Nguyên bản tiếng Anh
Two Gallants
trong Dubliners của James Joyce của nhà xuất bản HarperCollins - 1977
B
uổi
tối tháng Tám xám nhạt ấm áp phủ lên thành phố, và
một làn không khí hơi nóng, gợi nhớ về mùa hè, tỏa
ra trên phố. Những con phố, nhà nào nhà nấy đóng kín
cửa nghỉ ngơi ngày Chủ nhật, giờ đầy nghẹt những
đám đông màu sắc sặc sỡ. Như ngọc trai thắp sáng bên
trong, những ngọn đèn tỏa sáng từ đỉnh cột cao xuống
dải sinh vật bên dưới đang không ngừng thay đổi hình
dáng và màu sắc, dải sinh vật thả lên bầu không khí
buổi tối ấm áp xám nhạt một tiếng rì rầm không đổi,
không dứt.
Hai
người đàn ông trẻ tuổi đi xuôi vườn Rutland Square
1
.
Một người đang chuẩn bị kết thúc cuộc độc thoại
dài của mình. Người kia, bị đẩy vào sát mép con đường
mòn và đôi lúc buộc phải bước ra giữa đường cái,
do sự khiếm nhã của người đồng hành, mang một khuôn
mặt thích thú lắng nghe. Anh ta thấp đậm và hồng hào.
Chiếc mũ cát-két hất tuột về phía sau, và câu chuyện
đang nghe lúc lúc lại khiến gương mặt anh ta tách ra
những làn biểu cảm, xuất phát từ góc mũi, mắt và
miệng. Những chuỗi cười nghèn nghẹt tiếp nối nhau
thoát ra từ cơ thể rung động. Mắt anh ta, lóe lên những
tia vui sướng tinh quái, chốc chốc lại liếc vào khuôn
mặt người bạn đồng hành. Một hay hai lần anh ta chỉnh
lại chiếc áo khoác vải nhựa vẫn khoác hờ một bên
vai theo kiểu dũng sĩ đấu bò tót. Chiếc quần ống túm,
đôi giày cao su trắng, và chiếc áo khoác vắt nghịch
ngợm của anh ta, tất cả thể hiện tuổi trẻ. Nhưng
dáng người anh ta từ chỗ hông xuống thì tròn xoay, tóc
thưa và xám, và mặt anh ta, khi những làn biểu cảm đã
tan hết, lại trở lại vẻ nhàu nát.
Khi
đã khá chắc rằng câu chuyện đã kết thúc anh ta cười
ầm lên phải đến nửa phút. Rồi anh ta nói:
‘Thật,
đỉnh thật!’
Giọng anh ta có vẻ hơi
thiếu nồng nhiệt; và để nhấn mạnh lời mình anh ta
thêm vào với vẻ hài hước:
‘Đỉnh
thật, và, nếu tớ được phép gọi nó như thế, đây
quả là chuyện đỉnh trên cả đỉnh!’
Sau
đó anh ta trở nên nghiêm trang và nín lặng. Miệng anh ta
mỏi nhừ, bởi anh ta vừa nói suốt cả chiều nay trong
một quán rượu trên phố Dorset
2.
Hầu như ai cũng coi Lenehan như một thứ đỉa bám, nhưng
mặc dù bị tiếng xấu này, tài ngoại giao và hùng biện
vẫn luôn cứu anh ta thoát khỏi bị bạn bè tẩy chay. Anh
ta có một kiểu dạn dĩ là xuất hiện tại các buổi bù
khú của họ trong quán rượu, kiên trì đứng ngoài rìa
đóng góp cho đến khi được nhập bọn. Anh ta là một gã
lông bông lẻo mép, có vũ khí là một kho truyện cười,
thơ nhại, câu đố. Anh ta miễn dịch với tất cả các
trò khiếm nhã. Không ai biết anh ta giải quyết miếng cơm
manh áo thế nào, nhưng tên anh ta nghe nói có dính dáng đến
mấy tờ lá cải cá cược đua ngựa gì đó.
‘Và
cậu nhặt được cô nàng ở đâu thế, Corley?’ anh ta
hỏi.
Corley đưa lưỡi liếm nhanh môi
trên.
‘Một đêm, anh bạn ạ,’ anh ta
nói, ‘Tớ đang đi trên phố Dame3
thì tia thấy một em xinh xẻo đứng dưới cột đồng hồ
tiệm Waterhouse4,
thế là tớ tiến lại chúc nàng một buổi tối tốt
lành, cậu biết đấy. Rồi bọn tớ đi dạo dọc kênh
5,
và nàng nói với tớ nàng giúp việc cho một nhà trên phố
Baggot
6.
Đêm đó tớ vòng tay quanh nàng và ôm nàng kha khá. Rồi
Chủ nhật sau đó, anh bạn, tớ đi chơi với nàng. Bọn
tớ đi Donnybrook
7
và tớ đưa nàng ra cánh đồng. Nàng kể cho tớ trước
kia nàng từng hẹn hò với một gã làm nghề vắt sữa…
Mọi chuyện tốt đẹp lắm, anh bạn. Thuốc lá thì đêm
nào nàng cũng mang cho tớ, và trả tiền tàu điện cả đi
lẫn về. Và một đêm nàng mang cho tớ hai điếu xì gà
bá chấy – Ôi, chính là cái loại xịn cậu biết những
lão già hồi xưa hay hút ấy… Tớ chỉ hơi sợ, anh bạn,
nhỡ đâu cô ả dính bầu. Nhưng có vẻ cô nàng biết lo
lót mọi chuyện lắm.’
‘Có khi cô
nàng nghĩ cậu sẽ cưới cô nàng cũng nên,’ Lenehan
nói.
‘Tớ bảo nàng tớ hiện không đi
làm,’ Corley nói. ‘Tớ bảo nàng trước đây tớ từng
làm hãng Pim
8.
Cô nàng không biết tên tớ. Tớ thừa sỏi trong đầu để
không để lộ cho cô nàng biết. Nhưng nàng nghĩ tớ phải
là hàng quý ông thế nào đó, cậu biết đấy.’
Lenehan
lại cười ầm lên.
‘Trong tất cả
những chuyện hay ho tớ từng nghe,’ anh ta nói, ‘đây
quả là chuyện độc nhất vô nhị.’
Corley
nghiêng người đón nhận lời khen. Cái nghiêng của thân
hình lực lưỡng làm cho bạn anh ta lại bật xuống lòng
đường cái một đoạn mấy bước. Corley là con trai một
viên thanh tra cảnh sát, và anh ta thừa hưởng hình dáng
của cha. Anh ta bước đi hai tay ép dọc sườn, người ưỡn
thẳng và chốc chốc lại quay đầu từ bên nọ sang bên
kia. Đầu anh ta to, tròn xoay, và nhờn nhờn; nó đổ mồ
hôi trong mọi thời tiết; và cái mũ tròn lớn của anh
ta, đội nghiêng một bên, trông như một cái bóng đèn
tròn, bóng đèn này lại mọc ra từ một bóng đèn khác.
Anh ta luôn nhìn thẳng phía trước như đang duyệt binh, và
khi muốn nhìn theo ai đó trên phố, anh ta cần phải chuyển
động phần cơ thể phía trên hông. Hiện tại anh ta chỉ
lông bông. Có chỗ nào cần người bạn bè sẽ luôn sẵn
sàng mách cái tin trời đánh ấy cho anh ta. Người ta
thường thấy anh ta đi với đám cảnh sát mặc thường
phục, trò chuyện sôi nổi. Chuyện gì anh ta cũng biết
tường tận và rất khoái được đưa ra những lời phán
xét cuối cùng. Anh ta nói mà không bao giờ thèm lắng nghe
những người đồng hành. Câu chuyện của anh ta chủ yếu
là về bản thân anh ta: anh ta đã nói gì với người này
người kia rồi người này người kia đã nói với anh ta
những gì, rồi anh ta đã nói gì để giải quyết vấn
đề. Khi thuật lại những hội thoại này anh ta bật hơi
chữ cái đầu tiên của tên mình theo lối người
Florence9
.
Lenehan
mời bạn một điếu thuốc. Trong lúc hai người đàn ông
trẻ tuổi tiếp tục xuyên qua đám đông, thỉnh thoảng
Corley lại quay sang mỉm cười với cô nào đó đi ngang
họ, nhưng cái nhìn của Lenehan lại hướng đăm đăm về
phía vầng trăng lớn mờ mờ có quầng bao quanh. Anh ta
chăm chú quan sát bóng chiều dần dần trôi ngang mặt
trăng. Một lúc lâu rồi anh ta cất giọng:
‘Nào . . .
nói cho tớ biết, Corley, chắc cậu sẽ thu xếp ổn thỏa,
phải không?’
Corley nháy mắt đầy ngụ
ý thay cho câu trả lời.
‘Cô nàng có
dễ dụ không?’ Lenehan hỏi ngờ vực. ‘Phụ nữ khó
biết lắm.’
‘Cô nàng ổn thôi,’
Corley nói. ‘Tớ biết cách dụ nàng mà, ông bạn. Nàng
chết tớ lắm.’
‘Cậu là kiểu mà tớ
gọi là một chàng Lothario
10
tươi vui,’ Lenehan nói. ‘Và cũng là một chàng Lothario
hảo hạng nữa!’
Thoáng châm biếm làm
giảm bớt đi vẻ lệ thuộc của anh ta. Để giữ thế
anh ta có thói quen làm câu nịnh của mình luôn mập mờ
như kiểu chế giễu. Nhưng Corley chẳng mảy may nghi
ngờ.
‘Không gì bằng một cô hầu gái
ngoan ngoãn,’ anh ta khẳng định. ‘Tớ đánh cược
đấy.’
‘Lời đánh cược của một
kẻ đã thử khắp lượt các cô nàng,’ Lenehan
nói.
‘Hồi xưa tớ hay đi với các nàng
thật, cậu biết đấy,’ Corley nói, giọng bộc bạch
‘các nàng khu South Circular
11
.
Tớ dẫn các nàng đi chơi, ông bạn, bằng tàu điện đến
đâu đấy và trả tiền vé tàu, hoặc đưa các nàng đi
nghe hát hay xem kịch, hoặc mua tặng các nàng sô-cô-la hay
kẹo hay gì đấy. Tớ vẫn luôn chịu chi đầy đủ vì
các nàng,’ anh ta nói thêm, giọng thuyết phục, như thể
nhận ra mình đang không được người ta tin tưởng cho
lắm.
Nhưng Lenehan hoàn toàn tin tưởng
điều đó; anh ta gật đầu trang trọng.
‘Tớ
hiểu trò đó mà,’ anh ta nói, ‘toàn là chuyện vô
bổ.’
‘Quỷ tha ma bắt tớ có bao giờ
kiếm chác được xu nào,’ Corley nói.
‘Tớ
cũng thế đấy,’ Lenehan nói.
‘Chỉ
trừ duy nhất một nàng,’ Corley nói.
Anh
ta lại liếm môi trên. Chuyện cũ làm mắt anh ta sáng lên.
Rồi chính anh ta cũng ngước nhìn vầng trăng mờ, giờ
đây đã sắp chìm hẳn, và trông có vẻ trầm tư.
‘Cô
nàng… khá được,’ anh ta nói một cách tiếc
nuối.
Anh ta lại nín lặng. Rồi anh ta
nói:
‘Giờ cô nàng chắc cũng đi khách.
Đêm nọ tớ thấy cô nàng ngồi với hai gã trên xe ngựa
đi xuôi phố Earl
12
.’
‘Tớ
chắc chính cậu đã đẩy cô nàng đến chỗ vậy,’
Lenehan nói.
‘Trước tớ cô nàng còn có
những gã khác mà,’ Corley nói thản nhiên.
Lần này Lenehan buộc phải không tin. Anh ta lắc lắc đầu
và mỉm cười.
‘Cậu biết cậu đâu
có thể lừa được tớ, Corley,’ anh ta nói.
‘Thề
có Chúa!’ Corley nói. ‘Chẳng phải chính cô nàng đã kể
với tớ sao?’
Lenehan làm một cử chỉ
bi kịch.
‘Hạng phản trắc ghê tởm!’
anh ta nói.
Khi họ đi ngang qua tường rào
trường Trinity College
13,
Lenehan bước xuống lòng đường và nhìn lên đồng hồ.
‘Bảy giờ hai mươi,’
14
anh ta nói.
‘Còn nhiều thời gian mà,’
Corley nói. ‘Cô ta sẽ vẫn đứng đó thôi. Tớ luôn để
cô nàng phải đợi một lúc.’
Lenehan
cười kín đáo.
‘Đồ quỷ! Corley, cậu
luôn biết cách dụ bọn họ,’ anh ta nói.
‘Tớ
biết đủ loại mánh khóe,’ Corley thú nhận.
‘Nhưng
nói cho tớ biết,’ Lenehan lại nói, ‘cậu có chắc có
thể thu xếp mọi chuyện ổn thỏa không đấy? Cậu biết
đây là chuyện tế nhị mà. Bọn họ mà cứ động đến
chuyện này là sít sao lắm đấy. Hả? … Sao?’
Đôi
mắt nhỏ, sáng của anh ta xăm soi khuôn mặt người bạn
đồng hành tìm sự bảo đảm. Corley lúc lắc đầu như
thể muốn đẩy rơi ra một con côn trùng ngoan cố, và hai
đầu lông mày anh ta nhíu lại.
‘Tớ sẽ
thu xếp được,’ anh ta nói. ‘Cứ để tớ, được
chứ?’
Lenehan không nói gì nữa. Anh ta
không muốn chọc tức bạn, làm anh ta nổi khùng, để rồi
bị nói là không cần khuyên bảo gì hết. Cần phải có
một ứng biến nho nhỏ. Nhưng hai đầu lông mày Corley đã
mau chóng giãn ra. Những suy nghĩ của anh ta đi theo một
chiều hướng khác.
‘Nàng là một em
đoan trang ngoan ngoãn,’ anh ta nói, giọng ngưỡng mộ; ‘cô
nàng là như vậy.’
Họ đi dọc phố
Nassau
15
rồi rẽ vào phố Kildare
16Cách không xa vòm cổng một câu lạc bộ17
một nghệ sĩ phong cầm đang chơi nhạc giữa đường,
xung quanh lưa thưa khán giả. Anh ta bật dây đàn lơ đễnh,
lúc thì liếc nhanh mỗi người mới đến nghe, lúc thì,
vẫn mệt mỏi như vậy, ngước nhìn trời. Cây đàn phong
cầm của anh ta, uể oải, làn vải bọc rơi xuống ngang
thân, trông cũng có vẻ mệt mỏi, để mặc người lạ
nhìn ngó và để mặc bàn tay của người chủ làm gì thì
làm. Một tay anh ta chơi bè trầm khúc
Silent,
O Moyle18,
trong khi tay kia cứ sau một đoạn lại chêm bè cao. Những
nốt nhạc nghe thật ủ dột.
Hai chàng
trẻ tuổi bước đi trên phố không nói năng gì, tiếng
nhạc não nề đuổi theo. Khi tới vườn Stephen’s Green 19
họ qua đường. Ở đây tiếng ồn của tàu điện, những
ánh đèn, đám đông giải thoát họ khỏi sự im lặng.
‘Cô nàng kia kìa!’ Corley nói.
Tại
góc phố Hume20
một người phụ nữ trẻ đang đứng. Cô ta mặc một
chiếc váy xanh lơ và đội chiếc mũ thủy thủ trắng. Cô
ta đứng trên vỉa hè lát đá, một tay vung vẩy ô che
nắng. Lenehan trở nên hoạt bát hẳn lên.
‘Xem
cô nàng thế nào nào, Corley,’ anh ta nói.
Corley
liếc xéo bạn, và một cái nhếch mép cười không được
dễ chịu lắm xuất hiện trên mặt anh ta.
‘Cậu
đang định nẫng tay trên của tớ đấy à?’ anh ta
hỏi.
‘Đồ chết tiệt!’ Lenehan cộc
lốc, ‘Tớ không muốn cậu giới thiệu. Tất cả những
gì tớ muốn chỉ là nhìn xem cô ta thế nào. Tớ không ăn
thịt cô nàng đâu.’
‘Ơ . . .
Nhìn xem cô ta thế nào à?’ Corley nói, giọng đã dịu
hơn. ‘Được rồi. Tớ bảo nhé, tớ sẽ đi ra tán
chuyện với cô nàng một lúc và cậu có thể tình cờ đi
ngang qua.’
‘Được đấy!’ Lenehan
nói.
Corley đã nhấc một chân chuẩn bị
bước qua rào xích sắt21
thì Lenehan gọi theo:
‘Rồi sau đó?
Chúng ta gặp lại ở đâu?’
‘Mười
rưỡi,’ Corley trả lời, nhấc nốt chân kia qua rào.
‘Ở
đâu?’
‘Góc phố Merrion22.
Bọn tớ sẽ quay lại.’
‘Được rồi
cứ thế nhé,’ Lenehan nói thay lời tạm biệt.
Corley
không trả lời. Anh ta đủng đỉnh đi qua đường đầu
lắc lắc bên này bên kia. Thân hình bệ vệ, điệu bộ
ung dung, và tiếng bốt nện chắc nịch của anh ta tất cả
đều toát lên vẻ uy quyền. Anh ta tiến lại người phụ
nữ trẻ và, không thèm chào, bắt đầu nói luôn với cô
ta. Cô ta vung vẩy chiếc ô nhanh hơn, gót giày xoay xoay.
Một hay hai lần khi anh ta nghiêng người ghé sát, cô ta
lại ré lên cười và cúi đầu xuống.
Lenehan
quan sát họ mấy phút. Rồi anh ta rảo bước dọc theo
hàng rào thêm một lúc rồi rẽ chéo sang đường. Khi tới
góc phố Hume anh ta ngửi thấy không khí đậm đặc mùi
nước hoa, và anh ta đưa mắt kín đáo dò xét bề ngoài
người phụ nữ. Cô ta mặc bộ váy áo đẹp nhất dành
cho ngày Chủ nhật. Chiếc váy dạ xanh thắt lại ở eo
bằng một chiếc thắt lưng da đen. Cái khóa bạc to tướng
trên thắt lưng dường như khiến đoạn giữa người cô
ta ngắn lại, thắt phần áo trắng bên trên vào như một
cái kẹp. Cô ta mặc một chiếc áo khoác ngắn màu đen có
khuy khảm vỏ trai, và quàng một cái khăn trông xơ xác.
Phần trên cổ áo ren được cẩn thận xếp bồng lên và
đám hoa màu đỏ gài trên ngực chổng ngược cuống. Mắt
Lenehan thích thú ghi nhận thân hình thấp lùn vạm vỡ của
cô gái. Vẻ khỏe mạnh chân chất rạng ngời trên mặt
cô ta, trên đôi má núng nính đỏ lựng và trong đôi mắt
xanh không hề bối rối. Nét cô ta thật thô. Cánh mũi cô
ta rộng, miệng trễ toe toét thỏa mãn, hai răng cửa vẩu
ra. Khi đi ngang, Lenehan nhấc mũ lên, và, sau đó khoảng
mười giây, Corley chào lại. Anh ta làm việc này bằng
cách làm ra vẻ lơ đãng giơ tay lên sửa nhẹ mũ.
Lenehan đi tới mãi đến tận khách sạn
Shelbourne23,
rồi anh ta dừng lại và đứng chờ. Chờ một lát thì
anh ta thấy họ đang tiến lại về hướng mình và, khi họ
rẽ sang phải, anh ta đi theo họ, chân giậm nhẹ đôi giày
trắng, dọc theo vườn Merrion Square24.
Trong lúc chậm rãi đi tiếp, căn sao cho cách họ vừa
phải, anh ta nhìn cái đầu của Corley chốc chốc lại cúi
xuống khuôn mặt người phụ nữ trẻ giống như một quả
bóng lớn xoay tròn quanh trục. Anh ta đi theo đôi tình nhân
cho đến khi nhìn thấy họ trèo lên tàu điện đi
Donnybrook; rồi anh ta quay gót và đi lại con đường vừa
đi.
Giờ
đây khi còn lại một mình, khuôn mặt anh ta trông già
xọm. Vẻ tươi vui dường như đã bỏ rơi anh ta, và bởi
đang đi dọc theo hàng rào vườn Duke’s Lawn25
anh ta bèn để tay chạm theo những thanh rào. Điệu nhạc
của người chơi phong cầm lúc trước bắt đầu điều
khiển cử động của anh ta. Bàn chân mang giày êm giậm
giai điệu trong khi những ngón tay anh ta uể oải lướt
dọc theo rào sau mỗi đoạn nhạc.
Anh
ta đi lơ vơ vòng quanh vườn Stephen’s Green rồi đi xuống
phố Grafton26.
Mặc dù hai mắt không bỏ sót chi tiết nào của những
đám đông anh ta đi xuyên qua, chúng làm vậy một cách ủ
ê. Những thứ đáng lẽ ra phải đầy quyến rũ, giờ anh
ta thấy thật tầm thường, và còn chẳng thèm đáp lại
những cái liếc mắt mời gọi. Anh ta biết anh ta sẽ phải
nói rất nhiều, phải khoác lác và mua vui, mà óc và cổ
họng anh ta giờ quá mệt mỏi cho những trò như vậy.
Chuyện phải làm gì mấy tiếng đồng hồ từ bây giờ
cho đến khi gặp lại Corley làm anh ta bực mình ít nhiều.
Anh ta không nghĩ ra có thể làm gì ngoài việc cứ tiếp
tục đi thế này. Anh ta rẽ sang trái khi đến góc vườn
Rutland Square, và cảm thấy dễ chịu hơn chút ít trên con
phố tối vắng ngắt, vẻ buồn thảm của nó hợp với
tâm trạng anh ta. Cuối cùng anh ta dừng lại trước cửa
kính một cửa hiệu trông xoàng xĩnh, phía trên có chữ
Tiệm
Ăn nhẹ
màu trắng. Trên tấm kính là hai dòng chữ nguyệc ngoạc:
Bia
gừng nhẹ
và
Bia gừng nâu27.
Một đùi giăm-bông bày trên cái đĩa lớn màu xanh, và
cạnh đó trên một cái đĩa khác có ít bánh put-đinh mận
màu rất nhạt. Anh ta chăm chú nhìn đám đồ ăn một lúc,
và rồi, sau khi đã thận trọng nhìn hết dọc phố, vội
vã bước vào hiệu ăn.
Anh ta thấy
đói, bởi, ngoài mấy chiếc bánh quy hai gã phục vụ quán
rượu mang ra đầy miễn cưỡng theo yêu cầu, anh ta đã
ăn gì đâu từ sáng sớm đến giờ. Anh ta ngồi xuống
một chiếc bàn gỗ không trải khăn đối diện hai cô
công nhân và một người thợ máy. Một cô bé phục vụ
trông nhếch nhác đứng chờ anh ta gọi đồ ăn.
‘Một
đĩa đậu giá bao nhiêu?’ anh ta hỏi.
‘Một
xu rưỡi, thưa ông,’ cô gái nói.
‘Mang
cho một đĩa đậu,’ anh ta nói, ‘và một bia gừng
nhẹ.’
Anh ta nói cụt lủn để giảm
bớt đi ấn tượng cao sang của mình, bởi từ lúc anh ta
bước vào hiệu mọi cuộc trò chuyện đều ngừng lại.
Mặt anh ta đỏ lựng. Để trông bình thường trở lại
anh ta đội mũ cát két lên và đặt cả hai khuỷnh tay lên
bàn. Người thợ máy và hai cô công nhân xăm soi anh ta kỹ
càng trước khi quay lại cuộc chuyện trò của họ, giọng
hạ xuống. Cô phục vụ mang lại một đĩa đậu nóng
trộn tiêu và dấm, một cái dĩa, và bia gừng của anh ta.
Anh ta ngốn ngấu chỗ thức ăn và thấy ngon đến nỗi
phải nhẩm trong đầu ghi nhớ địa chỉ hiệu ăn. Khi đã
chén sạch chỗ đậu anh ta ngồi ngâm nga cốc bia gừng
một lúc nghĩ về cuộc phiêu lưu của Corley. Trong trí
tưởng tượng anh ta thấy đôi tình nhân đang đi dạo dọc
trên một con phố tối tăm nào đó; anh ta nghe thấy giọng
Corley hạ thấp thì thầm tán tỉnh, và một lần nữa lại
nhìn thấy vẻ toe toét trên cái miệng người phụ nữ
trẻ. Hình ảnh này bỗng làm anh ta thấy thấm thía sự
nghèo nàn của cái ví tiền cũng như sinh lực của chính
mình. Anh ta đã chán ngán cảnh lông bông, luôn bên bờ
vực túng bấn, chán những mưu đồ mánh khóe này kia. Đến
tháng mười một này anh ta đã ba mốt tuổi. Chẳng nhẽ
không bao giờ anh ta có được một công việc tử tế?
Chẳng lẽ không bao giờ có được một căn nhà của
chính mình? Anh ta nghĩ sẽ sung sướng dễ chịu làm sao
khi có một lò sưởi ấm áp để được ngồi bên cạnh
và một bữa tối ngon lành để được ngồi xuống ăn.
Anh ta đã đi dạo trên phố quá đủ với đám bạn bè và
với đám con gái. Anh ta biết đám bạn bè ấy có giá trị
thế nào: anh ta cũng biết đám con gái thực ra thế nào.
Ký ức làm trái tim anh ta căm ghét cuộc sống. Nhưng hy
vọng chưa hoàn toàn rời bỏ anh ta. Sau khi được ăn anh
ta cảm thấy khá hơn, đỡ cảm thấy buồn thảm với
cuộc đời mình hơn, đỡ u ám trong tâm tưởng hơn. Thậm
chí giờ anh ta còn có thể ổn định cuộc sống tại một
chốn xinh xắn nào đó và sống hạnh phúc chỉ cần gặp
được một cô gái tính tình đơn giản với một món
dành giụm nho nhỏ.
Anh
ta trả hai xu rưỡi cho cô bé nhếch nhác, và đi ra khỏi
cửa hiệu tiếp tục cuộc lang thang của mình. Anh ta đi
vào phố Capel và đi dọc về phía Tòa thị chính28.
Rồi anh ta rẽ vào phố Dame. Tại góc phố George29
anh ta gặp hai người bạn, và dừng lại trò chuyện với
họ. Anh ta cảm thấy sung sướng vì có thể nghỉ một
lúc sau cuộc đi bộ dài. Bạn anh ta hỏi dạo này có gặp
Corley không, và có tin gì mới không. Anh ta trả lời cả
ngày hôm nay anh ta đi cùng Corley. Hai bạn anh ta nói rất
ít. Họ nhìn lơ đãng theo ai đó trong đám đông, thỉnh
thoảng đưa ra những lời chê bôi. Một người nói anh ta
vừa gặp Mac cách đây một tiếng trên phố Westmoreland30.
Nghe đến đó Lenehan nói đêm qua anh ta vừa đi uống với
Mac ở quán nhà Egan31.
Người đàn ông trẻ gặp Mac ở phố Westmoreland hỏi có
phải đúng là Mac vừa thắng chút đỉnh trong một trận
bi-a không. Lenehan không biết: anh ta nói Holohan đãi cả
bọn một chầu tại quán Egan.
Anh ta rời
hai người bạn lúc mười giờ kém mười lăm và đi lên
phố George. Anh ta rẽ trái chỗ khu chợ City Markets32
và đi tiếp vào phố Grafton. Đám đông con gái và những
người đàn ông trẻ đã thưa dần, và đi trên phố anh
ta nghe thấy nhiều nhóm và đôi chia tay chúc nhau ngủ
ngon. Anh ta đi tới phía đồng hồ trường Phẫu thuật33:
nó đang điểm chuông báo mười giờ. Anh ta rảo bước
dọc mặt phía bắc vườn Stephen’s Green, vội vã, sợ
nhỡ đâu Corley đã quay lại sớm hơn. Khi tới góc phố
Merrion anh ta đứng nấp dưới bóng một cột đèn, rút ra
điếu thuốc để dành và châm lửa hút. Anh ta dựa lưng
vào cột đèn và hướng mắt nhìn chờ đợi về phía anh
ta nghĩ sẽ thấy Corley và người phụ nữ trẻ quay lại.
Tâm trí anh ta lại trở nên hoạt bát. Anh ta tự hỏi không biết Corley có thành công không. Anh ta tự hỏi không biết Corley đã hỏi cô gái chưa hay chờ đến lúc cuối mới hỏi. Anh ta khổ sở chịu đựng tất cả những nỗi lo lắng hồi hộp của tình cảnh người bạn và cũng của chính anh ta. Nhưng nhớ lại hình ảnh cái đầu xoay xoay ung dung của Corley anh ta cảm thấy đôi chút bình tâm lại: anh ta chắc chắn Corley sẽ thu xếp mọi chuyện ổn thỏa. Rồi đột nhiên một ý nghĩ xuất hiện trong đầu anh ta nhỡ đâu Corley đã tiễn cô gái về bằng đường khác, và cho anh ta leo cây. Mắt anh ta tìm kiếm con phố: không hề thấy bóng dáng họ. Mà chắc chắn đã phải nửa giờ trôi qua từ lúc anh ta nhìn đồng hồ chỗ trường Phẫu thuật. Liệu Corley có thể làm một việc như thế không? Anh ta châm điếu thuốc cuối cùng và bắt đầu hút một cách căng thẳng. Anh ta căng mắt nhìn mỗi khi một chiếc tàu điện dừng lại ở góc phía xa trên quảng trường. Chắc chắn bọn họ đã về nhà bằng đường khác. Tấm giấy cuốn điếu thuốc bị bật ra và anh ta ném nó xuống đường cùng một câu chửi thề.
Đột
nhiên anh ta nhìn thấy họ đang tiến về phía mình. Anh ta
giật mình sung sướng, và cố nép sát hơn nữa vào cột
đèn, cố đoán kết quả qua bộ dạng bước đi của họ.
Họ đang đi rất nhanh, người phụ nữ trẻ bước những
bước ngắn, nhanh, trong khi Corley bên cạnh cô ta chân sải
những bước dài. Họ không có vẻ là đang trò chuyện.
Điềm báo làm anh ta thót người như chạm phải vật
nhọn. Anh ta biết Corley sẽ thất bại; anh ta biết mọi
chuyện đã hỏng.
Họ rẽ xuống phố
Baggot, và ngay lập tức anh ta đi theo, đi con đường mòn
khác. Khi họ dừng anh ta cũng dừng. Họ nói chuyện một
lát, rồi người phụ nữ trẻ xuống bậc thang vào tầng
hầm một ngôi nhà. Corley vẫn đứng bên đường, cách
bậc nhà một quãng. Mấy phút trôi qua. Rồi cửa trước
ngôi nhà chầm chậm rón rén mở ra. Một người phụ nữ
đi nhanh xuống bậc thềm và ho. Corley quay người đi về
phía cô ta. Hình dáng to lớn của anh ta che khuất người
phụ nữ mấy giây và rồi cô ta lại hiện ra, chạy lên
bậc nhà. Cửa nhà đóng lại sau cô, và Corley bắt đầu
rảo bước về hướng vườn Stephen’s Green.
Lenehan
đi nhanh theo hướng đó. Vài hạt mưa rắc xuống. Anh ta
coi chúng là điềm gở, và, vừa liếc lại ngôi nhà người
phụ nữ trẻ vừa đi vào để đảm bảo không bị phát
hiện, anh ta vừa hồi hộp chạy qua đường. Sự lo lắng
và những bước chạy khiến anh ta thở hổn hển. Anh ta
gọi to:
‘Corley, chào!’
Corley
quay đầu nhìn xem ai gọi mình, rồi lại tiếp tục bước
đi. Lenehan chạy sau anh ta, một tay chỉnh lại chiếc áo
vải nhựa vắt trên vai.
‘Corley, chào!’
anh ta lại gọi to.
Anh ta đã ngang bằng
với bạn và háo hức nhìn vào mặt anh ta. Anh ta không
thấy gì ở đó.
‘Sao?’ anh ta nói.
‘Có xoay được không?’
Họ đã tới
góc phố Ely Place34.
Vẫn không trả lời, Corley lượn sang trái và đi vào con
phố nhỏ. Mọi đường nét của anh ta toát vẻ lạnh
tanh. Lenehan theo kịp bạn, thở phì phò. Anh ta thấy bị
tẽn tò, và một sắc đe dọa xen vào giọng anh ta.
‘Cậu
không thể nói được sao?’ anh ta nói. ‘Cậu có hỏi cô
ả không?’
Corley dừng lại nơi cột
đèn đầu tiên và nhìn đăm đăm tàn nhẫn về phía
trước. Rồi với một cử chỉ quan trọng anh ta chìa bàn
tay về phía ánh đèn và, mỉm cười, chầm chậm mở nó
ra trước cái nhìn chăm chú của gã đồ đệ. Một đồng
tiền vàng nhỏ tỏa sáng giữa lòng bàn tay35.
1 Rutland Square: nay là Parnell Square, khu vườn ở phía bắc sông Liffey.
