B
uổi chiều, ông Thụ ra vườn đếm được 52 búp quỳnh lớn bé. Ông xem kỹ đường nứt từng búp, thì sẽ 35 búp nở hoa đêm nay. Ông gãi cằm, rứt lông mũi, ách xì 3 cái, cất giọng ngâm:
“Cất chén... mỉm cười... vừa... ý lão...
Bỏ công... vun xới... đã bao... ngày...”
Ông cười khì khi nhận ra giọng mình có chất dẻo của kẹo cao su.
Đột ngột ông ngừng cười, vội vã vào nhà, mở tủ kiểm tra chai rượu Remy Martin: còn một nửa. Lại xuống bếp xem lọ tiêu, lọ ớt, hũ muối, và cái bếp dầu hỏa lâu nay không dùng. Ông cho dầu vào bếp lò, vặn tim đốt thử, còn tốt. Rồi ông đi tắm.
Trong buồng tắm, ông quyết định sẽ hút điếu xì gà Hava Tampa người bạn biếu tháng trước.
Ông huýt sáo bài “Thiên thai” và khi thoa xà phòng đến mông, ông mỉm cười, nói nhỏ: “Không rủ rê ai chi. Kín đáo như hoa quỳnh”.
Đêm về, khi chương trình TV hết, cả nhà đã ngủ, ông nhẹ nhàng nhỏm dậy, bê ghế bố, cái bàn con ra vườn. Ông đặt chúng vào ba gốc quỳnh, cạnh bụi trúc đại lão. Tiếp, ông đem bếp lò, nồi nhôm đựng sẵn gạo nước, lọ tiêu, lọ muối, lọ ớt, chai rượu Tây và thuốc xì gà.
Tất cả được thực hiện khoảng bảy phút trong im lặng, dưới ánh sáng yếu ớt của vầng trăng non.
Ông nhóm lò, nấu cháo.
Ông ngã người ra ghế, chân gác lên chiếc bàn con, ông đốt điếu Hava Tampa. Ngay hơi đầu tiên, ông bị sặc. Ông không hút, ông cầm điếu thuốc ở hướng đầu gió, để ngửi mùi cỏ tươi bị đốt ngày hè. Hai phao mũi ông nở ra, tóp vào, ông lẩm bẩm: “Mùi không gian buổi chiều bị hỏa thiêu. Đặc sắc thật.”
Khi gạo cháo đã nở mềm, ông nhỏm dậy đi xung quanh ba gốc quỳnh, chăm chú kiểm tra từng búp. Có mười búp vừa hé nở. Những vệt dài màu trắng tinh khiết vừa hiện ra, thoảng mùi hương mỏng manh. Ông reo lên nho nhỏ: “Các em đã làm duyên và sắp múa rồi đấy.”
Lúc này, các búp khác cũng bắt đầu nở. Ông kê đồng hồ đeo tay sát bếp lò: 12 giờ 20 khuya.
Ông coi kỹ sát từng bông hoa. Ông chọn những hoa nào nở lớn đúng mức, vươn cánh nhọn tỏa rộng, ông liền bẻ gãy hoa ấy sát gốc, bỏ vào nồi cháo đang sôi sùng sục. Lúc ấy, ông nghiêng tai lắng nghe tiếng rên xiết rất khẻ của hoa. Tiếng đau đã tắt. Hoa đã chết. Và, ông mỉm cười. Gương mặt ông nở ra, mắt ông ngời lên như có dát lân tinh.
Ông tận hưởng cái thú xem hoa quỳnh khoe sắc, cái thú nghe tiếng rên xiết đau đớn của hoa, sau khi đã làm duyên đẹp mắt và cái thú ăn hoa.
Mỗi lần cho một hoa vào nồi cháo đang sôi, ông đều lấy đũa đằng xuống và trộn đều.
Đúng 35 hoa nở như ông đã thẩm định từ chiều, không sai chạy.
Nồi cháo đặc sệt hoa quỳnh, tỏa mùi thơm ngát. Ông rắc tiêu, nêm muối, nếm thử, rồi đậy nắp, đun nhừ.
Ông gãi cằm, há to miệng cho căng môi, ông rung đùi, ngã người ra ghế và mở nắp chai rượu.
Ông uống chai, không rót ra ly.
Sức ấm nóng của rượu, từ bụng tràn qua phổi và bừng lên mặt. Ông hà hơi ngửi mùi rượu thơm ngát.
Ông múc cháo ăn, cháo nóng quá, ông lại uống rượu.
Ông ăn liền hai bát. Thổi, hớp, nhai, nuốt, mồ hôi nhễ nhại. Ông lí nhí: “Cháo quỳnh ngon gấp ba lần cháo gà”.
Ông dùng răng nạo môi để phá chất dẻo của nhựa hoa.
Ông lại nốc rượu, ông lại ngã người ra ghế. Ông nghiêng đầu trên ghế bố, nhìn ba cây quỳnh thẫm màu trong đêm, ông cười hinh hích, tiếng cười của một người bị hút nhột vào nách: “Các em còn lại, mai nhé!”
Nói xong, ông nhỏm dậy, lại múc cháo ăn. Ông đã ăn sạch nồi cháo ba mươi lăm hoa quỳnh.
Miệng ông rít nhớt vì chất keo dẻo của nhựa hoa quỳnh.
Ông dùng răng nạo môi, lấy tay chùi sạch. Tay ông nhớt ướt.
Ông lại uống rượu, lại ngã người ra ghế, tay xoa bụng theo chiều kim đồng hồ, rồi ngược chiều kim đồng hồ cho bớt căng vì no.
Có tiếng trẻ nít láng giềng khóc thét. Ông chau mày, lẩm bẩm: “Chắc nó đói. Chắc nó đau”.
Ông quăng vỏ chai vào bụi trúc đại lão. Có hai con chim từ bụi trúc bay lên.
Tiếng trẻ khóc mãi không dứt. Ông chau mày rồi bỗng cười sằng sặc: “Tiếng trẻ con khóc vậy mà hay. Nghe có nhịp điệu. Giờ này có thể thay nhạc”.
Ông nhịp tay vào đất, lắc lắc hai chân trên chiếc bàn con.
Và, mí mắt ông nặng trĩu. Ông ngủ.
Tiếng ngáy ông rồ lên, trộn lẫn tiếng trẻ khóc trong đêm, vang lên một hợp âm kỳ lạ trong một không gian yên tĩnh.
Tiếng ngáy đục ngầu va chạm vào tiếng khóc trong veo, chúng cứ choảng nhau, tung tóe những nỗi buồn vô danh vô chủ.
Đột ngột, ông thét lên.
Một con rắn đã mổ vào bàn tay ông để thõng xuống đất. Bàn tay dính mủ hoa quỳnh.
Ông vùng dậy ngơ ngác. Ông coi lại bàn tay, ông cười im lặng: “Chỉ là mơ, bàn tay vẫn lành lặn”.
Trẻ vẫn còn khóc và ông vào nhà ngủ... -./.
Đêm về, khi chương trình TV hết, cả nhà đã ngủ, ông nhẹ nhàng nhỏm dậy, bê ghế bố, cái bàn con ra vườn. Ông đặt chúng vào ba gốc quỳnh, cạnh bụi trúc đại lão. Tiếp, ông đem bếp lò, nồi nhôm đựng sẵn gạo nước, lọ tiêu, lọ muối, lọ ớt, chai rượu Tây và thuốc xì gà.
Tất cả được thực hiện khoảng bảy phút trong im lặng, dưới ánh sáng yếu ớt của vầng trăng non.
Ông nhóm lò, nấu cháo.
Ông ngã người ra ghế, chân gác lên chiếc bàn con, ông đốt điếu Hava Tampa. Ngay hơi đầu tiên, ông bị sặc. Ông không hút, ông cầm điếu thuốc ở hướng đầu gió, để ngửi mùi cỏ tươi bị đốt ngày hè. Hai phao mũi ông nở ra, tóp vào, ông lẩm bẩm: “Mùi không gian buổi chiều bị hỏa thiêu. Đặc sắc thật.”
Khi gạo cháo đã nở mềm, ông nhỏm dậy đi xung quanh ba gốc quỳnh, chăm chú kiểm tra từng búp. Có mười búp vừa hé nở. Những vệt dài màu trắng tinh khiết vừa hiện ra, thoảng mùi hương mỏng manh. Ông reo lên nho nhỏ: “Các em đã làm duyên và sắp múa rồi đấy.”
Lúc này, các búp khác cũng bắt đầu nở. Ông kê đồng hồ đeo tay sát bếp lò: 12 giờ 20 khuya.
Ông coi kỹ sát từng bông hoa. Ông chọn những hoa nào nở lớn đúng mức, vươn cánh nhọn tỏa rộng, ông liền bẻ gãy hoa ấy sát gốc, bỏ vào nồi cháo đang sôi sùng sục. Lúc ấy, ông nghiêng tai lắng nghe tiếng rên xiết rất khẻ của hoa. Tiếng đau đã tắt. Hoa đã chết. Và, ông mỉm cười. Gương mặt ông nở ra, mắt ông ngời lên như có dát lân tinh.
Ông tận hưởng cái thú xem hoa quỳnh khoe sắc, cái thú nghe tiếng rên xiết đau đớn của hoa, sau khi đã làm duyên đẹp mắt và cái thú ăn hoa.
Mỗi lần cho một hoa vào nồi cháo đang sôi, ông đều lấy đũa đằng xuống và trộn đều.
Đúng 35 hoa nở như ông đã thẩm định từ chiều, không sai chạy.
Nồi cháo đặc sệt hoa quỳnh, tỏa mùi thơm ngát. Ông rắc tiêu, nêm muối, nếm thử, rồi đậy nắp, đun nhừ.
Ông gãi cằm, há to miệng cho căng môi, ông rung đùi, ngã người ra ghế và mở nắp chai rượu.
Ông uống chai, không rót ra ly.
Sức ấm nóng của rượu, từ bụng tràn qua phổi và bừng lên mặt. Ông hà hơi ngửi mùi rượu thơm ngát.
Ông múc cháo ăn, cháo nóng quá, ông lại uống rượu.
Ông ăn liền hai bát. Thổi, hớp, nhai, nuốt, mồ hôi nhễ nhại. Ông lí nhí: “Cháo quỳnh ngon gấp ba lần cháo gà”.
Ông dùng răng nạo môi để phá chất dẻo của nhựa hoa.
Ông lại nốc rượu, ông lại ngã người ra ghế. Ông nghiêng đầu trên ghế bố, nhìn ba cây quỳnh thẫm màu trong đêm, ông cười hinh hích, tiếng cười của một người bị hút nhột vào nách: “Các em còn lại, mai nhé!”
Nói xong, ông nhỏm dậy, lại múc cháo ăn. Ông đã ăn sạch nồi cháo ba mươi lăm hoa quỳnh.
Miệng ông rít nhớt vì chất keo dẻo của nhựa hoa quỳnh.
Ông dùng răng nạo môi, lấy tay chùi sạch. Tay ông nhớt ướt.
Ông lại uống rượu, lại ngã người ra ghế, tay xoa bụng theo chiều kim đồng hồ, rồi ngược chiều kim đồng hồ cho bớt căng vì no.
Có tiếng trẻ nít láng giềng khóc thét. Ông chau mày, lẩm bẩm: “Chắc nó đói. Chắc nó đau”.
Ông quăng vỏ chai vào bụi trúc đại lão. Có hai con chim từ bụi trúc bay lên.
Tiếng trẻ khóc mãi không dứt. Ông chau mày rồi bỗng cười sằng sặc: “Tiếng trẻ con khóc vậy mà hay. Nghe có nhịp điệu. Giờ này có thể thay nhạc”.
Ông nhịp tay vào đất, lắc lắc hai chân trên chiếc bàn con.
Và, mí mắt ông nặng trĩu. Ông ngủ.
Tiếng ngáy ông rồ lên, trộn lẫn tiếng trẻ khóc trong đêm, vang lên một hợp âm kỳ lạ trong một không gian yên tĩnh.
Tiếng ngáy đục ngầu va chạm vào tiếng khóc trong veo, chúng cứ choảng nhau, tung tóe những nỗi buồn vô danh vô chủ.
Đột ngột, ông thét lên.
Một con rắn đã mổ vào bàn tay ông để thõng xuống đất. Bàn tay dính mủ hoa quỳnh.
Ông vùng dậy ngơ ngác. Ông coi lại bàn tay, ông cười im lặng: “Chỉ là mơ, bàn tay vẫn lành lặn”.
Trẻ vẫn còn khóc và ông vào nhà ngủ... -./.
