Dần dần, đường nét của con phố trở nên rõ ràng hơn, để lộ những khối tối trông giống như những tảng đá hay sư tử đá đứng bên ngoài nhà của những gia đình khá giả. Tuy vậy khi đến gần, người ta có thể thấy những đôi chân cuộn tròn hay những chiếc lưng gù của những người ngủ nằm rải rác một cách kỳ lạ.
Họ đang làm gì ở đó? Thực ra họ đang "đuổi theo vụ thu hoạch", hay nói rõ hơn là những người thợ gặt lưu động đến từ Trang Lãng.
Trang Lãng là một huyện ở tỉnh Cam Túc có chu vi vài trăm km nằm dưới chân dãy núi Quan Sơn. Có vẻ như đó là một vùng đất rộng lớn, nhưng nơi đây rất đông dân và các vị thần luôn giáng hoạ xuống không thương tiếc. Trong mười năm thì chín năm hạn hán và thu hoạch mỗi mẫu chỉ có 200 cân thóc, đó cũng là một kỳ tích. Kể từ khi chế độ hợp tác xã ra đời, người ta nói là nhiều nơi đã đạt 500 hoặc 600 cân. Nhưng tại một số vùng núi thì không nước nên dù trong nhà có nước họ cũng không dám đổ vào ruộng. Đất đai tại vùng Trang Lãng thật kỳ lạ. Nếu đổ nước vào, nó sẽ trở nên cứng như đá và nghiền nát những mầm non. Vì vậy, khi đã trồng một chút gì trên mảnh đất của mình, khoảng một mẫu, họ sẽ bỏ làng đi và "đuổi theo các vụ thu hoạch" của người khác.
Mỗi tháng Năm, những người đàn ông từ Trang Lãng kéo đến tỉnh Thiểm Tây để gặt lúa thuê, họ thực hiện cuộc hành trình dài về phía Đông, gặt thuê ở đó rồi từ từ quay trở về. Khi gặt lúa ở Bảo Ký thì lúa ở Phong Tường cũng vừa chín; khi vừa gặt xong ở Hoài Hóa thì vẫn kịp tới gặt tại Lũng Tây. Đến tháng 6 thì không còn xa nhà và họ có thể về kịp để thu hoạch vụ mùa của mình.
Việc đi gặt thuê này là truyền thống của dân Trang Lãng, được truyền lại từ tổ tiên của họ. Nó đã trở thành bản chất thứ hai, ăn sâu vào tiềm thức. Nếu một người ở Trang Lãng không đi gặt thuê thì anh ta sẽ cảm thấy bồn chồn suốt cả năm, như thể có điều gì đó đã quên làm. Khi đi ra ngoài gặt thuê sẽ không phải lo lắng về vấn đề ăn uống, người chủ sẽ cung cấp ba bữa ăn ngon mỗi ngày. Nhưng để kiếm được những bữa ăn đó, vào ban ngày mặt trời thiêu đốt da trên lưung, trên vai, và vào buổi tối phải ngủ ngoài đồng hoặc trong một nhà kho nào đó, hoàn toàn kiệt sức, giống như một con lừa chết. Bị cháy da thì chẳng là gì, nhưng nếu thời tiết thay đổi khi những giọt mưa đổ xuống, trái tim sẽ chìm xuống như một hòn đá. - Chúng ta sẽ không gặt thì người chủ sẽ không cung cấp thức ăn - Lúc đó họ phải mở túi khẩu phần của mình lấy ra ít cơm nguội mà bạn đã để dành từ các bữa ăn trước. Và điều đó cũng không quá thảm khốc, điều tồi tệ nhất là phải theo dõi vụ thu hoạch từ nơi này sang nơi khác. Trong vài năm qua, có quá nhiều người đi cắt thuê và quá ít ông chủ. Khi một người chủ đến, ông ta bị bao quanh bởi một đàn ong, và quỷ dữ sẽ nắm lấy tay bạn nếu chậm một bước. Và nếu có nhiều thợ, tất nhiên, giá sẽ giảm. Trước đây, giá bốn hoặc năm nhân dân tệ cho một mẫu. nhưng ngày nay, ông chủ chỉ cần hét lên - Một tệ hai mươi một mẫu, ai muốn làm? - Và họ không có lựa chọn nào khác ngoài việc đi theo. Chắc là trong tương lai gần, giá sẽ giảm xuống dưới một tệ một mẫu, hoặc xấu hơn nữa là chỉ cho ăn. Lúc đó, không còn chọn lựa nào khác là cúi đầu, lẩm bẩm: - Thôi, miễn là có thứ lấp đầy bụng là được ...
Quay lại con phố duy nhất của Hoài Hóa, trời đã sáng hẳn, và nơi này đã nhộn nhịp với những người bán hàng rong và thương nhân. Những người gặt thuê đã ngồi dậy, gãi những vết muỗi đốt, quan sát đám đông nhìn xem có "ông chủ" nào trong số họ không.
Với những bước chân mạnh mẽ, một chàng trai trẻ khỏe mạnh bước về phía họ.
- Cha ơi, cha không thể ngồi đó mãi được! Một lúc trước một người từ Thủy Trường đã thuê hơn bốn mươi người ngay tại bến xe đò ...
Cậu thanh niên có vóc dáng cân đối, đôi mắt to sáng thông minh, mặc chiếc áo sơ mi nâu thấm đẫm mồ hôi, quần đen vá víu và đôi giày gai đã sờn rách. Tuy vậy trông cậu vẫn tràn đầy năng lượng.
Ngô Hòa Đông ngước nhìn cậu con trai đang thở hổn hển rồi lại tiếp tục ngồi trên bậc thềm bê tông như trước. Ông ta cố gắng nuốt hết miếng cuối cùng rồi nói:
- Bình tĩnh nào, không cần vội. Tối qua cha đã quan sát kỹ chỗ này. Có khá nhiều người qua lại, nhiều ông chủ nữa.
Ông hướng ánh mắt về phía những người qua đường.
Ngô Thuận Xương là một cậu con trai ngoan, mặc dù đang nóng ruột nhưng vẫn ngoan ngoãn ngồi xuống bậc thềm đá bên cạnh người cha.
- Con không có gì ăn sao? Bố có ít gạo rang, con có thể xin ít nước sôi ở nhà hàng kia rồi ngâm vào ăn cho dễ.
- Không, không cần như vậy.
Chẳng lẽ Ngô Hòa Đông không lo không ai mướn sao? Làm sao mà không lo cho được? Chỉ cần nhìn cái đầu đã nhiều ngày không cạo của ông ấy giờ bám đầy bụi là biết. Chỉ cần vốc nước lạnh lên đầu và dùng lưỡi liềm cạo râu, cảm thấy mát mẻ và sảng khoái rồi. Nhưng ông lại tin lời người xưa nói rằng phải để tóc dài khi đi gặt lúa. Cắt tóc thì không được cắt lúa, chắc chắn sẽ chẳng ai mướn vì sẽ làm mất mùa. Anh biết đó chỉ là mê tín dị đoan, nhưng ông vẫn tin như vậy.
Giờ đây, khi ông dõi theo từng bước chân của người qua đường, một vẻ u sầu ẩn sâu trong đôi mắt già nua, đục ngầu. Ông lẩm bẩm:
- À, ngày xưa thì có người đứng lãnh mùa gặt, nhưng giờ thì ai cũng tự lo liệu lấy...
Một người đứng ra lãnh mùa gặt, hay còn gọi là người thầu mùa gặt, thường là một thanh niên lực lưỡng, tự cho mình biết chút võ công, đứng giữa đám thợ gặt, đấm vào ngực rồi tuyên bố - Tôi điều hành vụ gặt này. Giá là năm nhân dân tệ một mẫu, và tốt nhất đừng nghĩ đến việc làm với giá thấp hơn! - Nếu ai định đi kiếm riêng, người đó sẽ bị ăn đòn. Còn ông chủ nào bị phát hiện quanh đó hắn sẽ tự tăng tiền mướn lên.
Ngày xưa, Ngô Hòa Đông cũng là một người thầu mùa gặt và thường đấm ngực hét lớn về tiền công trong ngày. Tuy nhiên, có một lần, hành động vung tay la hét của ông không làm đối phương sợ hãi, một nhóm côn đồ bất ngờ xông lên, quật ông ngã xuống đất và đánh ông dã man đến nỗi không thể đứng dậy được nữa. Cho đến tận bây giờ, chân trái của ông vẫn còn hơi khập khiễng. Lúc đó, ông chỉ biết nghiến răng tự nhủ: - Hừ, trời đất xoay vần, con sông ba mươi năm lại đổi dòng. Cứ chờ đó! Ta sẽ cho bọn bay xem.
Cái "ba mươi năm" đã trôi qua, Ngô Hòa Đông vẫn là thợ gặt. Người qua đường, thương nhân và những người đến tìm việc làm thời vụ dường như đều cao hơn ông một cái đầu, mắt họ liếc xéo khi đi ngang qua nhưng không nhìn thẳng vào mắt ông. Mà ai lại nhìn vào mắt thợ gặt chứ? Nếu nhắc đến họ, ai cũng nói câu giống nhau: cứ mười người thợ gặt thì chín là tên trộm, chúng sẽ ăn cắp bất cứ thứ gì chúng thấy. Khi ở quán ăn, họ còn quơ cả bát lẫn đũa. Vì vậy, hàng năm khi người gặt lúa đến, tất cả các gia chủ đều đề phòng, đóng chặt cửa để tránh bị mất chăn, gối đệm hay gà.
Nếu ai nghĩ rằng mình có thể gạt người thợ gặt bằng cách nói rằng họ đã cắt ít hơn một mẫu so thì hãy nghĩ lại đi. Chân của họ chính xác như thước đo, với hai bước chân thì bốn mươi bước là một mẫu. Khi còn trẻ, Ngô Hòa Đông trở về sau khi làm việc thì thấy một con diều hâu đang bắt con gà mái. Ông ta tức giận, chỉ ước gì mình có cánh để có thể bay theo nó. Nhiều ngày sau đó, ông luôn bực mình và sau đó nghĩ ra một kế để trả thù. Ô chạy lên sườn đồi, lột sạch quần áo, bôi máu heo lên người, rồi nằm xuống đất, nhắm mắt chờ con diều hâu lượn vòng xuống ăn "xác chết". Quả nhiên, con chim lớn sà xuống, đôi cánh xoay tít che kín bầu trời. Chỉ cần nhìn thấy cái mỏ hung dữ của nó cũng đủ khiến ai cũng sợ chết khiếp, nhưng ông vẫn nằm im không nhúc nhích. Con diều hâu sà xuống ngực Ngô Hòa Đông, vừa định mổ mắt thì ông ta đã mở to mắt, vung tay lên tóm lấy cổ con vật. Về tới làng mọi người ùa ra xem, ông ta đánh con diều hâu, vừa chửi rủa: - Tao sẽ cho mày biết tay, đồ ăn trộm! Sao mày dám cướp gà của tao? Và đây là những gì mày phải trả giá. - Sau khi siết cổ con vật và lột da, ông ta mang nó đến cửa hàng và đổi lấy hai con gà con ...
Thuận Xương nhìn cảnh những người chủ ngày một ít dần, nhưng biết cha mình cứng đầu đến mức nào nên không dám nói một lời. Cậu đi xin một bát nước nóng ở quầy mì rồi lặng lẽ đổ gạo rang vào. Ngay khi cậu vừa bắt đầu ăn, một chiếc xe vận tải nhỏ dừng lại ở cuối phố. Một người đứng trên xe và nói to:
- Ai đến Nam Xuyên không? Lúa không dày. Tôi trả một tệ hai mươi một mẫu, ai muốn làm thì lên nhanh.
- Thuận Xương, thu dọn đồ đạc đi. - Ngô Hòa Đông hét lên, vội vã vác cái sào có treo túi lương thực, chiếc áo khoác cũ, chiếc mũ rơm rách nát và cái liềm kêu leng keng rồi chỉ vài sải bước nhảy đã leo lên xe.
- Thuận Xương. Nhanh lên!
Khi Thuận Xương chạy đến, ông chủ đã đếm số người trong xe và vẫy tay: - Thôi. Không thêm nữa! Này, mày không nghe tao nói à? - Ông ta hét lên, dùng sức gỡ tay Thuận Xương đang bám chặt vào thành xe.
Ngẩng mặt lên, Thuận Xương nài nỉ ông chủ: - Ông chủ! Cho con đi cùng. Con phải đi với cha con.
- Không được, đã đủ rồi.
- Cho con lên đi, ông chủ ơi...
Ngay lúc đó, một giọng phụ nữ trong trẻo vang lên: - Có ai đi Lâm Du không? Vùng núi cao đấy. Chúng ta sẽ thỏa thuận giá cả sau.
Một cô gái trẻ xinh xắn khoảng hai mươi bốn tuổi, mặc một chiếc áo truyền thống Trung Hoa, quần gai đen bó sát và giày vải đen thêu, có khuy cài gọn gàng. Vài người thợ gặt chạy đến chỗ cô ta.
- Tôi chỉ cần một người thôi - Cô vội vàng nói, đôi mắt sâu thẳm lướt qua đám đông và dừng lại chỗ Thuận Xương đứng cạnh chiếc xe.
Đột nhiên, chiếc xe ầm ầm chuyển bánh và Thuận Xương nhìn theo người cha đang rời đi. – Cha ơi ...
*
Lâm Du nằm giữa núi non trùng điệp với rừng xanh rậm rạp và những dòng suối róc rách. Năng suất mùa màng không cao, nhưng dân cư thưa thớt, và thời tiết lại thuận lợi cho việc canh tác nên đời sống ở đây sung túc. Tuy nhiên, nếu bạn cố thuyết phục ai đó đến định cư ở đây, chắc chắn họ sẽ từ chối. Do một đặc điểm kỳ lạ có thể do môi trường là hầu hết các gia đình ở đây đều có ít nhất một người khuyết tật, mắc một chứng bệnh là đầu to, thân hình ngắn và chân què. Hầu hết đàn ông đều mắc bệnh này nên công việc lao động đều do phụ nữ đảm nhiệm. Người dân nơi khác thường cười khi kể chuyện về họ, như đàn ông không thể tự mình lên giường mà phải nhờ người khác giúp đỡ. Vì lý do này họ cần người gặt lúa thuê. Sau đó, những người gặt lúa khoe là nếu không có họ, ngũ cốc ở Lâm Du sẽ bị bỏ mặc cho thối rữa ngoài đồng.
Khi Thuận Xương theo chân người phụ nữ trẻ trên con đường núi hẹp, ánh nắng vàng rực rỡ chiếu sáng thảm thực vật tươi tốt xung quanh. Cả hai đều không nói gì. Đôi giày thêu lạch cạch trên mặt đất như hai con bướm đen đang nhảy múa, trong khi đôi giày gai của anh ta theo sau.
- Này, anh kia! … - Cô gái trẻ la lên, phá vỡ sự im lặng.
- Vâng … - Thuận Xương trả lời, - Vâng, tôi đây.
Anh ta dừng lại, đổi cây sào sang vai trái và quay nhìn chung quanh. Những mảnh đất nhỏ trên sườn núi. Lúa mọc thưa thớt và chất lượng kém: chỉ khoảng hai trăm cân một mẫu. Anh ta có thể dễ dàng cắt được ba mẫu một ngày với giá ít nhất một tệ một mẫu. Thực ra, bảy mươi hay tám mươi xu cũng được... vậy là hai tệ mười xu hoặc hai tệ bốn mươi xu một ngày. Tại đồng bằng, người ta không thể cắt được quá một mẫu rưỡi trong một ngày, nên cũng gần như vậy.
Trong khi Thuận Xương đang tính toán, người phụ nữ đã dừng lại và quay lại nhìn anh.
- Sao chúng ta im lặng mãi như vậy? Anh ngốc hay sao?
- Ừ, ừ.
Khuôn mặt Thuận Xương trông đờ đẫn, khóe miệng nhếch một nụ cười ngượng ngùng.
- Nhà cô chủ có bao nhiêu đất vậy?
Cô đợi anh đuổi kịp, đôi hài "bướm đen" của cô chậm lại một chút. Cô quay sang anh, khuôn mặt trắng trẻo ửng hồng. - Ồ, đủ cho anh cắt đừng lo. Gia đình tôi có ba người, mỗi người mười mẫu. Anh tự tính nhé.
- Ba mươi mẫu! Tôi sẽ cắt hết chỗ đó. Có thể nó sẽ vàng và bắt đầu rụng trước khi kịp cắt đến.
- Nhưng còn tôi nữa, đừng quên. - Cô nói, nhìn anh bằng đôi mắt đen láy, khẽ vuốt một lọn tóc từ má ra sau tai. –Không lẽ tôi ngồi không nhìn anh làm hay sao?
Thuận Trường không dám nhìn vào đôi mắt ấy quá lâu; anh cúi xuống, nhưng lần này ánh mắt anh lại hướng về bầu ngực căng tròn của cô trong chiếc áo dài.
- Còn chồng cô thì sao?
- Anh ấy đi gặt lúa à? ... Anh chưa từng đến Lâm Du sao?
- Chưa, đây là lần đầu tiên tôi tới đây.
Vừa nói chuyện, họ về đến gần ngôi làng, một đoạn sông khô cạn, hai bên là núi non trùng điệp. Những tảng đá hình thù kỳ lạ nhô lên khỏi lòng sông, chim chóc bay qua bay lại trên đỉnh.
- Nhìn kìa, đất của chúng tôi kia kìa - Cô ấy đứng trên sườn núi chỉ về phía trước - Đằng kia là trang trại của chúng tôi.
- À.
Cổng sân mở ra với tiếng cọt kẹt. Người phụ nữ trẻ dậm chân phủi đất khỏi giày rồi bước vào.
- Vào đi, vào đi. Anh đứng ngoài đó làm gì?
Thuận Xương nghĩ rằng mình nên đợi bên ngoài nhưng nghe thấy tiếng gọi, anh bối rối không biết phải làm gì, rồi bắt chước cô chủ, anh dậm mạnh chân xuống đất khiến anh đau vì đôi giày gai không có gót.
Sân được quét dọn sạch sẽ, từng chiếc mẹt đựng hạt cải phơi khô. Một bà già ngồi lẩy hạt.
- Mẹ ơi, trưa rồi. Mẹ không đi nghỉ à?
- À, con gái đã về rồi, còn ai đây?
Bà già lấy tay che đôi mắt nheo nheo nhìn Thuận Xương.
- Anh ta đến gặt lúa cho mình đó mẹ. - Cô gái trẻ vội nói.
- Thôi được rồi, đồ ăn đã sẵn sàng ở trong bếp. Ăn xong rồi thì có thể bắt đầu gặt. Mẹ thấy lúa đã vàng rồi đó.
Thuận Xương đặt túi vải đựng đồ nghề xuống chân tường, mở túi ra lấy hai cái liềm và một hòn đá mài. Anh ta xin một bát nước, ngồi xổm xuống và bắt đầu mài lưỡi liềm.
Bà già nghe thấy tiếng vù vù của lưõi liềm sắc bén, mắt bà nheo. Bờ vai chàng trai trẻ nhẵn nhụi, tròn trịa, mỗi cử động là cơ bắp cuồn cuộn. Ngực cậu ta nở nang, đôi chân dài dang rộng, gót chân ấn mạnh xuống đất. Trời ơi, trông cậu ta đúng là có thể làm việc được. Trông cậu ta cũng không đến nỗi tệ, mặt tròn, sống mũi cao, mắt sáng.
- Bà ơi. Đừng lo lúa của bà chín quá. - Thuận Xương nói, lướt ngón tay cái lên lưỡi liềm - Con cắt rất nhanh, sẽ xong ngay thôi.
Bà lão chớp mắt.
- Ôi, cậu trai ngoan quá! Thủy Hương, hâm thức ăn nhanh lên.
Họ quay lại thấy Thủy Hương đã mang đồ ăn đến và đứng đó và đang suy nghĩ điều gì ...
*
Ngay khi chiếc xe chạy tới Nam Xuyên, các người chủ ruộng đã chờ đợi từ lâu, họ bắt đầu la hét - Tôi muốn ba người - Tôi muốn hai người - Tôi muốn một chàng trai trẻ - Cùng lúc đó, loa phóng thanh của đội sản xuất đang phát ra một bản nhạc, tạo nên một khung cảnh hỗn loạn như một chiếc "bánh bao thập cẩm" làm băng bắp và kê.
Người dân ở tỉnh Thiểm Tây thích ăn "bánh bao thập cẩm", nhưng Trương Căn Phát, người chủ, lại thèm thứ khác. Anh ta ngồi xổm, hai tay khoanh lại; tay phải cầm điếu thuốc, còn cổ tay trái thì lóe lên một tia sáng. Một chiếc đồng hồ mới toanh... - Ta không kiếm những người cắt nhanh, mà là những người cắt gọn gàng, và khi bó lúa, điều quan trọng không phải là vẻ ngoài xinh đẹp mà là sức mạnh và độ bền, những chàng trai trẻ thường buộc những bó lúa lỏng lẻo, chúng sẽ bung ra ngay khi nhấc lên. Và họ cũng ăn nhiều nữa; người trẻ dễ dàng ăn hết bảy tám bát cơm chỉ trong một bữa ...
Với đôi mắt nheo lại, anh ta nhìn Ngô Hòa Đông rồi lấy ra một bao thuốc lá. - Này, bố, bắt lấy...
Một điếu thuốc rơi xuống chân Ngô Hòa Đông.
- Và con sẽ chọn cả bố nữa, cả bố nữa, và bố nữa. Vậy là bốn người. Nào, chúng ta đi thôi.
Một ông gù lưng, một ông râu quai nón rậm rạp và một trung niên khoảng bốn mươi tuổi. Họ cùng nhau đến cánh đồng và thấy Trương Căn Phát đứng ở cánh đồng lúa dày đến nỗi khó có thể dùng liềm cắt được. Ngô Hòa Đông đặt đòn gánh xuống mép ruộng, nhìn quanh:
- Chắc phải hơn năm trăm cân một mẫu đấy, sếp nhỉ...
- Ôi không đâu, làm gì nhiều thế. - Trương Căn Phát lắc đầu rồi móc bao thuốc lá ra. - Nhìn thì có vẻ khá đều, nhưng thực ra nó mỏng. Mỗi ngày cắt được một mẫu rưỡi cũng không sao. Chuẩn bị đi, chúng ta bắt tay vào làm việc nào ... À, anh không đói à? Ăn sáng rồi à, không đói thì đợi đến trưa cũng được.
Người gù lưng lấy mũ rơm vỗ nhẹ lên bụng - Tôi muốn ăn một chút nhưng nếu không thì cũng không sao. Tôi chưa đói lắm. Các anh nghĩ thế nào? - Ông ta quay sang mấy người kia, lông mày nhướn lên có vẻ bối rối. Ngô Hòa Đông chớp chớp đôi mắt già, nhấc chiếc chân què lên, tập tễnh bước vài bước ra ruộng và bắt đầu gặt.
Vợ của Trương Căn Phát vừa bước ra, tay cầm một chiếc giỏ đan bằng gai. Bà thấy những người thợ gặt đang đi vào ruộng và định gọi họ lại, nhưng chồng bà vẫy tay bảo:
- Này bà, lấy cho tôi cái liềm, nhanh lên!
Người vợ đứng đó một lát rồi quay vào nhà.
*
Bây giờ tất cả những gì có thể nghe thấy là tiếng liềm cắt vào thân cây lúa, cứ hơn chục tiếng liềm là một bó lúa. Trời đã gần trưa, nhưng mỗi người chỉ cắt được hai phần mười mẫu, chiếc áo khoác đen bạc màu của Ngô Hòa Đông bốc hơi do mồ hôi đổ ra. Cái chân lại bắt đầu đau nhức, ông muốn ngồi xuống nghỉ ngơi một lát nhưng hình ảnh mẹ của Thuận Xương lại hiện lên trước mắt anh. Bây giờ bà ấy đang làm gì? Vẫn đang tước tre sao? Bà ấy lột vỏ của từng đoạn tre, cắt chúng thành cùng một chiều dài và độ dày, ngâm trong nước cho đến khi mềm ra rồi đan thành chiếu hoặc những chiếc sàng. Dù cho bà ấy làm đến kiệt sức với công việc khó khăn và lo lắng đó, nhưng họ vẫn chưa thể giải quyết được vấn đề hôn nhân cho Thuận Xương. Vì không đủ tiền làm lễ đính hôn, cô gái đã đi lấy chồng khác... Nghĩ đến đây, Ngô Hòa Đông co chiếc chân què lại và tiếp tục cắt. những bông lúa rơi từng chùm xuống ...
Mặt trời đã xế chiều, loa phóng thanh lại bắt đầu vang lên. - Năm nay chúng ta thu hoạch tốt hơn năm ngoái. Càng tham gia vào hợp tác xã, chúng ta càng có lợi - Tất cả đều được công bố rất long trọng và vang dội bằng tiếng địa phương với giọng Thiểm Tây đặc sệt - Những phần thưởng được trao cho các gia chủ nổi tiếng, họ Vương, họ Triệu, họ Trương. Nhưng họ không ngủ quên trên chiến thắng, nhiệt huyết của họ còn lớn hơn trước, cố gắng phấn đấu hơn nữa ...
Trương Căn Phát đứng dưới bóng cây, lắng nghe chương trình phát thanh. Vừa nhìn cánh đồng lúa mì, anh ta nở một nụ cười. - Này các bác, tới gốc cây nghỉ ngơi một chút. Giờ chúng ta ăn trưa thôi.
Vợ của Trương lại mang ra chiếc giỏ gai. Bà đặt bát mì hấp và bắp cải xuống đất rồi cắm thìa vào bát súp. - Ăn đi. Tôi xin lỗi vì bữa ăn đơn giản, nhưng hy vọng nó sẽ làm các bác no bụng. Những người thợ gặt lúa ngồi xúm lại chung quanh bắt đầu ngấu nghiến.
Người chủ đi đâu đó, gã đàn ông râu ria thấy vậy liền nhét gói mì vào dưới áo. Tuy nhiên, gã đàn ông trung niên lại huých khuỷu tay vào gã, rồi ra hiệu bằng mắt về phía gốc cây, rồi đặt gói mì trở lại giỏ.
Ngô Hòa Đông nhìn sang cây gần đó, một ông lão khoảng bảy mươi tuổi hoặc hơn đang nằm dưới đất, đầu tựa vào rễ cây, trông chẳng khác gì một con bò kiệt sức. Ông ta đang lẩm bẩm điều gì bằng cái miệng già nua không còn răng. Mỗi cử động đều khiến cả khuôn mặt ông nhăn nheo, bộ râu lởm chởm dựng ngược lên.
- Ồ... Không sao đâu, lấy vài gói đi. Không sao đâu... Vừa nói, một nụ cười hiền hậu nở trên môi ông.
Những người thợ gặt thấy nhẹ nhõm, Ngô Hòa Đông cũng lấy một gói. Bỗng nhiên, ông nghĩ đến con trai Thuận Xương. Giờ này nó đang ở đâu và có ăn trưa như mình không?
*
Bữa trưa có "mì dầu". Thuận Xương ăn liền bốn bát, rồi thấy Thủy Hương cũng đang bưng bánh hấp vào.
- Ồ, đủ rồi. Tôi còn chưa làm việc gì. - Anh ta nói nhanh, có chút ngượng ngùng.
- Nhưng anh đi bộ cả buổi sáng rồi. Ăn đi.
Thuận Xương cầm một chiếc bánh hấp ăn ngấu nghiến.
- Tôi ra ngoài gặt đây, cô chủ. - Anh ta vừa nói vừa lau môi.
- Ồ, trời còn nóng lắm, anh sẽ bị luộc chín mất. Tốt hơn là nên đợi thêm một lát nữa.
- Không sao... tôi không sợ nóng.
Anh ta cầm liềm và sải bước ra khỏi sân, Thủy Hương nhìn theo bóng dáng khuất dần bằng đôi mắt đen sâu thẳm.
Tại sao sáng hôm đó ở Tiền Dương, cô ta lại chọn anh? Là vì thương hại hay chỉ vì anh trông thật thà, chăm chỉ? Đầu tiên nhìn thấy anh khi anh lang thang quanh cuối phố, đôi mắt to tròn nhìn xem có ai thuê anh không. Khi cửa hàng mở cửa, cô bước vào chỉ để nhìn xung quanh, và cô lại nhìn thấy anh. Anh cầm trên tay một đôi giày to cỡ 41 và nhấc chân lên, đo một lúc lâu trên đôi giày gai cũ không có gót của mình, lẩm bẩm - Năm tệ ... tệ ... mắc quá - Cuối cùng, anh đặt đôi giày trở lại quầy và không mua. Sau đó, khi cô thấy anh tuyệt vọng bám lấy chiếc xe vận tải nhỏ và cầu xin người đàn ông, không hiểu sao cô đột nhiên cảm thấy một nỗi đau dâng lên trong lòng. Phải, cô ấy thương hại anh ta, nhưng trong thời gian khó khăn này tại sao cô lại thương hại anh ta? Mặt Thủy Hương đột nhiên đỏ bừng. Cô nhận ra mình không chọn chiếc máy gặt mà là một thứ hoàn toàn khác, và cô tự rủa thầm - Ôi, mình đúng là thứ đàn bà không nên nết, chẳng biết xấu hổ gì cả, một người vợ trẻ với những ý tưởng đen tối như vậy!
- Thủy Hương!
Cô giật mình tỉnh lại và thấy mẹ đang đứng trên bậc thềm của căn phòng chính hướng Nam.
- Sao con đứng đó như bức tượng vậy? Đi chỉ đường cho cậu ấy chứ.
- Vâng, con... con đang kiếm cái liềm.
Liềm và mũ rơm của cô treo ngay trước mắt, cô lấy xuống và vội vã bước ra ngoài.
Thuận Xương không hề chậm chạp trong việc gặt lúa, hầu hết những người gặt lúa chỉ dùng tay, nhưng anh ta dùng cả chân. Trước khi những ngọn lúa rơi xuống, tay trái anh vòng ra và cuộn nó về phía sau, và khi tất cả đã được cuộn lại thành một bó lớn, anh nhặt nó lên bằng liềm và chân rồi ném sang một bên. Khi Thuận Xương nhìn xuống mảnh đất dưới chân đồi, anh ta giật mình - Trời ơi, sao cô chủ lại nhanh đến thế?
Thủy Hương biết mình là người gặt nhanh, và mặc dù mảnh ruộng của cô nhỏ hơn mảnh ruộng của Thuận Xương một chút, cô đã gặt xong mà không thấy mệt. Cô đứng dậy lấy khăn lau đôi má hồng và chiếc cổ thon thả, ánh mắt cô vô thức hướng về phía Thuận Xương.
Cô nhanh nhẹn nhảy qua bờ đất và quan sát anh ta từ phía sau khi anh ta làm việc với cánh đồng được cắt gọn gàng nằm sau. Gốc rạ ngắn, và tất cả các bó lúa mì đều cùng kích cỡ và các bông lúa mì đều được đặt sát vào nhau.
- Sao cô lại ra gặt vậy, cô chủ?
- Vì tôi thấy anh gặt chậm quá nên mới ra phụ một tay.
Thuận Xương sững người, vội vàng cắt vài nhát rồi khựng lại: - Nhưng khi làm xong thì tiền công ra sao? Cô làm thì sao tính được?
- Ồ, tôi biết cách rồi. - Thủy Hương đáp lại sắc bén, giọng như lưỡi liềm cắt ngang qua thân cây lúa.
- Nhưng...
- Được rồi. Giả sử tôi tính cho anh gặt hết cả ba mươi mẫu, liệu có đủ cho anh không?
- Nhưng không đúng. Vậy thì mỗi người một nửa nhé.
Thủy Hương cười thầm dưới chiếc mũ rơm, khuôn mặt đỏ bừng. Cô tiến lại gần anh hơn.
*
Ngôi làng Nam Xuyên chìm trong bóng tối u ám của buổi chiều, cây cổ thụ già nua, khẳng khiu với những rễ cây vươn dài. Những người gặt lúa đã ăn tối xong và đang ngồi dưới gốc cây cổ thụ trò chuyện, nhất là để cho bớt mệt. Ông già gù lưng phì phèo điếu thuốc, mỗi hơi thuốc lại như ngon hơn hơi trước.
- Tôi nhớ hôm đó chúng tôi đi bộ từ Bảo Kê đến Phượng Tường, trời đã tối, đôi chân già nua của tôi gần như muốn khuỵu xuống, rồi một chiếc xe dừng lại chở một vị khách trong thành phố. Trông ông ta có vẻ là một quan chức, bỗng ông ta hét lên - Này, vào đây. - Trời ơi, tôi tự hỏi, ông ta muốn bắt một người gặt lúa như tôi sao? Tôi chẳng chôm gì cả. Nhưng hóa ra ông ta muốn tôi gặt lúa giúp. Tôi lên xe, và nó phóng vun vút đến chỗ ông ta. Trời ơi, tôi có thể là một người gù lưng, nhưng may mắn như vậy mà không cần phải tranh giành với ai cả. Hề hề.
- Ha, ha - người đàn ông có râu vừa cười vừa nói. - Ở đâu cũng tốt hơn ở Trang Lãng nhiều. Anh đã thấy ở đây họ mặc quần và ăn uống chưa?
- Ừ, cứ nhìn ông chủ của chúng ta đây này. Với một ngôi nhà gạch mới khang trang như thế này, con cháu và chắt của ông ấy được sinh sống nơi tươi đẹp suốt đời.
Người đàn ông trung niên huých khuỷu tay vào người nói rồi lại ra hiệu về phía cái cây gần đó. Ông già đó vẫn nằm trên mặt đất. Những người thợ gặt không hiểu vị trí của ông trong nhà ông chủ, quần áo của ông chẳng khá hơn họ là bao, ông chẳng bao giờ được gọi vào ăn, và dù trời đã tối ông vẫn nằm dài dưới gốc cây. Ông nói nhiều, và khi nói thì chỉ nói một cách đơn giản và uể oải, hệt như cây cổ thụ, đứng im lìm trừ khi gió làm lá rung rinh và cành lá lay động.
- Ông là ai à? Tôi đoán ông ta chẳng gì trong nhà này - Người gù lưng nói, giọng hơi hạ xuống - Bốn người con trai trong gia đình này đều là cán bộ trong thị trấn, ông biết đấy...
- Vậy ra đó là lý do họ mướn bốn ông già chúng ta đến gặt lúa, phải không? - Người đàn ông râu quai nón nói, và những người khác cười.
- Này - Người gù lưng trở lại câu chuyện ban đầu - Sáng sớm tôi đến đó lấy nước mài lưỡi liềm, trong sân nhà họ có gì đủ tthứ: xe đẩy, xe cút kít, xe đạp, có đủ thứ. Mà anh có thấy cái đồng hồ ông chủ đeo không? Mới toanh, sáng bóng như vàng, chắc là hàng xịn nhất thế giới này.
- Tôi thấy mắt anh sáng lên khi nhắc đến cái đồng hồ đó. - Lão có râu nói. - Chắc là anh ước ao được sờ vào nó, phải không?
- Ha ha ha.
- Để tôi nói tiếp, tôi vừa định lấy nước ra thì một cô gái xinh xắn bước ra, thơm quá, mặt thì trắng ... Ôi, đáng lẽ anh phải thấy cô ấy chứ.
- À, anh nói toàn chuyện nhảm nhí.- Gã gù lưng cười. - Đó là vị hôn thê của người con trai của ông ta đấy. Họ sắp cưới rồi. Chắc phải tốn ba nghìn tệ cho đám cưới.
Hàm răng Ngô Hòa Đông nghiến chặt, tẩu thuốc rung lên và bắn ra những tia lửa vào chân, nhưng ông ta không cảm thấy gì.
- Này anh bạn, sao anh lại lo lắng nhiều thế? - Người gù lưng hỏi và xích lại gần. Đây là cách duy nhất những người gặt lúa thể hiện sự quan tâm lẫn nhau. - Tôi biết anh vẫn đang nghĩ về đứa con trai của anh, nhưng nó sẽ ổn thôi. Nó ít nhất cũng hai mươi sáu tuổi rồi. Anh không cần phải lo nó đói hay lạc đường. Chắc chắn nó đã tìm được việc làm tốt rồi. Hai người sẽ gặp lại nhau ở địa điểm tiếp theo thôi.
Dù họ có nói gì đi nữa, ai thực sự hiểu được nỗi khổ của ông? Nhưng Ngô Hòa Đông không phải là người giữ kín chuyện, được sự quan tâm của những người bạn đồng hành, ông bắt đầu nghẹn ngào kể lại câu chuyện của mình. Mẹ Thuận Xương quả là một người phụ nữ năng động và tràn đầy năng lượng. Bà làm việc ngày đêm để kiếm tiền sính lễ cho đứa trai, và khi trời tối, bà tiết kiệm dầu hỏa nên đã làm việc dưới ánh trăng. Tay bà nhiều lấn bị nứa cắt chẩy máu. Cái chân tật nguyền của ông ngày càng nhức nhối. - Tất cả những cố gắng để làm gì? - Ông nói với nguời vợ - Chúng ta làm việc cực khổ nhưng vẫn không đủ tiền cưới vợ cho nó, vậy thì lo gì chứ? - Vợ ông ngẩng đầu lên nói - Đúng vậy, dù không cưới được vợ cho nó, chúng ta cũng phải sống - Mấy năm trước đây, vì không kiếm đủ tiền, bà đã phải để đứa con trai cả là Thuận Sinh ở rể cho một gia đình ở bên kia núi nên rất ít khi gặp lại nó.
Tuy nhiên, càng chăm chỉ bà càng làm tổn thương lòng tự trọng của ông - Bà dành cả ngày để làm những tấm thảm tre và những cái rổ chết tiệt đó nhưng được gì? Không đủ cho hai bữa ăn - Tuy nhiên, sau khi chửi rủa và đánh đập bà, ông lại hối hận và khập khiễng đi đến một nơi vắng vẻ nào đó để khóc. - Đồ khốn nạn, cứ mỗi ba mươi năm dòng sông lại đổi dòng, có phải vậy không?
*
Năm thứ hai theo chế độ hợp tác xã, bất chấp mọi nỗ lực, mùa màng bị tàn phá bởi hạn hán. Mẹ Thuận Xương vô cùng hoảng hốt, không tiếc công sức, bà lấy khoảng một trăm cân lúa kiều mạch đã thu hoạch được gieo vụ thứ hai. Người dân ở Trang Lãng thường chỉ trồng một vụ mỗi năm. Gieo hạt kê hoặc kiều mạch vào giữa mùa hè chỉ tổ chuốc lấy tai họa. Nếu thực sự thu hoạch được thì cũng chẳng được bao nhiêu, còn nếu mất mùa thì mất hết hạt giống. Mười ngày sau khi gieo trời chẳng có lấy một giọt mưa. Ngô Hòa Đông nghĩ chắc không còn đường sống. Ông ta tức giận quay lại đánh bà lão một trận. - Ta đã bảo đừng gieo hạt mà bà không nghe, đồ chó già! Làm sao chúng ta có thể qua mùa đông này khi bà vứt bỏ một trăm cân đi? Nói đi. Ta sẽ lột da và ăn thịt bà, đó là điều ta phải làm. - Nhưng chỉ trong vòng một tháng, kiều mạch đã đâm chồi nảy lộc, đến cuối tháng Chín, những hạt nặng trĩu trên những bông hoa đỏ thắm. - Thôi nào, Thuận Xương. Về giúp mẹ con thu hoạch kiều mạch đi! - Bà vui vẻ chịu đựng, làm việc không ngừng nghỉ suốt ba ngày, nhổ tận gốc, bó lại, mang về phơi khô, rồi lại đập... Bà làm việc cho đến khi các hạt kiều mạch được chứa an toàn vào thùng đựng, rồi kiệt sức gục xuống giường.
Ngay từ nhỏ, Thuận Xương đã thấu hiểu nỗi vất vả của cha mẹ. Đến năm mười tuổi, cậu đã phải đi bộ hàng dặm lên núi hái thuốc, chặt tre, kiếm củi, rồi đưa số tiền ít ỏi kiếm được cho mẹ. Lần đầu tiên cậu mạo hiểm lên núi một mình, nhìn thấy những đỉnh núi cao chót vót giữa đám mây trời và khu rừng tối đen như mực, nơi âm thanh duy nhất chỉ còn là tiếng ho khàn khàn của chính mình, và nơi những con đường biến mất ngay trước mắt, cậu sợ đến nỗi tóc dựng đứng, chân mềm nhũn. Tuy nhiên, sau một thời gian, cậu đã tìm được đủ loại thảo dược như đại hoàng, kỷ tử và mộc lan.
Theo quy định của ban quản lý rừng, mỗi người phải trả nửa tệ để vào rừng, và thứ củi duy nhất được phép lấy là cành khô. Nếu chặt một cây thông thì bạn sẽ bị phạt hoặc thậm chí bị bỏ tù, Thuận Xương là một chàng trai lương thiện bẩm sinh, và ngay cả ở tuổi hai mươi sáu, anh vẫn không hiểu nghĩa của chữ trộm cắp. Ngày hôm đó, khi ở trên núi với cha, mỗi người bận rộn với việc riêng của mình là chặt tre. Khi chiều tới, họ xuống núi, cả hai đều mang một bó tre trên lưng. Ngô Hòa Đông thấy chàng trai này thở hổn hển, như thể anh ta đang làm việc nặng nhọc hơn bình thường - Có chuyện gì vậy? Con không khỏe à? - Ồ không ... Con không sao - Đặt bó tre lên cao hơn một chút, thư giãn lưng thêm một chút và cúi xuống. - Khi họ xuống đến lối vào núi, có một tiếng rắc đột ngột khi sợi dây giữ bó của Thuận Xương bị đứt và bó tre rơi tung tóe xuống con đường mòn. Những người kiểm lâm đến xem; Một người đá vào bó cỏ, và cùng với đó là vài cây thông nhỏ, to bằng cánh tay bật ra. Trong giây lát, Ngô Hòa Đông giật mình không nói nên lời. Bọn kiểm lâm túm lấy cổ Thuận Xương và bắt đầu đánh anh ta. Ngô Hòa Đông lao tới van xin. - Bình tĩnh nào, các anh. Nếu muốn đánh ai thì đánh tôi. Tôi là cha nó và xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Vừa nói Ngô Hòa Đông vừa nhặt mấy cây thông đặt sang một bên. Ông trừng mắt nhìn con trai với ánh mắt giận dữ rồi khập khiễng bước tới, tay nắm chặt một cành cây nhỏ.
- Ai dạy mày ăn cắp?
- Bố ơi, bố ơi...
- Nói cho tao biết - Ông giáng cho Thuận Xương một đòn đau điếng vào chân.
- Ái chà, bố ơi. - Thuận Xương gào thét ngã xuống đất, và trước khi mọi người kịp ngăn cản, bố cậu đã giáng thêm vài đòn nữa.
- Mày gây nên chuyện, lại còn làm mất mặt cha mày nữa. Tao là Ngô Hòa Đông, là một tên trộm à? Tao sẽ cho mày biết, đồ trộm cắp khốn kiếp! - Bố ơi... Con xin lỗi. Xin bố tha thứ cho con...
- Nói cho con biết tại sao.
Thuận Xương ngước đôi mắt đẫm lệ lên nhìn cha. - Là mẹ, mẹ khạc nhổ ra máu... Con nghĩ mẹ không dám nói cho bố biết. Con nghĩ là con có thể kiếm chút tiền để đưa mẹ đi khám bệnh.
Chiếc roi rơi khỏi tay Ngô Hòa Đông. Ông vội vã về nhà, ôm vợ vào lòng và khóc nức nở.
- Ôi, tôi đã nguyền rủa bà, làm bà đau khổ; còn tôi... tôi chẳng ra gì ... - Không sao cả … hai người thể sống chung với nhau sao không có va chạm. - Bà nức nở vùi mặt vào ngực ông - Tôi sợ rằng tôi không thể... Ông phải sắp xếp chuyện này, kiếm vợ cho nó nhé.
Ngô Hòa Đông ôm chặt bà, vuốt ve khuôn mặt bà bằng bàn tay to lớn, thô ráp, da thịt như vỏ cây.
- Đừng lo. Tôi sẽ kiếm tiền chữa bệnh cho bà, và bà sẽ chứng kiến đám cưới của nó. Cứ yên tâm, chúng ta đã có một khoảng thời gian tuyệt vời bên nhau. Cứ ba mươi năm dòng sông lại đổi dòng chẩy.
Ngô Hòa Đông òa khóc và không nói thêm được gì nữa.
*
Ngô Hòa Đông đập đập chiếc tẩu đã tắt từ lâu, nuốt lấy vị đắng ngắt của điếu thuốc. - Trời ơi, tôi không xứng làm cha. - Cơn gió chiều nhẹ thổi qua hàng cây già cỗi, lá cành dường như bắt đầu chuyển động.
Những người thợ gặt im lặng, họ cảm thấy mình nên nói gì đó nhưng không biết bắt đầu từ đâu. Ông lão dưới gốc cây nằm im lìm, dường như đang ngủ. Tuy nhiên không ai nhìn thấy đôi mắt ông vẫn đang nhìn chằm chằm vào màn đêm.
Họ dỡ đồ đạc xuống và chuẩn bị ngủ trên mặt đất thì Trương Căn Phát bước tới, nói lớn.
- Các ông ăn không ngon sao? Tôi xin lỗi vì bữa ăn quá tệ.
- Không, rất ngon.
- Bây giờ chúng ta đi tìm chỗ ngủ nhé.
Trước sự kinh ngạc của những người thợ, Trương Căn Phát đi về phía ngôi làng. Chắc là ông chủ sẽ cho họ ngủ trong nhà nông trại chứ? Trên giường đất trải chiếu rơm. Khi ra ngoài gặt lúa thuê mà được ngủ trên đó thì sướng như lên thiên đàng. Họ vội vã thu dọn đồ đạc và đi theo ông. Tuy nhiên, khi đến cổng làng, ông chủ đi thẳng qua và dẫn họ đến sân đập lúa phía xa.
- Đừng giận nhé các ông, trong nhà không có nhiều chỗ. Có một ít rơm trong nhà kho và có một chòi gác ở đằng kia với một chiếc giưởng nhỏ, đủ chỗ cho hai người; không có chiếu, nhưng có thể trải rơm lên đó.
Ông chủ đi rồi, những người thợ gặt nằm xuống và từ từ ngủ thiếp đi. Ngô Hòa Đông nằm dưới chân một đống rơm, chiếc áo khoác cũ vá chằng vá đụp trải dài trên người. Chiếc chân bắt đầu đau nhức. Ông kéo áo khoác xuống thấp hơn.
Đêm tĩnh lặng. Ông mở to mắt nhìn lên bầu trời đầy sao, suy nghĩ mung lung... - Ngôi sao kia là mình, ngôi sao sáng kia là vợ mình, và ngôi sao phía xa kia là của Thuận Xương.- ./.
- Vào nhà nghỉ đi. Sao con chẳng bao giờ thấy mệt vậy?
Thủy Hương buông chiếc chĩa ba, rồi dọn dẹp đồ đạc trong sân.
Khói từ bếp cuộn lên, những vì sao bắt đầu lấp lánh trên bầu trời. Ăn xong, Thuận Xương mài từng lưỡi liềm rồi trải gói đồ ra chân tường sân. Anh định nằm xuống thì bà già nói vọng tới.
- Này cậu kia. Ta đã dọn chỗ trong lán rơm rồi. Lại đó mà ngủ đi.
- Mẹ - Với giọng điệu trách móc lẫn nũng nịu.
- Gì đó con?
Thủy Hương đã đẩy cửa phòng phía tây sân.
- Vào đây ngủ trong phòng này đi, ngốc.
Anh ta im lặng một lúc, rồi nói – Không … không … tôi không thể. Tôi ngủ ở đâu cũng được.
Bà già cũng không nói nên lời, nhưng khi nhìn thấy vẻ mặt thật thà của Thuận Xương, bà nói: - Phải, đúng vậy. Nhà còn nhiều chỗ trống mà. Đi nào - Bà nắm lấy cánh tay Thuận Xương, da đang bị bong tróc vì cháy nắng, và dẫn anh sang căn phòng phụ.
Căn phòng gần như trống trơn, chỉ có một tấm thảm và một tấm chăn trải trên giường, một cái bàn trên đó là chiếc đồng hồ báo thức kêu tích tắc.- Đây là phòng của đứa con trai. Nó đi tới nhà họ hàng chơi, khi nào lúa gặt xong mới về.
Thuận Xương nhìn bà lão với vẻ biết ơn, bồn chồn ngồi trên mép giường, đưa bàn tay thô ráp lướt trên mép gỗ bóng loáng. - Bà ơi...
- Này, đừng gọi ta là bà. Trông bà có vẻ già nhưng ta chỉ mới ngoài năm mươi thôi. Chỉ vì đã trải qua những ngày tháng khó khăn. Cuộc sống chỉ bắt đầu khá hơn khi bà có Thủy Hương, mà lúc đó ta đã ngoài ba mươi.
- Nhưng tại sao con trai bà không làm gì?
- ... Ờ, nó không đủ sức. Đó là lý do tại sao. Giống hệt cha nó vậy - Bà đáp với giọng chua chát. Tay run rẩy, bà quẹt diêm và lặng lẽ thắp đèn dầu.
- Tất cả con trai của ta đều bị tật. Hai đứa đã không sống được, và chỉ... thằng kia còn sống. Giá mà hắn chết thì tốt biết mấy. Nếu không có Thủy Hương thì ta đã chết từ lâu cùng với lão chồng quỷ sứ rồi.
Thuận Xương là một chàng trai mềm lòng, nước mắt đã chẩy ra, tuy vậy đèn lại mờ bà không thể nhìn thấy.
- Con mệt vì buổi gặt đấy. Con nên ngủ một chút. Giờ ta đi đây.
Bà định ra khỏi cửa thì quay lại - Ồ, chăn ở đằng kia kìa. Con có thể đắp chăn lên người. - Không hiểu sao bà ta vẫn không rời khỏi phòng. Cuối cùng, bà tới gần chiếc bàn rồi đưa tay ra cầm lấy chiếc đồng hồ báo thức. Bà mỉm cười ngượng nghịu, ánh đèn mờ chiếu sáng khuôn mặt già nua, xám xịt và rời khỏi phòng.
Thuận Xương hiểu là bà ấy lấy chiếc đồng hồ vì không tin tưởng vào mình nhưng không cảm thấy oán giận. Anh thấy hơi xấu hổ vì đã đưa bà lão vào tình thế khó xử. Anh đã học được rất nhiều điều qua những lần đi gặt thuê, và biết mình được đối xử rất tốt khi được mời ở chung nhà với chủ nhà.Trong lúc anh đang nghĩ ngợi về những gì đã xảy ra, cánh cửa kẽo kẹt mở ra và Thủy Hương bước vào, một tay cầm bình giữ nhiệt và hai chiếc ly sứ đẹp.
- Nếu khát thì cứ uống nhé. Tôi để chúng ở đây.
Rồi cô lấy chiếc đồng hồ báo thức từ trong túi ra và đặt lại vào vị trí cũ trên bàn. Thấy vậy, Thuận Xương không khỏi đỏ mặt khi nghĩ đến việc ăn cắp. Thủy Hương nhận ra và nhanh chóng giải thích:
- Mẹ tôi không biết cách lên dây cót. Bà ấy phải bắt tôi làm.
Thuận Xương biết cô nói dối, nhưng dù vậy nét mặt anh vẫn rạng rỡ tỏ lòng biết ơn. Thợ gặt được ăn cơm ở nhà hàng trăm người, họ biết ai đối xử tốt với mình. Nhưng dù được chăm sóc chu đáo đến đâu, đây cũng là lần đầu tiên có người ngưỡng mộ, tin tưởng và cũng là lần đầu tiên anh biết được cảm giác được đối xử như vậy. Điều này đánh thức trong anh lòng tự trọng tiềm ẩn; anh tận hưởng cảm giác đó một cách trân trọng và cũng có chút cay đắng. Anh có cảm giác như có một vết dao đâm vào tim, nhưng đồng thời cũng có bàn tay ai đó đang vuốt ve vết thương và xoa dịu nó. Anh ngước mắt nhìn thẳng vào Thủy Hương, dường như chỉ khi đó anh mới khám phá ra khuôn mặt cô đẹp đến nhường nào, dịu dàng đến nhường nào, nhân hậu đến nhường nào, đặc biệt là đôi mắt, như hai hồ nước, sâu hun hút không thấy đáy ...
Thủy Hương e thẹn cụp mí mắt xuống, nhìn xuống ngọn đèn dầu, bấc đèn đang rung rinh những tia lửa nhảy múa.
- Uống nước nhé? - Cô hỏi, tay cầm bình giữ nhiệt.
- Ừ … không … cảm ơn cô chủ.
- Đã bảo anh đừng gọi tôi là cô chủ mà, không thể gọi khác được sao?
- Nhưng...
- Mẹ tôi đặt tên tôi là Thủy Hương, nước thơm. Bà nói nước ngọt từ khi có tôi.
Cô ta rót một tách nước, im lặng một lúc rồi đột nhiên buột miệng.
- Này, anh đã hai mươi sáu tuổi rồi mà sao vẫn chưa kiếm được vợ?
- Sao cô lại hỏi thế? - Tim bấc cháy xèo xèo hơn nữa. Thủy Hương lấy một chiếc kẹp tóc trên tóc ra chọc vào ngọn lửa.
- Tại sao không hỏi được.
- Hừm... Cuộc sống ở Trang Lãng không dễ dàng gì, cô biết mà. Cha mẹ tôi vẫn chưa kiếm được đủ tiền.
Im lặng lại bao trùm căn phòng.
- Hay là … tôi cho anh vay cho đủ số tiền lấy vợ nhé.
- Nhưng mà làm sao trả cô được? À, cô đang trêu tôi phải không?
- Không … Mỗi năm anh sang đây... gặt lúa trả nợ. Được không?- Đèn bỗng sáng hơn, soi rõ khuôn mặt hồng hào của Thủy Hương và in bóng dáng thon thả của cô lên tường - Giờ thì đi ngủ thôi. Ngày mai chúng ta sẽ ra đồng sớm hơn một chút.
Thủy Hương vội vã trở về phòng mình ở phía đông.
*
Mình kiếm được bao nhiêu nếu cứ đi gặt lúa thuê năm này qua năm khác? Vậy thì... Không, không thể bắt nó đợi thêm nữa, muộn nhất là đến Tết Nguyên Đán nó phải lấy vợ. Nếu không kiếm đủ tiền, mình sẽ tháo dỡ nhà, bán cửa ra vào, cửa sổ và xà nhà, để lại bốn bức tường, thế là có được khoảng một trăm tệ. Vài ngày nữa về và gặt lúa rồi gieo một ít kiều mạch giống như vợ mình đã làm. Mình sẽ sống qua mùa đông bằng kiều mạch và bán hết lúa để kiếm thêm một trăm tệ nữa. Nếu kiếm được bảy tám trăm, xem cô gái nhà họ Tống có chịu lấy nó không. Nếu không thì phải lấy con gái anh chàng gù lưng. Anh ta nói anh ấy sẵn sàng lấy ít hơn.
- Này, tỉnh lại đi, anh sui! Đừng cố quá làm hỏng đôi chân già nua của anh đấy! - Lão gù lưng hét lên đùa cợt từ ruộng lúa bên cạnh, lão đang duỗi đôi chân cứng vì mỏi.
Ngô Hòa Đông cắt thêm vài nhát nữa rồi ngồi xuống nghỉ ngơi. Lão tháo chiếc mũ rơm ra, chớp chớp mắt bị mồ hôi đổ vào. Không biết con bé nhà lão có gù lưng giống cha nó không ...
- Này ông chủ, ông đeo cái đồng hồ này mà gặt lúa, có bị sạn đất có chui vào không? - Người đàn ông trung niên ngồi cạnh Trương Căn Phát hỏi trong khi thay lưỡi liềm khác.
- Ha ha. Cái đồng hồ này á? Nó chống nước và chống sốc đấy. Ông nghĩ nó không thể ngăn được chút sạn đất sao? Thép ròng đấy. Đất cát không thể lọt vào được.
Ngô Hòa Đông quay lại thấy hắn cười đắc ý mà khẽ thở dài. Giá mà có đồng hồ này thì không phải phá nhà. Trời đang giữa trưa, nắng gắt như thiêu như đốt. Nhưng lưỡi liềm sẽ ít mòn hơn khi cọng lúa khô, và nó cắt nhanh hơn. Nắng gắt thì đã sao chứ?
Ông chủ lấy khăn lau mồ hôi ra lau mặt. Hắn nhét chiếc khăn vào dưới chiếc dây đồng hồ, chiếc dây đeo đồng hồ đứt phựt ra dưới sức ép mà hắn không biết.
- Bà kia, mang trà cho chúng tôi.
Người đàn ông trung niên quay đầu, tiếp tục cắt lúa hỏi Trương Căn Phát. - Ông chủ này, hai ngày nay ông không cho người mang trà ra. Sao giờ ông mới nghĩ ra vậy? Ha ha, nói đùa thôi. Đừng hiểu lầm.
- Không, cứ tiếp tục gặt đi. Bây giờ lúa vàng úa rồi.
Vừa nói hắn vừa cởi áo, cuộn chặt lại rồi thả xuống đất cạnh chân trước khi tiếp tục tiến lên. Phần lớn lúa đã bị cắt trụi, trông như bãi biển lúc thủy triều xuống. Ánh nắng chói chan vẫn tiếp tục chiếu xuống. Tuy nhiên, Ngô Hòa Đông không hiểu sao lại cảm thấy lạnh sống lưng.
Mồ hôi nhễ nhại, ông ta vung liềm chém loạn xạ, chẳng quan tâm đến việc nó có cắt vào chân, hay thậm chí đâm vào người, hay vào tim. Ông chạy vội đến mép cánh đồng, vừa đi vừa buộc những thân lúa thành từng bó. Quay lưng về phía mặt trời, ông vẫn thấy lạnh buốt. Đôi mắt già nua lấm lem bùn đất chớp chớp, không biết là mồ hôi hay nước mắt.
Khi ông cố sức kéo căng, sợi dây rơm đứt phựt. Ông lại túm lấy bó lúa buộc lại. Tay ông run rẩy không thể kiểm soát. Có chuyện gì vậy? Mình làm sao vậy. Sao mình lại tệ đến thế, như thể mình sắp tự tử vậy? Nếu thực sự muốn chết, đồ quỷ già, thì hãy đi đâu đó nằm xuống mà chết đi! Cái gì đang cản trở ông? Chỉ cần đừng làm nhục mình ở đây là được. Nhưng ông vẫn không thể ngăn đôi mắt đỏ ngầu nhìn xuống chỗ chiếc áo sơ mi cuộn tròn của ông chủ đang nằm trên mặt đất.
*
Cánh đồng lúa của Thủy Hương giờ đã được gắt hết. Ruộng lúa cuối cùng trong thung lũng nằm im lìm, ngủ yên như con tằm mệt mỏi sau khi nhả hết tơ. Cánh đồng đầy những bó lúa chất thành đống gọn gàng, cùng với một ít lúa rải rác chưa kịp bó lại. Mỗi bên đặt hai chiếc liềm, sát vào nhau, lưỡi liềm nóng đến mức bỏng tay.
- Này anh, uống đi.
Không rõ từ khi nào cô gọi Thuận Xương thân mật như vậy. Cô bước đến mép ruộng, uống một ngụm trà lạnh, rồi mang bình trà đến cho anh. Những tia nắng cuối cùng chiếu xuống qua đám cây xanh rậm rạp trên đỉnh thung lũng, Thủy Hương tắm trong ánh vàng kim, làm nổi bật đường cong tròn trịa của chiếc eo và đôi mông duyên dáng. Nước trà chảy ra từ bình, như tiếng chim gù gù trong thung lũng. - Nào, uống đi.
Thuận Xương bước ra khỏi đám bó lúa mì, cầm lấy bát và tu một hơi hết sạch.
- Muốn uống thêm không? Tự rót đi. Tôi không hầu hạ anh đâu.
- Ha ha, chị ơi - Thuận Xương cười ngây ngô.
Thủy Hương đẩy lọn tóc ra sau tai.
- Anh đúng là nói năng ngớ ngẩn. Tôi nhỏ hơn anh vài tuổi. Sao anh không thể gọi tôi là "em" hay gì đó cho tử tế hơn?
- Nhưng mà...
- Nhưng mà sao? Anh không muốn à?
Cô ta ngẩng cao cái cổ thon dài, nghiêng đầu nhìn Thuận Xương.
Thuận Xương đột nhiên cảm thấy một luồng nhiệt chạy dọc sống lưng, ngực thở hổn hển, không nhịn được thốt lên - Chị... em.
Cô ta mỉm cười ngọt ngào.
- Cuối cùng thì anh cũng nói đúng rồi.
Cánh đồng gặt xong thơm phức mùi đất và mùi thơm nồng nàn của rơm. Thủy Hương nằm dài trên đống rơm chưa được bó và duỗi người ra. Chiếc quần đen của cô căng cứng bởi đường cong quyến rũ của đôi chân đang run rẩy nhẹ. Bộ ngực đầy đặn, săn chắc của cô phập phồng trong chiếc áo bó sát đẫm mồ hôi. Nhìn cô, Thuận Xương cảm thấy tim mình nhói lên, đối với anh, đây là một thế giới mới mẻ đầy bí ẩn. Thủy Hương tựa vào khuỷu tay, quay mặt về phía anh.
- Tôi cũng là người Trang Lãng, anh biết không? Anh không tin tôi à?
- Ha ha, tất nhiên là không. Giọng nói của cô nghe không giống người Trang Lãng chúng tôi chút nào.
- Lâm Du này nổi tiếng với những đàn ông tàn tật, nhưng giọng nói ở đây hay hơn nhiều so với Trang Lãng của anh, phải không?
- Đúng rồi, ở chỗ tôi người ta nói giọng đặc quánh đến nỗi làm thủng màng nhĩ.
Thủy Hương cười phá lên, tự do thoải mái như tiếng suối róc rách dưới đáy thung lũng.
- Lâm Du, anh thấy ở đây tốt chứ?
- Ồ, ở đây đẹp quá, tuyệt vời thật.
- Anh ... anh có muốn đến sống ở đây không?
- ...
Thủy Hương quay đi. Cô nhìn ra cánh đồng vừa được cắt xong như thể đang hối hận vì lúa đã gặt quá nhanh.
- Đừng đi vội, anh. Hay là ở lại giúp em đập lúa nhé.
Thuận Xương ngơ ngác một lúc, như thể anh vừa đánh mất thứ gì đó nhưng không nhớ rõ là gì. Anh bước về phía cô, không thể kiềm chế được. Làm sao anh có thể không yêu cô? Trong suốt hai mươi sáu năm cuộc đời, chưa có cô gái nào thân thiện với anh đến thế, chưa có ai từng nhìn một kẻ nghèo kiết xác như anh đến hai lần, anh cũng chưa nắm tay một cô gái nào, vậy mà giờ đây, cô gái trẻ xinh đẹp, tốt bụng, dịu dàng này lại đang thân mật như vậy. Làm sao không thể rung động trước cô gái đáng yêu như cô. Làm sao không thể gọi cô là em? Nhưng dù sao anh vẫn thấy nên coi cô như người là em gái thì tôt hơn.
- Không, anh phải đi. Anh đã nói với bố là sẽ gặp lại nhau ở điểm gặt kế rồi.
Như có rất nhiều điều muốn nói nhưng không thể nói ra, Thủy Hương nhìn Thuận Xương bằng đôi mắt đen láy, trong veo. Bỗng nhiên, cô thấy một luồng thương cảm trào dâng trong lòng.
- Anh ...
- Em ...
Cô từ từ đưa bàn tay đang run rẩy ra, và Thuận Xương nắm lấy, trái tim đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Cô nhẹ nhàng kéo anh về phía đống lúa.
Hít một hơi thật sâu, anh từ từ hạ mình xuống, mùi thơm nồng nàn của rơm và đất hòa quyện cùng mùi mồ hôi cơ thể. Phía dưới tiếng rơm lách tách, anh có thể nghe thấy tiếng thì thầm khe khẽ: - Tối nay, anh... đến phòng ở cánh đông nhé ...
*
Tối hôm đó, Ngô Hoà Đông vẫn nằm dưới chân đống lúa như trước, ngước nhìn lên bầu trời đầy sao. Sao nhiều quá, lại dày đặc như vậy, làm sao có thể tìm được ngôi sao sáng ấy? Còn vợ ông bây giờ ra sao rồi? Bà sẽ không cần phải làm việc ngày đêm nữa. Cứ nghỉ ngơi đi. Chẳng bao lâu nữa tôi sẽ về, và đến mùa xuân tới tôi sẽ lo liệu mọi thứ cho nó. Bà đừng lo, sẽ thấy.
Ông lăn qua, dùng bàn tay to lớn vuốt phẳng chiếc túi lương thực. Nó gồ ghề, dù sao thì cũng chỉ là ít bánh cũ, khô khốc, làm sao có thể gối đầu thoải mái được? Ông xoa đầu rồi nằm xuống. Một lúc sau, ông thấy bụng đói, lại lăn qua và mở túi ra. Nó rất to và dường như không đáy, có thể đựng được vài trăm cân. Ban đầu nó được làm bằng vải trắng trơn nhưng giờ đen thui và bẩn thỉu như một miếng giẻ lau máy cũ.
Bỗng nhiên, ông nghe thấy tiếng ai đó ho, chiếc túi trong tay bất giác run lên. Ông ngẩng đầu lên thấy ông lão dưới gốc cây đang đứng trước mặt. Ông ta cầm một cái chĩa ba úp ngược làm gậy chống.
- Ông chưa ngủ à? - Ngô Hòa Đông hỏi.
- Ồ không, chưa đâu. Tôi đang trông coi sân trại. Nếu hút thuốc thì cẩn thận kẻo gây cháy đấy. - Vừa nói, mắt ông vừa nhìn lại túi lương thực của Ngô Hòa Đông. Ông nghĩ mình thấy có gì đó lấp lánh trong đó. Nhưng giờ nó đã biến mất, đôi mắt già nua của ông thực sự không còn tinh tường gì nữa, chúng lẫn lộn trời đất và chỉ thấy sao trên mặt đất.
Tay run rẩy, Ngô Hòa Đông vội vàng giải thích. - Tôi thấy hơi đói, ông biết không. Tôi nghĩ... tôi nghĩ mình cần ăn một chút.
- À, ăn đi. Muốn khỏe mạnh thì đừng để bụng đói. Tôi đi lấy nước cho anh nhé.
Ông lão lại mỉm cười với sự ấm áp và lòng trắc ẩn chân thành, khuôn mặt nhăn nheo và bộ râu lởm chởm dựng đứng.
*
Cánh cửa căn phòng phía đông khép hờ và khung cửa sổ tĩnh lặng ngập tràn ánh sao. Thủy Hương không ngủ, nàng ngồi đờ đẫn bên mép giường, nghĩ đến việc thắp đèn lên nhưng lại thôi. Căn phòng tối om, chỉ có ánh sáng ngôi mặt trăng trên cao chiếu qua khung cửa hình vuông xuống rèm cửa. Có vẻ anh ta không đến. Nàng lại nhấc chăn lên và nhìn sang căn phòng chái tây.
Thuận Xương nằm trên giường, không sao ngủ được. Trước mắt anh là hình ảnh một người đàn ông: một người đàn ông què một chân, cái đầu to quá khổ so với thân hình, và không thể đếm đến con số mười. Dù sao anh ta vẫn là một người đàn ông, một người đàn ông với thân thể tàn tật và trái tim què quặt. Làm sao Thuận Xương có thể nhẫn tâm làm xấu hổ anh ta được? - Anh ... – Có tiếng thì hầm khe khẽ, gần như không nghe thấy. - Anh nắm chặt tay cô, ngửi thấy mùi hương nồng nàn say đắm của rơm, của đất, mồ hôi, của cơ thể người đàn bà... Ánh trăng chiếu vào, soi sáng hai bàn tay run rẩy. Ồ, chuyện gì thế này? Chuyện gì đang xảy ra vậy? Cánh cửa đóng chặt. Không còn nhận ra mình đang làm gì, Thuận Xương bước qua và đẩy thân hình lực lưỡng của mình vào cửa. Hình ảnh khuôn mặt bà già hiện lên trước mắt anh như trách móc.
Hôm đó khi từ cánh đồng trở về, bà già đã nấu bốn món ăn kèm theo chai rượu. - Mai cậu phải đi sớm, ăn cho no đi... Thuận Xương như không thể cầm đũa hay đưa thức ăn lên miệng. Anh cảm thấy tội lỗi vì đã nắm tay Thủy Hương, và cũng xấu hổ đến nỗi không mở miệng ra nói tiếng cám ơn lòng tốt của bà nữa. - Thôi nào, ăn đi. - Nhưng còn cô chủ đâu ạ? - Nó nói đến hợp tác xã mua dầu hỏa. Nó quay lại thôi, còn cậu thì hãy ăn đi. – Anh ta thầm nghĩ: - Ừm, dù sao thì cũng chỉ là nắm tay thôi, mà mình khó có thể từ chối được.
Anh bắt đầu ngấu nghiến. “Bữa Tiệc Đêm Giao Thừa", mà dường như với anh, ngay cả vào dịp Tết, người dân ở Trang Lãng cũng không có những món ăn ngon như thế này. Bà già cầm một xấp tiền, đếm lại rồi cuối rồi đặt lên bàn. - Đây. Chúng tôi trả công cậu hai mươi mẫu, ba tệ một mẫu. - Cái gì? Sao bà trả nhiều ... - Đừng bướng bỉnh nữa. Cậu biết là không thể cãi lại Thủy Hương mà. Thôi nào ăn đi. - Thuận Xương quay lại giường, ngẫm nghĩ lại tất cả những chuyện đã xảy ra. - Em phải hiểu tại sao anh không thể, em ạ. Nhưng anh sẽ... Anh sẽ không bao giờ quên em, không bao giờ. Em sẽ luôn ở trong tim anh.
*
Rèm cửa nhẹ nhàng trượt khỏi tay. Cô quay đi, nhìn chằm chằm vào chiếc bàn bóng loáng, tách trà nguội ngắt, và tấm chăn được cuộn cẩn thận trên giường, tất cả đều được chuẩn bị sẵn cho anh... Cô nhớ lại những gì đã nói với anh - Em cũng là người Trang Lãng, anh biết đấy - Và những kỷ ức thủa nhỏ ùa về...
Thực sự cô đến từ Trang Lãng. Mẹ cô mất ngay sau khi sinh ra cô. Chuyện đó xảy ra vào năm 1958. Sau đó là nạn đói lớn xảy ra, người cha không thể nuôi cô được và đã bị đổi lấy một ít lúa. Thủy Hương không bao giờ biết được mẹ ruột của mình là ai. Nếu có hỏi mẹ mới, bà sẽ giải thích trong nước mắt - Nhưng ta là mẹ của con, con ạ, mẹ ruột của con như bất kỳ người mẹ nào trên cõi đời này; Con không nên nghe lời đồn đại của mọi người. Con hỏi những câu hỏi như vậy để làm gì? Mẹ đã cho con bú, quấn tã cho con, giữ cho con sống qua những năm 1959 và 1960 lúc đó cả nước chìm đắm trong nạn đói khủng khiếp.
Dù là người mẹ ruột cũng không thể làm được nhiều hơn thế. Một góa phụ có con phải nuôi nấng thì lại gặp nhiều thử thách nhiều hơn. Người ta nói là bà ấy đã phải tự mình vật lộn qua bao nhiêu ngày tháng khổ sở. Thủy Hương nhớ lại khi cô mới bắt đầu biết nói đã hỏi bà - Mẹ bao nhiêu tuổi rồi? - Mẹ ba mươi ba. – Còn con bao nhiêu tuổi? - Con ba tuổi ròi, con ạ - Khi nào thì con mới có thể bắt đầu làm việc giúp mẹ được? - Sao con lại hỏi như vậy? - Thủy Hương không trả lời, chỉ nhìn người anh trai tàn tật, đôi mắt âm u ngấn lệ. Mẹ cô hiểu ngay - Ôi con gái của mẹ... - Rồi bà ôm chặt cô, nước mắt lăn dài trên má.
Ban đầu, bà định mua đứa trẻ làm "cô dâu nhỏ" cho đứa con trai tàn tật của mình. Nhưng sau đó, khi thấy đứa trẻ lớn lên, bà không nỡ tiếp tục kế hoạch, mà chấp nhận nó, bằng cả trái tim lẫn tâm hồn, coi cô như con ruột của mình. Nhưng rồi, khi chứng kiến Thủy Hương trưởng thành từng ngày, bà nhận ra mình sẽ sớm phải rời xa nó vì nó sẽ kết hôn với một người nào đó, và tất cả những gì bà đã xây dựng sẽ tan thành mây khói, mọi triển vọng về một cuộc sống tử tế, hạnh phúc sẽ tan như bọt bể. Bà không còn lựa chọn nào khác. Phải lấy hết can đảm nói với Thủy Hương - Con ơi, con sẽ phải lấy anh con - Cái gì! Lấy anh ấy! Mẹ ơi, con là con gái của mẹ, con của mẹ, mẹ ơi... - Cô bé bắt đầu khóc, bà mẹ cũng vậy, nhưng Thủy Hương không nhận ra nước mắt của mình. Cô chỉ thấy mắt mẹ ướt đẫm. - Mẹ đừng khóc, mẹ đừng khóc. Con sẽ làm bất cứ điều gì mẹ muốn, con sẽ ...
... Nàng ngơ ngác nhìn bóng lưới mắt cáo cửa sổ in trên tấm rèm, như thể đang đếm ngược từng ngày tháng hôn nhân, từ năm mười bốn tuổi cho đến tận hôm nay. Nàng chưa từng yêu, và bây giờ không biết tại sao mình lại yêu chàng. Nàng nhớ lại lần ấy mình đã tự nguyền rủa bản thân và nghĩ mình thật xấu xa, và giờ đây nàng vẫn cảm thấy như vậy. Ta là một người đàn bà hư hỏng, một người đàn bà độc ác! Anh đã đúng khi không đến, anh ạ, đúng là như vậy, không nên đến
Nàng ngã vật xuống giường. Một cơn gió mạnh thổi tung những họa tiết lưới mắt cáo in trên rèm.
*
Sáng hôm sau, khi trời vừa hửng sáng Thuận Xương trèo xuống giường. Không một tiếng động, chàng dọn dẹp phòng, lau sạch bàn và đặt chiếc đồng hồ báo thức, bình giữ nhiệt, tách trà và chiếc đèn ngủ trở lại đúng vị trí cũ.
Khi rời khỏi phòng, anh nghĩ đến việc đợi mọi người dậy rồi chào tạm biệt, nhưng nếu gặp lại Thủy Hương thì biết nói gì với cô ấy đây? Anh liếc nhìn căn phòng ở phía đông lần cuối rồi nhặt túi đồ nghề và bước ra khỏi cổng.
Anh đi ngang qua những cánh đồng mà hai người đã cùng nhau gặt, đây là con đường họ đã cùng nhau đi qua. Khi bước đi, dường như nghe tiếng cô gọi. Anh không không dừng chân mà ngoái nhìn lại. Ngôi nhà của họ đã khuất khỏi tầm mắt. Chỉ còn lại một thung lũng núi hoang vắng và tiếng chim hót lúc bình minh.
- Anh ơi... - Giọng nói ấy như vang lên trong tâm trí anh.
Anh quay lại và kinh ngạc. Trước mặt anh trên con đường mòn hẹp, Thủy Hương đứng đó, quay lưng về phía mặt trời nên chỉ là một bóng đen in trên nền trời xanh.
Anh vội vã tiến lên vài bước rồi lại dừng lại. Giờ anh có thể nhìn rõ khuôn mặt, nhợt nhạt như tờ giấy trắng. Cô mặc một chiếc áo khoác ngắn màu đen, cài khuy bên hông, trông giản dị và nghiêm nghị.
- Em đến tiễn anh - Cô nói rồi đứng im lặng, một lát sau cô nhấc chiếc túi vải đeo bên khuỷu tay lên và mở ra cho Thuận Thường xem. Trong túi có vài ổ bánh mì cùng một đôi giày đế cao su mới, cỡ 41.
- Bánh mì để ăn khi đói, giày để đi đường.
Khi cô đưa túi ra, tay cô bắt đầu run rẩy.
- Cầm lấy đi anh.
Hai dòng nước mắt lặng lẽ rơi trên má Thuận Xương. Chiếc mũ rơm, túi hành trang gồm chiếc liềm, lương thực của anh từ từ tuột khỏi vai, và không thể kiềm chế được nữa, anh lao tới ôm chặt cô, hôn liên tục lên đôi môi nhợt nhạt, trắng bệch của cô. Dòng nước mắt cô cố kìm nén cuối cùng cũng trào ra từ giữa hai mí mắt đang nhắm nghiền của nàng. Vài phút sau, anh buông cô ra rồi thu dọn hành lý mang lên vai.
- Anh .. còn cái này nữa. – Nói xong cô lấy từ trong túi ra một bọc giấy gói cẩn thận. – Như đã nói với anh … nhớ là mỗi năm tới đây gặt lúa trả nợ nhé.
*
Ngô Hòa Đông đờ đẫn chờ trời sáng, rồi vác hành lý trên vai cùng đồng nghiệp rời khỏi làng. Họ ra khỏi cổng và sắp ra đến con đường cái thì đột nhiên nghe thấy tiếng bước chân vội vã phía sau và ai đó hét lên: - Chắc là hắn trộm mất cái đồng hồ của tôi rồi! - Ngô Hòa Đông giật mình bước nhanh hơn.
- Dừng lại.
Bốn người thợ gặt đồng loạt quay lại. Cả râu quai nón lẫn người đàn ông trung niên đều trừng mắt nhìn hắn phẫn nộ, trong khi lão gù lưng bước tới với nụ cười mệt mỏi trên môi. Tuy nhiên, Ngô Hòa Đông vẫn đứng chôn chân tại chỗ, vẻ mặt đờ đẫn. - Có chuyện gì vậy ông chủ? Giờ ông muốn gì nữa? Lão gù lưng cười hỏi.
Trương Căn Phát đẩy lão ra và bước về phía Ngô Hòa Đông.
- Này ông kia! Hôm qua lúc gặt, ông ở bên cạnh tôi, phải không?
Mặt mày Ngô Hòa Đông như tượng gỗ, nhưng ông ta từ từ hạ chiếc túi lương thực xuống khỏi vai. Đột nhiên, một giọng nói già nua vang lên.
- Đứng im.
Ngô Hòa Đông ngước lên nhìn lão già dưới gốc cây, nhưng giờ thì ngực lão đã dựng lên khi tập tễnh bước tới.
- Không phải ông ta lấy nó. Tối qua tôi đã lục kỹ rồi, không thấy đâu. Tốt hơn là anh nên thả ông ta ra - Ông lão quay sang Ngô Hòa Đông - Thôi đi đi, tất cả các người đi đi.
- Cha … cha đang làm gì vậy? - Trương Căn Phát gặng hỏi.
- Con sẽ lấy lại chiếc đồng hồ, đừng lo. Nó vẫn ở đây. Thực ra, chính cha mới là người lấy nó. - Ông lão nghiêm nghị trả lời.
- Vậy thì nó đâu rồi?
- Cha để nó lại trong chòi gác.
Giọng lão già càng lúc càng lớn, Trương Căn Phát đành nuốt cơn giận. Lão già lại quay sang nói với những người thợ gặt: - Thôi, làm hòa với anh ta đi, chỉ là chuyện hiểu lầm.
Ngô Hòa Đông không thể nhấc nổi chân, ba người kia đi trước, còn anh đứng sững tại chỗ, vẻ mặt đờ đẫn. Lão già lại trở về dáng vẻ ban đầu, với nụ cười hiền lành, dịu dàng, khuôn mặt nhăn nhó.
Đừng buồn, anh bạn. Tôi hiểu rõ vấn đề của anh, trước kia tôi đã dành nửa đời mình làm lao động phổ thông, tôi hiểu cảm giác đó. Con trai tôi đã đi xa rồi và buộc tội anh sai, nhưng đừng buồn, đây, đây là một ít tiền tôi đã dành dụm được. Anh cầm lấy cho tôi vui.
Ông ta chìa số tiền ra bằng đôi tay già nua, nhăn nheo, run rẩy.
Ngô Hòa Đông thấy như mình đang dần tỉnh dậy khỏi giấc mơ, nước mắt bắt đầu rơi lã chã, và dường như khi đó đôi mắt già nua, đục ngầu của ông mới có thể nhìn rõ khuôn mặt của ông lão.
Vừa khóc, ông vừa cúi xuống mở túi đồ nghề. Ông lão nhảy tới nắm lấy miệng túi, nhưng Hà Đông buông tay ra, lấy một chiếc bánh bao cũ ra khỏi túi, rồi ông ta lấy ra chiếc đồng hồ sáng bóng.
- Tôi là một tên trộm. Tôi, Ngô Hòa Đông, một tên trộm - Và ông ta bật khóc nức nở.
Ông lão cũng rơi nước mắt thương cảm, và vợ của Trương Căn Phát đứng gần đó cũng bắt đầu khóc.
*
Vào cuối tháng Sáu, những người thợ gặt từng đoàn rời Thiểm Tây trở về tỉnh Cam Túc.
An Quốc là một thị trấn nhỏ nhộn nhịp nằm ngay ranh giới phía đông tỉnh Cam Túc. Biển chỉ đường ở ngã tư có mũi tên chỉ về phía tây: - Trang Lãng 150 km. - Thỉnh thoảng có xe chở than đi qua, mang theo những đám bụi bặm và lạnh lẽo bốc lên cao. Phải mất rất lâu đám bụi mới tan, để lại những hạt đen vương vãi trên đường.
Trời đã chạng vạng. Bên ngoài một nhà hàng nhỏ, năm sáu người đang ngồi trên những chiếc ghế đẩu thấp quanh một chiếc bàn vuông, trên đó có một bát súp, một đĩa bánh bao. Ngô Hòa Đông bước tới tay bưng một bát mì. Ông ta cẩn thận từng bước đi.
- Đây, Thuận Xương, ăn mì đi!
- Ồ, cha ăn đi chứ.
- Ăn nhanh lên!
Thuận Xương cầm bát mì vừa ăn vừa nhìn xuống chiếc chân đau của bố. Thấy bàn chân trần của ông, cậu chợt nhớ đến đôi giày cao su cỡ 41. Ăn xong mì, cậu lấy chúng ra khỏi chiếc bao.
- Sáng mai chúng ta đi về nhà. Cha mang đôi giầy này cho đỡ đau nhé.
- Hả? Sao con lại mua đôi giày đắt tiền như thế này?
- Con không mua đâu, đó là...
Bỗng nhiên, mặt Thuận Xương đỏ bừng, cậu không biết phải giải thích thế nào về đôi giày.
- Ý con là sao khi nói không mua chúng?
Ngô Hòa Đông nhìn thấy vẻ mặt bối rối của đứa con, ông nhìn xuống đôi giày, toàn thân run lên.
- Vậy lấy chúng từ đâu?
- À … chúng là...
Lòng Ngô Hòa Đông chùng xuống, đập mạnh bát đũa xuống bàn.
- Cha ơi, con được tặng đấy. Chúng là quà đấy.
- Quà á? Đồ trộm cắp khốn kiếp. Cha không biết con học được từ đâu nữa. Mà còn học cả cái trò nói dối nữa.- Cố kìm nén những giọt nước mắt trong lòng, ông đứng dậy lấy cây đòn gánh, đập mạnh vào đôi giày mới, khiến chúng văng ra khỏi tay đứa con trai.
Thuận Trường quỳ xuống và chộp lấy cây gậy. - Cha ơi, có người đã tặng cho con.
- Ai mà thèm tặng quà cho một đứa như mày!
- Là... là Thủy Hương, cô ấy tặng cho con...
Thuận Trường không nhịn được bật khóc nức nở. Anh thuật lại câu chuyện mình đi gặt tại một gia đình ở Lâm Du, họ tử tế như thế nào. Đã trả tiền công cao, khi vè còn được tặng đôi giầy và … anh lấy ra một chiếc gói bao bằng lớp giấy cẩn thận đưa cho người cha - Họ nói là cho con mượn và mỗi năm phải tới đó để gặt lúa trả nợ dần …
*
Sáng hôm sau, Ngô Hòa Đông bắt con trai phải đi giày rồi hai cha con cùng nhau lên đường trở về nhà, trên vai vác đồ đạc. Ngô Hòa Đông nói:
- Đi thôi, nếu chúng ta nhanh chân về thì vẫn kịp thu hoạch vụ mùa. - ./.