À..Thì mình cũng tiết kiệm chứ anh.
-Cám ơn tập truyện của anh. Nhiều truyện ngắn hay. Tác giả này lạ quá.
-Không lạ đâu anh. Tác giả gặp anh mấy lần rồi.
-Vậy à! Tôi không biết.
-Đang ngồi trước mặt anh đây.
-Ô..anh là nhà văn à?
-Không! Chỉ là người viết văn thôi.
Ông và gã không còn giữ khoảng cách nữa. Không cần những đôi giày vứt đi, để có cớ đến ngồi bên gã. Lúc rảnh, ông ngồi bên gã hàng giờ, nghe gã kể những câu chuyện đời mình. Bao nhiêu vui buồn gã trút hết vào thùng rác là ông, người kiên nhẫn lắng nghe. Chẳng phiền hà gì. Biết đâu, ông sẽ có câu chuyện hay, kể lại cho người khác nghe.
Gã huyên thuyên, hoạt bát hẳn lên. Những câu nói không chủ đề của gã có phần điên điên. Ông dè chừng, nghĩ, chắc cha này không thuộc loại bình thường. Sự không bình thường của người thông thái.
Như mọi lần, gã nói:
-Tôi sẽ kể cho anh câu chuyện này. Chuyện chưa kể cho ai. Thấy anh có tâm hồn nghệ sỹ, lại thích lắng nghe chuyện của tôi.
-Chuyện của anh à?
-Tất nhiên rồi. Chuyện thật trăm phần trăm.
2.
Xây dựng theo kiến trúc Pháp như tất cả các nhà ga cỗ trên đất nước mình, từ Nam ra Bắc. Nhà ga Đồng Lát không biết có từ bao giờ? Cũ kĩ, lỡ loét như bị bom đạn tàn phá. Trống trước, hở sau, chẳng có cái cửa nào. Không nhớ có bao nhiêu nhân viên, công nhân phục vụ. Bóng dáng, hình thù họ ra sao? Lâu quá tôi quên mất rồi.
Tàu đến, vài ba khách vội vã xuống tàu, đi xuyên nhà ga như đường hầm rồi ra ngoài. Chỉ thấy khách về, họa hoằng lắm mới có người đi. Nếu không có cái chợ chồm hổm dọc theo con đường đất bên ngoài, người ta sẽ nghĩ nó là cái miếu hoang.
Vậy mà bên cạnh cái tưởng như là miếu hoang ấy, lại có người ở mới lạ. Cái chòi vách phên, lợp tranh của hai chị em cô gái mồ côi. Họ mở quán bán tạp hóa lặt vặt cho khách lên xuống tàu và người dân trong làng.
Không biết họ lưu lạc từ đâu đến? Nhưng chắc không phải là dân gốc ở đây ,vì giọng nói họ khác hơn. Chưa kịp hỏi. Tôi ngại.
Tôi là một giáo viên mới ra trường, được bổ nhiệm về dạy học ở đây. Điều gì cũng ngại, không dám hỏi. Cậu con trai mười ba và cô chị mười bảy tuổi. Họ sống kham khổ, ít nói, rất ngại tiếp xúc với người khác.
Cô chị đang là học sinh lớp Mười Một trường công lập trong thị xã.
Tôi thuê phòng, sống tạm trong nhà dân gần đó, nên thỉnh thoảng cũng có cơ hội chuyện trò với hai chị em họ. Gần nhà ga có một đại đội lính đóng quân. Lão đại đội trưởng cũng từng là một nhà giáo, nên rất quan tâm đến hai đứa trẻ mồ côi. Ông ra lệnh cung cấp thêm lương thực cho hai chị em. Cấm tất cả lính tráng trong đại đội mình đến chọc ghẹo cô gái, ngoài chuyện mua giúp họ cái này, cái nọ. Nhờ vậy mà chị em Hương sống an toàn. Đám thanh niên địa phương cũng chẳng đứa nào dám léng phéng.
Tôi không phải là lính của ông ta, nên chẳng ngại ngần gì chuyện tiếp xúc với cô nữ sinh mồ côi. Thực tình thì tôi chẳng có âm mưu đen tối nào. Chỉ là muốn giúp đỡ, dạy kèm thêm cho chị em họ học hành tốt hơn. Với lại, tôi còn khá trẻ, độc thân, cơ hội được tiếp xúc với cô gái xinh đẹp không thể bỏ phí được.
Nè, anh đừng trố mắt nhìn tôi. Không bịa đâu! Nghiêm túc đó. Có muốn nghe tiếp nữa không?
Mỗi ngày ít nhất một tiếng đồng hồ, tôi kèm cho hai chị em học. Ngồi bên cạnh, chàng trai hai mươi bốn tuổi, làm sao không xao động trước cô gái tuổi mười bảy, thỉnh thoảng liếc đôi mắt trong veo lên nhìn mình. Trái tim tôi xốn xang, nhưng em còn thơ ngây quá.
Một năm trôi qua nhanh. Tôi luôn đóng vai ông thầy nghiêm túc, tận tình chỉ dạy cho hai chị em Hương. Ngoài việc học văn hóa, tôi còn trao thêm kinh nghiệm sống, chuyện trò thân mật. Cố nén tình cảm của mình lại, không để bộc lộ ra ngoài dù chỉ là một cái nhìn âu yếm. Nhưng vậy thì khó chịu lắm.
Lần về nhà nghỉ hè, Ba tôi nói:
-Đừng đi dạy nữa, về xin một công việc nào đó cho gần gia đình. Không việc gì phải chịu chôn thân nơi vùng bán sơn, bán địa đó cho phí tuổi thanh xuân.
Tôi chỉ biết dạ thưa cho qua chuyện. Được mười ngày, tôi nói dối với gia đình rằng muốn vào Saigon thăm bạn bè. Vậy là tôi trở lại Đồng Lát, mặc dù chẳng có việc gì để làm.
Chị em Hương vui mừng khi nhìn thấy tôi trở lại sớm. Món quà mua tặng Hương là chiếc vòng đá cẩm thạch và sợi giây chuyền bằng bạc, có tượng Phật Quan Thế Âm. Cậu em được tôi tặng cây bút Pilot, khắc dòng chữ “ Thầy N. tặng ”.
Còn hơn tháng nữa mới đi dạy lại. Tôi có nhiều cơ hội gần gũi Hương hơn. Năm học tới là học trò lớp mười hai, qua năm thi tú tài. Tận dụng thời gian rảnh chưa đi dạy, tôi dốc sức truyền đạt cho em thêm nhiều kiến thức.
Ban ngày nhà ga khá ồn ào. Chợ chỉ họp buổi sáng, nhưng chiều thì có chuyến tàu về, dừng lại thời gian ngắn. Nhiều lúc nhìn sân ga vắng vẻ, không gian tĩnh mịch, tâm hồn tôi cũng rộn ràng một điều gì đó, khó nói lắm. Muốn đưa Hương ra ngồi trên đường tàu hoặc dạo chơi dọc theo con đường đất dẫn vào khu rừng thưa nhiều hoa dại. Nhưng không thể được vì dù sao tôi cũng là một thầy giáo, còn Hương là cô học trò mới lớn, lại xinh đẹp. Ngại người ta đàm tiếu. Trước nhà ga nhiều cặp mắt qua lại nhìn vào, nên tôi luôn giữ một khoảng cách với Hương.
Ban đêm dễ chịu hơn. Người dân không đi lại nhiều. Trong ánh đèn vàng tù mù, tôi ngồi bên cạnh Hương dạy cho em học, lòng tôi xốn xang, tim đập liên hồi. Nếu em chịu khó lắng nghe, sẽ biết thứ âm thanh trong lồng ngực tôi chẳng khác gì tiếng xình xịch khi tàu vào ga.
Có những lúc em căng thẳng, tôi lại cúi sát gần khuôn mặt em để giải một bài toán khó. Tóc em thoang thoảng mùi xà phòng rẻ tiền. Nhưng với tôi nó là mùi hương thơm tuyệt nhất trên đời.
Không còn dối mình nữa, tôi yêu Hương thật rồi.
Vậy mà..
Năm học mới tôi bị chuyển nhiệm sở. Với người khác thì gọi là “được” vì chuyển về dạy học ở một trường trong thị xã. Nhưng với tôi, đúng là “bị”. Tình yêu dành cho Hương chỉ mới bắt đầu. Hương vẫn là cô học trò ngoan của tôi. Với em, tuy gần gũi, thân mật nhưng tình thầy trò còn đó một ranh giới nhất định. Tôi đúng là thằng bé con đi dạy học.
Gói ghém đồ đạc cá nhân của mình, chiều tôi đến thăm Hương.
-Mai anh đi! Mính có thể đi dạo một tí rồi về không em?
-Dạ được!
Chỉ có con đường đất nhỏ phía trước nhà ga, cây cối um tùm. Tôi không chọn con đường đó. Hương theo tôi đi trên đường ray, bước qua những thanh tà vẹt, lỗn ngỗn đá dăm. Hương nói:
-Mỏi chân quá, Thầy.
Tôi nắm tay em, dìu lên đường ray, còn tôi đi trên đá.
-Hương à! Đi dạy nơi khác, anh buồn lắm.
-Dạ! Chị em em cũng buồn. Thầy về thăm chứ?
-Ngày nghỉ, anh sẽ về thăm. Còn phải kèm cho Hương học nữa mà.
Trời sẩm tối, tôi đưa Hương về.
-Hương..!
-Dạ! Thầy muốn nói gì với em, phải không?
-Ừ!
-Em nghe đây!
Tôi ngập ngừng:
-Thôi nữa! Em thi xong, anh sẽ nói. Mai anh đi, em chăm học cho giỏi nhé.
Mắt em đỏ hoe. Cơ hội như vậy, nhưng tôi vẫn cứ là thằng trẻ con khù khờ.
Đi lại khó khăn, nhưng hằng tuần tôi vẫn về thăm chị em Hương. Gặp em, tôi hỏi đủ thứ chuyện. Học hành ra sao? Buôn bán được không? Có ai ăn hiếp em không? Nhưng điều cần nói lại không thốt nên lời. Cái thằng đàn ông như tôi tệ thật. Không còn là ông thầy và người bảo vệ bất đắc dĩ cho chị em Hương nữa, nhưng tôi cứ mãi ngu ngu, mãi đóng vai ông thầy nghiêm túc.
Chiến tranh lan rộng, người dân hoang mang. Tôi cũng vậy. Ngày nghỉ day, tôi đến ăn cơm trưa với chị em Hương.
-Thầy à! Em sợ quá. Lỡ chiến tranh đến đây, mình không gặp nhau nữa.
-Em đừng lo! Đi đâu, anh cũng đưa hai chị em theo.
-Thầy muốn nói với em điều gì, phải không? Hôm trước, thầy chưa nói.
-Ờ, chừ chưa phải lúc em à. Nhưng anh sẽ nói.
-Thầy nói đi! Em sợ chiến tranh, sợ không kịp.
Tôi muốn nói với em rằng: “Tôi yêu em!”
Nhưng không còn cơ hội nữa rồi.
Đầu năm 1975, chiến tranh khốc liệt hơn. Cuối tháng ba, Cam Ranh như muốn vỡ tung vì dân ngoài Trung theo các chiến hạm, đổ tràn ngập phố phường. Các đơn vị quân đội và người dân ùn ùn kéo nhau di tản ra khỏi thị xã.
Trong buổi dạy cuối cùng chỉ có vài học trò đến lớp, tôi nói lời chia tay các em. Hôm sau tôi chạy xe máy lên nhà ga Đồng Lát tìm chị em Hương.
Không nhớ đoạn đường đất từ ngoài quốc lộ vào nhà ga là bao xa? Hình như bảy, tám cây số gì đó. Chỉ có mình tôi đi ngược với đám người đang hối hả chạy ra thị xã.
Vũ khí, quân trang của lính vứt lăn lóc trên đường. Không hiểu sao lại có chiếc xe jeep quân đội dừng nửa trên, nửa dưới bên bờ ruộng. Không ngần ngại, tôi leo lên nổ máy, phóng thẳng về Đồng Lát.
À, ông không tin tôi lái được xe hơi chứ gì? Tôi là con nhà giàu đấy. Nhà tôi đã từng có hai xe chở khách đấy.
Nè..nè..lại cái nhìn đểu giả của ông, ghét quá. Không tin à? Kệ mẹ ông. Tôi kể tiếp đây. Mấy ông không tin thì cứ xem như nghe được một câu chuyện lâm ly vậy.
Gã như bị lên cơn nhập đồng.
Làng xóm Đồng Lát vắng vẻ, còn một ít nhà ở lại. Nhìn những đồng lúa xanh ngát, tốt tươi thấy tiếc cho nông dân ở đây quá. Họ tháo chạy theo đoàn người vào Nam. Chẳng là khu làng này toàn dân di cư từ Quảng Bình vào năm năm mươi tư.
Khi tôi đến, Hương đang ôm mặt khóc. Chỉ kịp bảo chị em Hương gói ghém vài thứ, rồi lên xe, quay ngược ra quốc lộ.
Hằng trăm ngàn người rồng rắn trên đường hàng mấy chục cây số. Đoàn người xe nối đuôi nhau, chậm như đưa đám. Thỉnh thoảng trên núi dội pháo về, dưới biển dội lên. Ai cũng hốt hoảng, bấn loạn nhảy ào xuống lề đường. Chốc lát yên ắng lại lên xe đi tiếp.
Cứ thế hai ngày một đêm, đoàn người, dân và quân lính mới đến được ngã ba Bình Tuy. Đường ngang qua Long Khánh bị chặn rồi. Có người nói bị đắp ụ, gài mìn gì đó không, cho xe qua. Vậy là cả đoàn người xe dừng lại. Hàng chục, hàng trăm ngàn người các tỉnh miền trung ào ạt di tản vào Nam, dồn về tạo áp lực lên tiểu khu Bình Tuy. Trên núi pháo xuống, Bình Tuy nã pháo lên, người bị thương, người chết nằm lăn lóc trên đường. Chính quyền Bình Tuy không muốn cho đoàn quân dân di tản đi qua lãnh thổ của họ, sợ bị cướp bóc, phá hoại.
Hình như có sự điều đình giữa chính quyền Bình Tuy và đạị diện đoàn di tản. Chúng tôi được phép vào thị xã để đi ghe thuyền về Sài gòn bằng đường biển. Nhưng với điều kiện, tất cả quân nhân phải bỏ lại vũ khí, từng người một, ngồi lết qua hàng rào giây kẽm gai.
Đoàn người như đàn thú hoang hằng ngàn con ,di chuyển chậm chạp trong rừng Châu Phi. Chen lấn, vứt bỏ tất cả những gì có trên người, trừ bộ áo quần.
Trong đám hỗn mang ấy, tôi vẫn nắm chặt tay Hương và cậu em trai, từ từ theo đám người đùn đẩy phía sau, lồm cồm phía trước, cố lết gần đến hàng rào kiểm soát. Xô đẩy, hoảng loạn, gào thét. Chiếc thiết giáp M113 chỉa nòng súng trên đầu, nã liên thanh.
Hoảng loạn, sợ hãi tột độ. Tiếng đạn đại liên bay vèo vèo trên đầu khiến mọi người mất bình tĩnh. Chúng tôi vừa ngồi, vừa nhích từng bước ngắn về phía trước. Hương phía sau, cậu em bò trước mặt tôi. Bàn tay tôi vẫn nắm chặt tay Hương.
Những gã đàn ông lực lưỡng, da ngăm đen, cố bò thật nhanh để mau thoát qua bên kia hàng rào. Họ dùng sức mạnh hất chúng tôi qua bên.
Bàn tay lơi dần, tôi không nắm chặt được tay em nữa.
Có tiếng gọi thét nhói tim của Hương ở phía sau. Khẩu đại liên khạc đạn, gầm rú trên đầu. Tôi quay nhìn. Em lùi dần, mất hút trong đám người di tản. Cậu em trai cũng mất hút về phía trước, bên kia hàng rào.
Tôi bò ngược lại tìm Hương. Đám đông lại hất tôi lên, xô đẩy về phía trước.
Cho đến khi thoát khỏi họng súng đại liên trên chiếc thiết giáp M113, vượt qua được cổng rào dã chiến, tôi hớt hãi chạy khắp nơi nhưng vẫn không tìm được Hương.
Tôi mất Hương từ đó, bên hàng rào dây kẻm gai, dưới họng súng đại liên khạc đạn liên hồi.
Bao nhiêu năm qua, tôi luôn ân hận, ray rứt sao lúc đó không nắm chặt tay Hương nhiều hơn nữa. Sao tôi lại yếu đuối, vụng về, đánh mất tình yêu đầu đời của mình bên kia hàng rào kẻm gai. Không biết em trôi dạt về đâu, còn sống hay đã chết dưới họng súng oan nghiệt nào đó?
Nhiều lần sau này, tôi quay lại ga Đồng Lát hỏi thăm, nhưng không ai biết em ở đâu? Chưa bao giờ tôi đươc thanh thản, tha thứ cho mình. Tôi tôn thời tình yêu trong sáng của mình nên không lấy vợ. Làm sao có thể quên được em? Tôi ân hận.
Cho đến một ngày tình cờ gặp lại Hương. Không phải gặp lại em bằng xương, bằng thịt. Tôi gặp em trên mạng xã hội FB. Không! Em nhận ra tôi thì đúng hơn. Khuôn mặt tôi đó, tuổi trẻ tôi đó, những bài viết của tôi trên FB, trên những trang văn học nghệ thuật người Việt ở nước ngoài, đã dẫn dắt Hương tìm được tôi.
À, còn điều này ông chưa biết. Tôi cũng là người viết văn đấy.
Ông có biết cô ấy là ai không? Là kỷ sư điện toán, đang làm việc cho Google đấy.
Vài tháng sau, em nhắn cho tôi: “Tháng tới em sẽ về VN. Mình có thể gặp nhau không?”
Tôi hoảng hốt, không nghĩ đến một ngày có thể gặp lại em. Suy nghĩ nhiều đêm, tôi không thể. Với hình hài này, thân tàn, ma dại này, làm không đủ tiền nuôi mẹ, làm sao tôi có đủ tư cách gặp lại em?.
Em về thật!
Em về ngày 28/3/năm 2015. Đúng bốn mươi năm, ngày chúng tôi mất nhau. Em gọi qua FB, muốn đến nhà thăm tôi. Tôi trả lời rằng mình đang du lịch nước ngoài. Hương không tin! Em khóc, năn nỉ cho em được gặp tôi, một lần thôi cũng được. Hương nói, đang ngồi ở quán cà phê gần cầu tình yêu bên kia sông. Tôi tắt điện thoại. Tôi sợ hãi phải gặp lại em.
Chiều hôm sau em lại gọi cho tôi, ngồi ở đó, quán cà phê bên kia sông. Tôi không trả lời, nhưng vẫn đến đó.
Tôi chọn chiếc bàn sát bờ sông, quan sát, tìm Hương. Nhận ra em, không thể nhầm lẫn được. Hương đang ngồi một mình, phía ngoài đường, bên cạnh hàng rào hoa lài. Đã gần tuổi sáu mươi nhưng em vẫn còn rực rỡ quá, đẹp quá. Hương xoay người, nhìn ra đường. Chắc em đang tìm kiếm, đợi tôi.
Tim tôi đập rộn ràng. Máu tôi chảy ngược lên não. Tôi tự hỏi mình: “Đến gặp em không? Được không?”. “Không được!”.
Tôi nhắn cho em qua messenger: “Đời tôi phong trần, bụi bặm rồi em à. Xin lỗi em”. Hương trả lời: “Em biết! Có sao đâu. Anh đến nhé”. “Không!” Tôi nhắn lại cộc lốc.
Dường như Hương có linh tính tôi đang ngồi trong quán này, gần em. Hương xoay người lại, nhìn về phía bờ sông. Mắt em dừng, chạm vào đôi mắt tôi. Bàn tay run run, tôi cố hờ hững, làm như xa lạ, rít thuốc lá liên hồi. Hương nhớm người định đứng dậy, nhưng rồi lại ngồi xuống. Em không chắc lắm, có thể nhìn nhầm người. Nhưng tôi thì không nhầm lẫn đôi mắt ấy được. Đôi mắt hút hồn cả cuộc đời tôi. Tránh cái nhìn của Hương, tôi cúi mặt, nhìn vào điện thoại, người run lên bần bật.
Cố thản nhiên, tôi đứng dậy ra về, đi lối dọc bờ sông, lòng đau buồn như lần mất em.
Chiều hôm sau và hôm sau nữa, em lại gọi cho tôi, vẫn chỗ đó, em đợi. Tôi nhất quyết không đến. Tôi khóa FB của mình.
Ông tin đi! Lạ quá phải không? Chắc tại định mệnh hay là cái thứ quỷ quái gì đại loại như vậy. Khiến cho tôi như người ở cõi trên, cứ lơ mơ, khờ khờ.
Nè..ông đừng cười cợt. Nửa tháng sau, về Mỹ, em nhắn cho tôi: ”Anh tệ quá! Em muốn giúp anh ra nước ngoài, Được không?”. Tôi từ chối.
Thôi, uống đi. Kể ông nghe vậy đủ rồi. Nhìn cái mặt của ông nghệch ra, tôi biết ông không tin. Đừng nhìn tôi mà cười khốn nạn thế. Đôi mắt nheo nheo, dễ ghét quá! Nghĩ tôi bịa phải không? Cái ngữ như tôi hơn nửa đời lên bờ xuống ruộng, làm không đủ nuôi mẹ, điên điên, khùng khùng mà.
Thôi được! Đến khi nào ông cho chuyện tôi kể là thật, thì phần sau tự suy diễn ra sao? Tuỳ. Mẹ kiếp! Trông thứ bản mặt banh ra, ghét quá.
Uống đi! Cứ xem như tôi đang mơ mộng viễn vông đi. Cứ cho đó là câu chuyện tào lao, xịt bộp đưa đường cho cóc xoài, muối ớt tọng vô họng ông đi.
Dzô!.. Hết ly đi!.. Chết mẹ! Trời sụp tối rồi. Mẹ dặn đi mua bó rau muống về luộc, quên mẹ nó rồi. Thôi tôi về. Nhớ trả tiền bửa nhậu nhé. À, đừng kể lại cho ai nghe đó.
Chị bán hàng đồ chơi trẻ em bên canh, cười mỉm:
-Tôi ngồi gần ổng, nghe kể hàng trăm lần rồi, thuộc lòng.
3/
Ông và gã trở thành đôi bạn thân.
Nếu trong những ngày cuối cùng cuộc chiến, gã không xớn xác, điên rồ chạy quanh các đường phố Sài Gòn như người điên, tìm Hương, chắc ông ta không bị tai nạn để rồi dỡ điên, dỡ khùng. Theo lời gã nói.
Đôi lần ông gạ gã kể tiếp câu chuyện, nhất định không. Bảo ông không xứng đáng nghe câu chuyện của gã.
Thực ra thì câu chuyện của gã, ông đã nghe nhiều lần, thuộc từng câu chữ, địa danh. Hình dung ra khuôn mặt dễ thương của Hương, cô gái ở nhà ga Đồng Lát, theo lối diễn đạt của gã. Ông biết vì sao gã từ chối lời đề nghị được giúp đỡ của Hương..
Câu chuyện hai người cũ gặp nhau, kết thúc như thế nào, chỉ mình gã biết.
Sau này, mỗi khi nhậu say, gã lại nói: “Kể cho ông nghe câu chuyện cũ của tôi. Lần đầu tiên..”
Nhìn khuôn mặt gã buồn, đôi mắt thăm thẳm như dại, ông tin câu chuyện cô gái ở nhà ga Đồng Lát của gã, là có thật. -/.