ĐỌC THƠ NINH TỐN
I
ĐÔI ĐIỀU QUAN TÂM
VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA NINH TỒN
.
Ninh Tốn sinh năm 1743, đỗ hương cống năm 1762. Năm 1770, chúa Trịnh Sâm tình cờ đọc được bài thơ của ông ( xem bài thơ ở phần chú thích ) trên vách núi Thanh Hóa, mến tài mà mời ông vào triều làm quan , giữ chức Thiên trị hình phiên, tương tự như sau này, nhưng ở cấp cao hơn, vua Minh Mạng nhà Nguyễn ra Bắc, nghe nói Phạm Đình Hổ có tài, bèn mời đến gặp, chỉ khoảng nhai giập một miếng trầu, thấy có tài thật, bèn phong luôn cho Phạm Đình Hổ làm Tế tửu Quốc Tử giám Thăng Long, hiệu trưởng Trường Đại học đầu tiên của nước ta, dạy con các quan lại, chức vụ thường dành cho vị Tiến sĩ đỗ hạng ưu, dù ông chưa ( và không ) đi thi Tiến sĩ. Nói thế để thấy cái thưa thoáng và liên tài của quan chế phong kiến. Ninh Tốn làm quan cho nhà Lê đến 17 năm, từ năm 1770 đến năm 1887 tức là từ năm 27 tuổi đến năm 44 tuổi. Năm 1778, sau khi đã làm quan cho nhà Lê được 8 năm, 35 tuổi, ông mới thi đỗ Tiến sĩ. Chức quan nhà Lê là Hữu Thị lang. Tước là Trường Nguyên bá. Ông có vẻ hài lòng với chức tước này, và suốt đời mình, ngay cả trước khi mất, khi cần phải nêu tên và chức tước, ông đều ghi trước sau như một, là “ Cố Lê tiến sĩ, Hữu thị lang, Trường Nguyên bá Ninh Tốn.” Sau đó, Ninh Tốn có khoảng non 2 năm làm quan với nhà Tây Sơn, từ 1788 đến 1789, chức Hàn lâm trực học sĩ, giúp việc về văn thư sổ sách hành chính cho Ngô Văn Sở ở đất Bắc và tham gia giám tu, biên soạn quốc sử. Việc làm này chưa được bao lâu . Hơn 1 năm sau ông đã xin nghĩ về dưỡng già ở quê nhà, khi ông mới 47 tuổi. Tập Thơ văn Ninh Tốn tập hợp toàn bộ tác phẩm của ông, gồm 275 bài thơ và 7 bài văn, do Viện Hán Nôm biên soạn rất công phu và nhà xuất bản Khoa học xã hội rất nghiêm cẩn ấn hành tháng 10. 1984, là một tư liệu khoa học rất đáng tin cậy, về cuộc đời và sự nghiệp thi ca rất đáng kính nể của ông. Nói gì thì cũng phải căn cứ từ các con chữ của chính ông trong tập sách rất quí hiếm này.
Bài Tự thuật, ông viết năm 1790, khi ông đã nghỉ việc quan được 1 năm. Tôi coi đây là bài thơ toàn bích , hay nhất của Ninh Tốn , in cuối cùng trong tập, có 2 câu kết : “Tha nhật lũng đầu lưu mộ biểu / Cố Lê tiến sĩ thị lang Ninh” ( Ngày kia trên đầu bờ ruộng để lại một tấm bia mộ / Đó là quan thị lang họ Ninh, tiến sĩ triều Lê cũ ). Câu thơ đó của Ninh Tốn, làm tôi nhớ đến câu thơ Nguyễn Khuyến viết hơn 200 năm sau, trong Di chúc, dặn con, sau khi ông chết, nhớ để trên mộ tấm bìa , có dòng chữ : “Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu”. Đã thế, các bài thơ trong tập, đều viết trong 17 năm làm quan cho nhà Lê. Có bài ghi sự kiện hoặc chú thích, để người đọc nhận ra thời gian, đều là trước năm ông về với Tây Sơn, năm 1788. Một số bài thơ mô tả cảm khái về chiến trận và sự nghiệp anh hùng, ông Hoàng Lê cho là Ninh Tốn ca ngợi quân đội Tây Sơn, tôi e không phải, rất muốn được ông Hoàng Lê xem xét lại. Vì đọc kĩ, không thấy có dấu tích gì về thời Quang Trung, còn chú thích dưới bài, thì lại ghi là thời Trịnh Nguyễn, đều ở khoảng các năm 1772, 1773,1775... là thời gian mà chính ông Hoàng Lê ghi trong niên biểu là Ninh Tốn ở với nhà Lê. Còn non 2 năm làm quan cho nhà Tây Sơn, tính từ năm 1788 đến 1789, Ninh Tốn không có bài thơ nào. Năm 1789, đầu năm Tây Sơn đại phá Quân Thanh, cuối năm Ninh Tốn đã về quê dưỡng già.Tại trang 222 tập Thơ Văn Ninh Tốn, Ninh Tốn ghi nguyên văn như sau: “ Canh Tuất tiểu xuân thượng càn, Chi khế Bắc Sơn độn tẩu, cố Lê hữu thị lang- Trường Nguyên bá, Ninh thị Hy Chi, kính thư vụ Tiều Ẩn hiên “ (Thượng tuần tháng giêng năm Canh Tuất ( 1790 ). Bạn chí cốt là ông già đi ẩn ở Bắc Sơn, chức Hữu thị lang, tước Trường Nguyên bá, họ Ninh, tự Hy Chi, kính cẩn viết tại hiên Tiều Ẩn ). Như vậy, đầu tháng Giêng năm Canh Tuất ( 1790) , Ninh Tốn đã “Bắc Sơn độn tẩu” ( 4 chữ này của ông – do ông tự viết về mình: “trốn chạy lên núi Bắc” , rời bỏ nhà Tây Sơn, đi ở ẩn, làm người kiếm củi trong rừng, ngay sau khi Tây Sơn đại phá quân Thanh) , ông đã đi ở ẩn và tự coi mình là Tiều Ẩn ( thứ 2 ) rồi. Thời Trần , ông Chu An sau dâng Thất trảm sớ , vua Trần không nghe, bèn treo mũ từ quan, về ẩn tại rừng núi huyện Chí Linh quê hương tôi. Cứ như tài liệu đã công bố, trong tập sách duy nhất của Ninh Tốn đã xuất bản, thì chỉ có như vậy.
Ngay năm đầu nghỉ việc quan, 1790, Ninh Tốn viết 3 bài. Đây là những dòng chữ cuối cùng của văn nghệp ông: 1 thơ, bài Tự thuật mà tôi coi là Di chúc, 2 bài văn, bài 1 đề Tựa tập thơ của thầy học Vũ Huy Đĩnh, phó sứ nhà Tây Sơn sang nhà Thanh. Bài thứ 3, giới thiệu tập sách y khoa: “Thai sản điều lí phương pháp tự ” ( Phương pháp chữa bệnh phụ nữ, từ khi có thai cho đến lúc sinh nở ) của Nguyễn Thế Lịch. Ninh Tốn đều ghi mình là “Cố Lê Tiến sĩ” ( Tiến sĩ nhà Lê cũ) viết trong lúc đã đi ở ẩn. Tư liệu còn lưu lại được, giấy trắng mực đen, thì chỉ có thế. Có thể vì vậy chăng, mà sử quan nhà Nguyễn ( thời Gia Long) ghi về Ninh Tốn, có cho rằng : Ninh Tốn ra làm quan với nhà Tây Sơn là do “bị ép buộc”, khiến ông Hoàng Lê viết trong Tiểu sử Ninh Tốn in ở phần đầu tập Thơ văn Ninh Tốn, cho là “ xuyên tạc một cách thô bỉ ”.
Tôi nghĩ, đây là kĩ năng “xuất xử hành tàng” của nhà nho, khi Ninh Tốn hiểu được chữ “thời” trong Kinh Dịch. Nhờ thế mà ông tránh được các hiểm họa của thời cuộc đã giành sẵn cho ông. Ông đến với nhà Tây Sơn, vì biết vận nước của nhà Lê đã hết. Đó là một tiến bộ lớn của Kẻ Sĩ thức thời. Và chỉ hơn 1 năm sau, đã nghỉ về quê. Trong toàn bộ thơ văn của ông, không có bài nào, ông ca ngợi chúa Trịnh, vua Lê, mặc dù chúa Trịnh Sâm chỉ đọc thơ ông mà mời ra làm quan, khi ông mới chỉ đỗ hương cống. Cái ơn “ tri ngộ” này đối với nhà nho là lớn lắm. Hãy nhớ đến trường hợp Nguyễn Trãi được vua Thái Tông, phục chức sau 10 năm đã nghỉ hưu ở Côn Sơn, thì rõ. Nguyễn Trãi viết Biểu tạ ơn, càm động đến tràn đầy nước mắt. Xem ra Nguyễn Trãi còn quyến luyến với quan trường nhiều lắm. Trong phim Lệ Chi Viên, kịch bản của Lê Lựu, có dạo trình chiếu nhiều lần trên VTV3, tôi viết lời dẫn cho cả phim, có câu : “Xuất xử mà không rõ ràng thì làm sao mà tránh được tai họa”. Chính Nguyễn Trãi đã viết : “ Họa phúc hữu môi phi nhất nhật”, ( Họa hay phúc đều có nguyên nhân và không phải chỉ trong 1 ngày ). Hiểu như thế, nhưng làm được như thế là hai vấn đề khác nhau. Nếu không có cái ơn “ tri ngộ” đó của vua Lê, và sự quá hào hứng của Nguyễn Trãi, cái án “Lệ Chi viên” liệu có xảy ra không ? Có nói điều này, mới thấy Ninh Tốn “xuất xử hành tàng” quả quyết và khôn khéo là như thế nào.
Có điều rất cần phải nói thêm: Ninh Tốn rất ghét thói cơ hội và sự luồn cúi để có lương bổng của các quan đương thời. Trong bài “ Tặng Ngọc Động Đinh huynh chi huyện” ( Tặng ông họ Đinh ở Ngọc Động đi làm quan huyện ), ông viết : “Mặc cho thói đời xu phụ quyền thế / Khen bác có chí khí cao, riêng rất tự do và vui vẻ” ( sách đã dẫn, trang 217) . Ông họ Đinh nói trên là Viễn Mưu hầu, Trực học sĩ Đinh Huy Đạo, người Ninh Bình, thầy dạy vua Quang Toản nhà Tây Sơn ( con Nguyễn Huệ ). Ở một bài khác, viết năm Bính Thân ( 1776) có câu : “ Há để vì 5 đấu gạo đương nổi thú đèn sách” và dẫn Đào Uyên Minh, nhà thơ đời Tống bên Trung quốc, khi quan địa phương báo ông phải áo mũ chỉnh tề để đón quan trên, còn rất trẻ đến thăm, Đào đã bỏ áo mũ lại, về quê ngay: “Không vì 5 đấu gạo mà phải khom lưng trước đứa trẻ con”. Lời Đào Uyên Minh được Ninh Tốn viết lại thành một câu thơ. Năm đấu gạo, có lẽ là lương trả cho 1 ngày làm việc của quan huyện. Ở một bài khác, viết về người bạn chí cốt của ông là Ôn Phủ Nguyễn Thế Lịch, từng làm thượng thư thời Lê, viết năm 1790, sau 1 năm ông đã nghỉ hưu, có câu : “ không thể ngửa cúi theo thời, đó là cái bệnh giống nhau giữ tôi và Ôn Phủ” ( sách đã dẫn, trang 221 – 222). Nghĩa là tôi rất giống ông, không chấp nhận sự “ ngửa” và “cúi” đó để kiếm sống. Một cốt cách cao cả và trong sạch như thế, không dễ có trong giới quan trường.
Những việc đại loại như trên, đều là sự “xuất xử” của người quân tử. Khả năng “xuất xử” này ở Ninh Tốn thuần hậu đến mức, tôi gọi là kĩ năng, uyên thâm hơn hẳn Nguyễn Trãi và nhiều vị quan khác ở thời Lê. Cũng không có bài nào, Ninh Tốn ca ngợi vua nhà Tây Sơn và cả chiến công vĩ đại đánh tan quân Thanh xâm lược năm 1789, mà ông có chứng kiến. Ông mô tả một số cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn ở thời Lê, ca ngợi chiến công Chương Dương độ, Bạch Đằng giang... ở thời Trần, nhưng ông Hoàng Lê cho rằng, Ninh Tốn mượn chiến công nhà Trần để ngụ ý ca ngợi nhà Tây Sơn. Ông Hoàng viết rõ ra như thế. Nhưng tôi đọc mãi không thấy có ý như thế. Vì khi Ninh Tốn viết các bài đó, Tây Sơn còn ở rất xa mãi phía Nam, đang phải đương đầu rất khó khăn với chúa Nguyễn.
Trong trường hợp Ninh Tốn, căn cứ vào giấy trắng mực đen thì đúng là như thế, không thể vì yêu ghét cá nhân, hay do “ bị ép buộc” như chính ông Hoàng nói, mà nói khác đi được. Còn sự thật thế nào, chờ nghiên cứu chuyên sâu thêm của các nhà khoa học.
II
BA ĐIỀU CẢM NHẬN VỀ THƠ NINH TỐN
1 – Thơ văn chỉ là cách hữu hiệu biểu lộ lòng yêu thiên nhiên và hướng tới nhân dân
Nhà nghiên cứu Hoàng Lê viết, có đến 1/3 trong tổng số các bài thơ Ninh Tốn viết về thiên nhiên. Tôi nghĩ nhiều hơn thế. Có thể đến 3 /4.Trang thơ nào, thiên nhiên cũng bát ngát. Một thiên nhiên dường như thuần túy, ít nhuốm bụi của thời cuộc và mối lo toan cơm áo của người đời. Dường như Ninh Tốn viết trong các chuyến đi công vụ đến các địa phương, hoàn toàn tự do thoải mái, thưởng ngọan vẻ đẹp của sông núi đền chùa... ( dịch) :
Một lá thuyền con phơi phới đi
Từ Nam sang Bắc ngược kinh kì
Trăng trong gió mát nghiêng bầu dốc
Nước biếc non xanh phóng bút đề...
Ngay bài thơ này, ông Hoàng cũng cho là Ninh Tốn ca ngợi thời Tây Sơn. Bạn đọc sẽ nhận ra 3 chữ “ngược kinh kì ” ở đây, như trong câu thơ này, là Thăng Long nhà Lê chứ không phải Phú Xuân ( Huế) của nhà Tây Sơn.
Thơ thiên nhiên của Ninh Tốn là thế. Dường như chỉ có thiên nhiên và vẻ đẹp muôn thuở của thiên nhiên ngự trị. Ông ca ngợi rừng xanh mà không có người vác củi đi chợ bán, mô tả đồng quê mà không có nông dân “ cày bừa đang buổi ban trưa / Mồ hôi thánh thót... ” như quan niệm về sáng tác quen thuộc của chúng ta ngày hôm nay, cái gì cũng phải có đời sống và thời sự chính trị. Tôi nghĩ đây là một nét riêng, rất đáng nghiên cứu và cần trân trọng.
Trong thơ thiên nhiên của ông, có một số bài đặc sắc. Tôi dẫn ra đây 1 bài. có tính khác biệt so với nhiều nhà thơ đương thời, về xúc cảm và ngôn ngữ biểu tượng, bút lực dồi dào.
XUÂN NGUYÊN NGẪU HỨNG
( Đầu xuân ngẫu hứng )
Huệ phong tạc dạ, báo dương hòa
Đảo xứ tiên nghiêu cảnh vật xa
Lạp đới hàn uy hoàn địa trạch
Xuân trang điểm sắc giá sơn hà
Thục lâm ngự uyển mai tiên bảng
Noãn nhập văn trai bút diệc hoa
Cao hứng ư dư do nhược thử
Hồng lâu kim ốc hựu như hà
( Đêm qua gió mát, cho biết khí trời êm dịu
Khắp nơi cảnh vật tươi thắm đẹp đẽ dồi dào
Mùa đông đem cái lạnh cóng trả về cho đất chằm
Mùa xuân tô điểm vẻ đẹp để gả cho núi sông
Khí dịu chan hòa vườn ngự nên mai nở trước
Hơi ấm tràn vào phòng văn làm bút trổ hoa
Hứng cao đối với ta còn như thế
Thì nhà vàng lầu tiá lại như thế nào )
Ông đề cao lí tưởng lập nên công trạng của đấng nam nhi, nhưng lời lẽ cũng phải chăng ( dịch ) : “ Làm trai chỉ cốt nên công nghiệp / Đứng có âu sầu nỗi đắng cay ”, không tha thiết đến mức cuồng nhiệt như Nguyễn Công Trứ của nhà Nguyễn sau này.
Nói hướng tới nhân đân, là nhìn xa, xuyên suốt tư tưởng Ninh Tốn, nhưng viết hẳn về điều quan trọng đó, nói theo nghĩa đen, tôi chỉ thấy có trong 2 bài, phảng phất cái khí hậu thơ của Bạch Cư Dị và Nguyễn Chẩn, hai nhà thơ Đường Trung Hoa. thường được ông nhắc đến trong thơ mình:
Đản nguyện ngô dân vô uổng khuất
Sầu minh bất đáo bán gian lư
( Chỉ mong dân ta không chịu cảnh oan khuất
Tiếng oán sầu không lọt đến nửa gian lều )
Khương Hữu Dụng dịch:
Chỉ mong dân chúng không oan uổng
Chẳng lọt gian lều tiếng oán than
Bài thơ này tiêu biểu hơn cả, có tên Bính Thân xuân ( 1776 ) khiển doãn tác lị man niết . Chú thích ghi : Năm 1776, Ninh Tốn làm Hiến sát xứ ở Sơn Nam, phát hiện các quan địa phương bịa ra việc công, để thu thêm thóc và thủy sán của dân, làm dân khổ sở kêu ca. Ông làm khải dâng lên triều đình để có lệnh cấm tệ nạn đó. Đây là bài thơ nói về nỗi cực khổ của dân do đám cường hào ở làng xã áp bức sách nhiếu, thể hiện tấm lòng thương dân của ông.
2 – Suối Giải Oan ở Yên Tử là giải nỗi oan của thiền sư Huyền Quang
Vài chục năm gần đây, nhà sử học hàng đầu quốc gia, bậc thầy của nhiều bậc thầy mà tôi từng rất kính trọng, là ông Hà Văn Tấn, cùng một nhà nghiên cứu nghiệp dư ở Quảng Ninh viết chung một cuốn sách về chùa Yên Tử, bịa ra chuyện trên 100 cung nữ theo vua Trần Nhân Tông về Yên Tử, khuyên vua trở về ngôi vua ở Thăng Long. Vua không nghe, TRÒN 100 cô đều đã nhảy xuống suối Hổ tự vẫn và số chết cũng tròn 100 cô ở đó. Do đó vua đổi tên suối Hổ thành suối Giải Oan và lập chùa Giải Oan để giải oan cho 100 cô đã chết đuối. Điều ấy, nếu có xảy ra phải xảy ra 6 năm trước, khi vua rời Thăng Long vào tu ở Vũ Lâm Ninh Bình. 6 năm sau, vua mới về Yên Tử, lúc đó đã tu khổ hạnh, mặc mùa lạnh, áo chỉ che nửa ngực, ăn ngày 1 bát cơm xin của dân, đi chân đất , đầu không mũ nón... Bảo Sái phải khuyên vua ăn uống nhiều hơn, kẻo chết mất. Đến lúc ấy, cần gì và làm gì có, hơn100 cung nữ phải về Yên Tử để thuyết phục vua về Thăng Long và TRÒN 100 cô nhảy xuống suối và chết cả 100 cô, vì vua không về.
Bài học này, cho thấy sự trung thành với lịch sử của Ninh Tốn, và tác dụng lớn, rất thiết thực với Quảng Ninh hiện nay và cả sau này. Vì uy tín của Giáo sư Hà quá lớn, các nhà chức năng nghe ông, và lấy đó làm cơ sở phát triển du lịch. Các cô còn sống, từ cô 101, trở ra, đều ở lại Yên Tử, vua lập làng Mụ, làng Nương cho các cô, bây giờ thành tên làng du lịch ở Yên Tử. Một doanh nghiệp xác nhận rằng, 100 cung nữ chôn ở đây, trên mộ đã mọc lên một loại sim, thẩm thấu cái máu thịt của 100 cô đã chết, mà thân cây sim, lá sim, hoa sim, quả sim, có vị đặc biệt, doanh nghiệp đã chiết xuất lại cái đặc biệt đó, làm 1 loại rượu riêng đặc sắc, bán cho du khách. Gần đây, số cô chết ở suối Giải Oan được công bố là tròn 300 cô rồi. Và theo thông báo của doanh nghiệp, cấp có thẩm quyền cấp 300 ha đất rừng để trồng loại sim đã mọc trên mộ 300 cô này, mỗi cô ứng với 1 ha, để từ đó sản xuất loại rượu đặc biệt bán cho du khách Việt Nam và thế giới. Hiện loại rượu đặc biệt này, tôi vẫn còn giữ 1 chai tại phòng viết của tôi ở Hồng Gai, để “ mách thì có chứng”.
Bài thơ Ninh Tốn viết sau năm vua Trần về tu ở Yên Tử khoảng 480 năm. Nếu có 1 sự kiện động trời, 100 cung nữ chết oan ở suối Hổ, thì Ninh Tốn đã đến đây, không thế không nói. Ông chỉ nói nỗi oan của một nhà sư là Đệ Tam tổ Huyền Quang. Ở Quảng Ninh đây là một vấn đề thời sư chưa bao giờ ngớt nóng. Bây giờ đọc thơ Ninh Tốn, chúng ta biết ngay, chuyện TRÒN 100 cung nữ chết đuối do tự vẫn mà giáo sư Hà ( và 1 cộng sự đồng thời là 1 học trò của ông ), cùng viết vào sách Sự tích chùa Yên Tử, vài chục năm nay, được người Quảng Ninh tin theo, là bịa đặt.
Xin hãy đọc thơ Ninh Tốn, nguyên văn:
LÁNH VỊNH GIẢI OAN TUYỀN
Nhất phái phương tuyền nhiễu phạn môn
Lưu tàn thiên cổ tự sàn viên
Tàng kinh hàn vũ du Yên Tử
Trùng bá anh quan trạc Trạng Nguyên
Tảy não, dịch trần: Như ý thủy
Hám thanh, thổ khiết: Mạc sầu nguyên
Hữu thủy, đạo tầm tư bình địa
Thiên hạ ưng vô bán điểm oan
( Một dòng suối thơm chảy quanh cửa Phật
Chảy tàn muôn thuở vẫn tự tràn trề
Đã từng hóa cánh lông như An Tử lên tiên
Hai lần mang đai mũ gột rửa cho Trạng Nguyên
Gột rửa bụi bặm và phiền não là dòng nước Như ý
Ngậm chứa sự trong sạch là nguồn suối Mạc sầu
Có ai dẫn nguồn suối ấy tưới thắm cho cả mặt đất bằng
Thì trong thiên hạ sẽ không còn một chút oan uổng nào )
Hai câu cuối trong bài thơ trên, làm tôi nhớ đến câu ca dao rất quen thuộc ở quê hương tôi: “Cho dù cạn nước Bình Than / Vẫn không rửa sạch tiếng oan cho Thầy”.
Về vụ việc này, trong bài thơ về chùa Hoa Yên, Yên Tử, Ninh Tốn còn có câu, ở đây “chim núi vẫn còn kêu ran ( về sự bịa đặt) của nàng Điểm Bích”. Ông viết tiếp 2 bài thơ. Một về nàng Điểm Bích ( Vãn Bích nương – Thương tiếc nàng Bích ) và 2 - bài về sư Huyền Quang ( Ức Huyền Quang – Nhớ nhà sư Huyền Quang). Cả hai bài này, cho chúng ta một số thông tin ( đã ghi chú ở dưới bài ): Vua sai cung nữ Điểm Bích lên Yên Tử để thử Huyền Quang. Không khuất phục được nhà sư, nàng bịa ra việc hoạn nạn của cha nàng và xin Huyền Quang một chỉ vàng để lo liệu. Bích cầm chỉ vàng đó về nộp cho vua và nói nhà sư đã tặng mình ( sau một đêm chung chạ ). Sau vua biết mình nghe nàng mà nghi oan cho nhà sư. Đến đây thì nhiều người đã biết, tôi không nói thêm. Tôi chỉ nói thêm điều này: Qua thơ Ninh Tồn mới biết một nét mới: Sau khi vụ việc được tra xét, Điểm Bích đã nhận tội và bị trị tội. Không rõ trị như thế nào ? Sau đó nàng đã chết. Cũng ko biết chết bằng cách nào. Có thể là tự tử chăng ? Ninh Tốn có bài Tiếc thương nàng. Chưa kể tấm lòng thương cảm của ông cho số phận cô cung nữ, câu thơ “Ngàn năm còn làm xấu hổ cho hồn người son phấn” là rất sâu sắc và chí tình.
Bài thơ Ninh Tốn viết về nỗi oan của thiền sư Huyền Quang hàm chứa trong nội dung suối Giải Oan ở Yên Tử. Và chỉ có thế. Không có gì khác. Dủ chỉ 1 cô cung nữ đã gieo mình xuống đây, cũng không hề có, nói chi đến tròn 100 cô.Tôi tin vào phẩm chất trung thực nhà nho và trí tuệ cao sâu của Ninh Tốn, nên không cần phải nói gì thêm.
3 – Cái nhìn đầy cảm thông với chuyến dong du 8 tháng trời trên biển của Trần Khắc Chung và công chúa Huyền Trân
Việc vua Trần gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm, 1 năm sau, vua Chiêm chết, hoàng hậu phải thiêu để chết theo, vua Trần thương con, cử Trần Khắc Chung vào viếng vua Chiêm, rồi tìm cách đưa nàng về. Đi từ tháng 10 năm 1307 đến tháng 8 năm 1308 mới về. Khắc Chung đã lợi dụng việc đó, chu du vui vầy với nàng, nhiều người đã biết. Và từ đó cho đến nhiều đời sau, tiếng chê Khắc Chung, lời xem thường công chúa, nhiều người cũng đã biết rồi. Tôi không nói thêm. Đọc thơ Ninh Tốn, tôi chú ý đến chùm thơ của ông viết về sự kiện này, để hiểu ông thêm ở cái góc mà ít người nghĩ tới. Tính ra cũng đã sau khoảng 460 năm, Ninh Tốn vẫn quan tâm đến vụ việc này. Ông làm chùm thơ 3 bài Khắc Chung gửi cho Huyền Trân và 3 bài Huyền Trân đáp lại, cũng là một sáng tạo độc đáo, trước sau chưa ai làm. Vẫn là lời của Ninh Tốn cả thôi, nhưng theo cách đó, bài thơ sinh động, uyển chuyển, có nhiều đất đai để khai phá, bầy tỏ nỗi lòng. Thì ra ( theo Ninh Tốn) hai người không có tình yêu từ trước như nhiều người đã nói. Khắc Chung kể cái công lao to lớn mình đã cứu nàng và “ Rong ruổi để có cái may mắn được chia niềm vui thừa” . Nàng đáp lại rằng: “ Chớ có bảo công lao khó nhọc không ai biết tới / Soi xét xưa nay ( công lao ấy) như như mặt trời mặt trăng” . Ở bài thơ thứ hai, nàng đáp : “ Nước ( biển) cũng còn biết xâu hổ nên mặt đỏ hồng // Nhìn trời có lúc lại oán xứ Hà Đông ( Nguyên văn : “Chiêm thiêm thời phục oán Hà Đông” - Trần Thị Băng Thanh dịch “Trông trời lại oán kẻ Hà Đông” - nhắc đến cái ghen ghê gớm của người đàn bà, không biết ý Ninh Tốn nói gì? Chả nhẽ lại nghĩ đến cái ghen của “sư tử Hà Đông” là vợ Khắc Chung chăng ? ). Bài thứ 3, Khắc Chung nói với nàng : “ May được phen này gần cận bên nhau / Dịp này không thành thì mỗi người một ngả / Tình dào dạt khó ngăn can tràng bộc lộ / Lượng lớn riêng mong thu nạp như biển kia”. Nàng đáp lại: “ Qua câu chuyện, nghe thấy sự trong trắng trong lòng chàng / Không phải bổn phận mình ( mà ) khiến mình đỏ mặt // Thói đời thường ngờ vực như con đường có thể ra Bắc hay vào Nam / Chàng Lưu khi đã đến Thiên Thai rồi / Có còn giữ được tấm lòng sắt đá ban đầu nưã chăng ?”
Đến Thiên Thai là đến cái tột đỉnh cuả hạnh phúc. Lời gửi và lời đáp của Chàng và của Nàng đều đẹp, chan chứa tình cảm, dào dạt mà vẫn cao sang trân quí. Nghĩ ra cái cách gửi đáp như thế, và viết với lời lẽ đằm thắm mà vẫn tỉnh thức như thế, Ninh Tốn thực sự là một nhà thơ của tình yêu, vượt qua các nghịch cảnh và sự cheo leo của các mối quan hệ, lời thơ cảm thông đến tận cùng, cho thấy một quan điểm về tình yêu và người phụ nữ, của ông, cao đẹp hiếm có, rất nhân ái và cũng rất tiến bộ.
Thơ Ninh Tốn có nhiều điều để học, để nói. Tôi mới chỉ nêu được vài cảm nhận bạn đầu. Vẫn thấy ông như một trái núi lớn, mình mới dạo quanh được mấy bước . Đằng sau những câu thơ có khi thưa thoáng, vẫn hé thấy những vỉa chìm khuất của một tài năng nghệ thuật cao cường, hiện dần lên một nhà nho uyên thâm, một vị quan trường tiến thoài rất tài nghệ. Hi vọng trong một tương lại gần, chúng ta sẽ hiểu biết nhiều hơn về ông và những đóng góp lớn lao của ông cho đất nước, sẽ được ghi nhận đúng với những giá trị mà ông đã có.
(*) Bài thơ như sau: Vân Lỗi sơn
( Núi Vân Lỗi – bản dịch của Khương Hữu Dụng )
