Việt Văn Mới
Việt Văn Mới



THƯ NGỎ GỬI ÔNG ĐINH LĂNG,
(Tiến sĩ TRẦN LĂNG, Hiệu trưởng trường Đại học Phú Yên )



        Thưa ông,

    Tôi vừa đọc bài “ Giáo dục – Quốc sách đột phá để phát triền” của ông trên Vanvn cập nhật ngày 1 /12/ 2025, từ báo Đắc Lắc đã đăng trước đó. Tôi rất hoan nghênh những ý kiến của ông. Nhưng tôi thấy vẫn phải thưa lại với ông một điều, rằng: Câu nói ông ghi là của Chu An: “ Ta chưa từng nghe nước nào coi nhẹ sự học mà khá lên đươc ”, là lời của một nhà viết kịch đặt vào mồm một diễn viên sân khấu đóng vai nhân vật Chu An , trong một vở kịch dài đấy, ông ạ, không phải lời ông Chu An thật đâu, ông ơi. Có nhiều người nhầm như ông, chứng tỏ vở kịch của ông bạn tôi đã thành công.Tác giả kịch bản là nhà viết kịch rất nổi tiếng, bạn học trên tôi 1 lớp và cùng quê với tôi ( cũng cùng quê với quê hương thứ 2 của ông Chu An, nơi ông đã để lạị phần mộ của mình ).
     Ngay danh xưng “ Vạn thế sư biểu - Người Thầy của muôn đời ” cũng là ý tưởng rất lớn lao và tốt đẹp, của một người bạn khác, rất tin yêu của tôi . Ông đã có công lớn ( cùng nhiều người ) lo toan xây mới ngôi đền thờ Chu An ( khoảng 20 - 25 năm trước) ở Chí Linh Hải Dương - nay thuộc Hải Phòng. Với tầm văn hoá và tâm huyết sôi nổi, ông đã sáng tác bài Văn tể Chu An rất hay và ông trực tiếp đọc rất sang trọng, tôn kính và cảm động, trong không khí linh thiêng của Lễ khai trương ngôi đền thờ Chu An của quê hương tôi, và điều đó góp phần làm cho danh xưng này do ông nêu ra, được nhiều người thừa nhận. Tôi đã có bài viết riêng về ông: “ Người rất tâm huyết và có công lao trong việc lo toan khôi phục các giá trị văn hóa và lịch sử quốc gia của xứ Đông”. Bài cũng đã đăng nhiều báo, tạp chí và in sách, trong đó có tập sách giành riêng cho cá nhân ông.
     Nhân dịp này, tôi gửi tặng ông Tiến Sĩ ( và bạn đọc ) bài tôi đã viết về CHU AN từ khoảng 20 năm trước ấy : CHU AN – MỘT NGƯỜI NHƯ THẾ MÀ NHƯ THẾ, để ông ( và bạn đọc) tham khảo . Vì lúc viết bài này, không xin phép được tác giả, nên tôi không ghi tên ông, do đó bây giờ , tôi vẫn để nguyên như thế. Hiện ông sống rất vui khỏe ở Hà Nội. Bài viết của tôi đã đăng nhiều báo, cả trong và ngoài nước, đã in sách, sách đã được giải thưởng và đang tái bản lần thứ 3.
     Tôi hi vọng tờ báo thân yêu của chúng tôi sẽ đăng bài tôi như đã đăng bài ông.
    Tôi xin cảm ơn nhà thơ TBT Phan Hoàng và BBT Vanvn.

     TRẦN NHUẬN MINH


CHU AN – MỘT NGƯỜI NHƯ THẾ MÀ NHƯ THẾ

N ói ra điều này có vẻ lẩn thẩn nhưng nghĩ đi nghĩ lại không thể không nói. Đó là danh nhân văn hoá Chu An ( 1292 – 1370) thời Trần, Tư nghiệp Quốc Tử giám Thăng Long, mà trong danh mục in sách tư liệu khoa học ở Văn Miếu Quốc Tử giám, ghi rõ chức vụ là Hiệu phó trường Quốc Tử giám ( như Trường Đại học đầu tiên của Việt Nam), dâng sớ xin vua chém 7 tên gian thần đang nịnh hót bên cạnh vua và làm nhiều điều phản nhân nghĩa ở trong triều. Vua Dụ Tông và thượng hoàng Minh Tông nhà Trần không nghe. Ông bèn bỏ kinh thành Thăng Long về núi Phượng Hoàng ở ẩn, theo quan niệm “ xuất xử hành tàng” của nhà Nho, nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, kiếm sống bằng nghề dạy học và bốc thuốc Nam. Ông lấy tên hiệu ( mới) là Tiều Ẩn ( người ở ẩn làm nghề tiều phu – kiếm củi ). Sau khi mất, ông được phối thờ ở Văn Miếu. Ông là Tiến sĩ, chắc ông không lạ gì việc này.

Cái mà muôn đời sau tôn vinh ở ông, là phẩm chất tiết tháo của một bậc Đại Nho, trung thực và dũng cảm, dám đương đầu “một mất một còn” với một tập thể (7 tên) phản dân hại nước đang nịnh hót ở bên cạnh vua và được vua rất sủng ái. Tờ tấu trình dâng vua ấy, đời sau gọi là “Thất trảm sớ”, rất tiếc, thời ấy sử quan đã không ghi, nên nay cũng không còn thấy ở đâu, 7 tên thì chúng là những ai, giữ chức vụ gì trong triều đình, có những tội gì? Bản Thất trảm sớ không còn, nhưng tinh thần cảnh báo mãnh liệt của nó, và khí phách cao cả hiếm có của người sản sinh ra nó, thì còn lại đến muôn đời sau, và ở đời nào, cũng có tính thời sự, với nhiều ý nghĩa sâu sắc.

Lịch sử hưng phế của mọi quốc gia đều chỉ ra rằng: bất cứ quốc gia nào, giành được chính quyền bằng bạo lực, mà sau đó, văn hóa thì suy đồi, kẻ sĩ thì thấp hèn, những người có tiết tháo như Chu An thì quay lưng lại, quan lại thì tham nhũng, sa đọa và tàn ác, nhà vua thì không thấy cần phải nghe ai, quốc gia đó, nhất định sớm hay muôn, sẽ tự sụp đổ. Cho nên, nước mất là tại quan trên và nước loạn cũng thường là từ trên xuống.

Đấy cũng là những năm mà nhà Trần đã bắt đầu bước vào giai đoạn suy tàn. Vua thì ngu tối. Quan thì tham nhũng và tàn ác. Dân thì oan khuất và đói khổ, mà không biết kêu ai. Và Thất trảm sớ là cái chết của một nhà nước đã được báo trước.

Oái oăm thay, một người suốt đời bảo vệ cái đúng mà khi chết, ngay chính tên mình lại bị viết sai, in sai, sai lâu đến mức thành quen: tên đường phố, tên trường, tên công viên, tên làng xã, đặc biệt tên ghi trên Lăng mộ chôn mình và tên ghi trong Đền thờ thờ mình, cũng ghi sai tên mình (cả hai công trình Lăng mộ và Đền thờ đều xây lại trong những năm gần đây tại Hải Dương). Ông không phải là CHU VĂN AN (thực ra, cũng không có ai trong số những người nổi tiếng có tên là Chu Văn An cả). Ông là CHU AN, mất năm 1370. Sau khi mất, ông mới được vua Trần Nghệ Tông truy tặng VĂN TRINH Công, với nghĩa là một ông trung trinh ( có tiết tháo) cao cả. (Tôi nghĩ, đây là MỸ TỰ vua ban để thờ, không phải tước Công trong hệ thống tước: Công , Hầu, Bá, Tử Nam – trong đó tước Công - Quận Công - chỉ dành cho các tướng lĩnh). Như vậy, đương thời ông không biết mình có tên là Văn Trinh. Vì thế, ghi tên ông: CHU AN là đúng, hoặc CHU VĂN TRINH (ghi theo mỹ tự được tặng sau khi đã chết) cũng được, nhưng ghi là Chu Văn An là sai; cũng như Trần Quốc Tuấn là tên, Hưng Đạo Vương là tước, ghi Trần Quốc Tuấn hoặc Trần Hưng Đạo đều đúng, nhưng ghi TRẦN HƯNG TUẤN là sai. Ghi CHU VĂN AN cũng tương tự như ghi TRẦN HƯNG TUẤN vậy. Giả sử bất cứ một người nào có tên thực như thế mà viết như thế, liệu công an của ta hiện nay có ghi vào sổ hộ khẩu hay cấp chứng minh thư cho không?

Và tên xã đặt theo tên ông lại gọi là xã Văn An (huyện Chí Linh, Hải Dương). Cái tên này cũng không phải tên ông. Nhà thơ Xuân Diệu có lần đọc báo thấy ghi tên xã ở huyện Kinh Môn, Hải Dương, mang tên nhà thơ Phạm Sư Mệnh là Phạm Mệnh, ông đặt tờ báo xuống và nói, giọng rất bực dọc, lúc đó có tôi ngồi đấy: “ Họ tên của người ta, sao lại tự ý cắt cụt đi như thế. Đặt tên thế này là phạm vào mệnh lệnh”.

Điều mà tôi dẫn giải sau đây là tôi nghe được từ nhà văn Tô Hoài, người đã chấm giải nhất và trực tiếp trao giải nhất Văn học thiếu nhi năm Quốc tế Thiếu nhi 1979 cho tôi, với tập truyện vừa Trước mùa mưa bão, tại Hà Nội, năm 1980. Trong cuốn Chiều chiều, ông có viết về tôi vài dòng, rằng ông gặp tôi ở ký túc xá Trường Viết văn Gorki (tên đầy đủ là Học viện Văn học thế giới Maksim Gorki.) Tôi thường tháp tùng ông (thực ra là ăn theo) khi ông đi nói chuyện với người Việt ở Nga, về sáng tác của ông và một số nhà văn bạn ông, như Nam Cao, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Bính... với giọng vui vẻ, rất giản dị và hài hước. Còn ông viết tôi sang Liên Xô để chơi với Trần Đăng Khoa thì không phải. Lúc bấy giờ, làm sao một người như tôi ở mãi tận Quảng Ninh lại sang Liên Xô để mà chơi được. Tôi đi công vụ trong đoàn của Hội Nhà văn Việt Nam, gồm ba người, theo lời mời của Hội Nhà văn Liên Xô. Sau khi hết thờì gian công tác, tôi xin phép Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Nhà văn Liên Xô, cả 2 đều đồng ý cho tôi được ở lại thêm non hai tháng nữa, để đi sáng tác, được nhà văn Marian Tkachev, Trưởng ban Văn học Đông Dương của Hội Nhà văn Liên Xô, cho tá túc tại đó, cùng với Tô Hoài và Nguyễn Duy. Nhà văn Tô Hoài lúc đó đã thôi các chức vụ của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông đi thăm con ở Đông Đức về, còn nhà thơ Nguyễn Duy thì sang dự Hội thơ A. Pushkin ở Leningrad. Nói Nguyễn Duy ở đấy, nhưng Duy chỉ thỉnh thoảng đến đấy chơi, còn tôi, nói ở đấy, nhưng tôi ở luôn phòng của Trần Đăng Khoa, cũng gần đó, để Tô Hoài ở phòng khách một mình cho tiện.

Phải nói Tô Hoài là một kho tư liệu vô cùng quí hiếm về thủ đô Hà Nội. Ông hỏi tôi có biết ai có công đầu đặt tên các đường phố ở Hà Nội không? Tôi thưa là không biết. Và ông kể. Theo ông, người đó là bác sĩ Trần Văn Lai. Ông Lai là người thân Nhật. Sau khi đảo chính Pháp, Nhật đưa ông lên làm Thị trưởng Hà Nội. Trong thời gian rất ngắn cầm quyền (từ tháng 3 đến tháng 8/ 1945) ông đã làm được một việc rất có ý nghĩa là đổi lại tên cho nhiều tên phố ở Hà Nội, những phố trước kia mang tên người Pháp, nay mang tên các anh hùng và nhà văn hóa người Việt. Ông chỉ để lại duy nhất một phố mang tên người Pháp, là phố Y-éc-sanh, tên một bác sĩ trong quân đội Pháp, nhưng có công chữa bệnh cứu người. Bác sĩ Lai là một trí thức yêu nước, am tường lịch sử chống ngoại xâm, nên nhiều tên đường phố Hà Nội mang tên các vị anh hùng dân tộc, từ thời ông, còn được giữ đến bây giờ, nhưng hiểu biết về các nhà văn hoá thì ông bác sĩ này còn hạn chế, nên thường đặt tên ở những phố nhỏ, ngắn, hẹp, nhiều trường hơp là ở những phố còn hẻo lánh, ít người ở hay qua lại. Chính ông đã sai khi viết (hoặc cho viết) chính thức: Chu An là Chu Văn An. Có thể trước đó, cũng đã có người quen miệng mà nói như vậy rồi, có thể cũng đã có người đã viết ở đâu đó rồi. Nhưng tên phố CHU VĂN AN ở Hà Nội bây giờ thì có CHÍNH THỨC từ ông, rồi sau đó các nơi khác, người khác, cứ thế mà viết theo, nói theo. Vì từ ông, tên đó đã có tính pháp qui. Tuy nhiên, cho đến bây giờ, những sách khoa học, hàn lâm, đều chỉ chi tên ông là CHU AN.

Tôi tin là nhà văn Tô Hoài đã nói đúng, Vậy thì cái sai này không biết đến bao giờ mới sửa được đây?

Gần đây, tại nhà thờ danh nhân văn hóa Chu An (mà đề là Chu Văn An) tại Chí Linh, Hải Dương, có dòng chữ lớn màu vàng trên nền đỏ để thờ: “Ta chưa từng thấy nước nào coi nhẹ sự học mà khá lên được”, dưới đề CHU VĂN AN, như một câu danh ngôn “Hiền tài là nguyên khí quốc gia…” của Thân Nhân Trung vậy. Ai cũng ngạc nhiên vì chưa từng thấy Chu An nói thế, viết thế bao giờ. Sau hỏi ra mới biết đó là lời thoại trên sân khấu của nhân vật Chu An trong một vở kịch mới viết cũng khoảng hai mươi năm trở lại đây. Vậy đó là lời của nhà viết kịch hôm nay đấy chứ. Sao lại gán cho Chu An, một nhà nho vô cùng nghiêm khắc, từng dâng sớ xin chém 7 tên gian thần có quyền thế đương thời, để mà thờ được?

( GHI THÊM: Sau khi bài tôi đăng báo, dòng chữ thờ này đã chính thức dỡ bỏ )

Nên nhớ:

Trong “Đại Việt sử kí toàn thư” ( 1497), ghi lời của Danh sĩ Phan Phu Tiên, nguyên văn như sau: “ Nghệ Tông cho Chu An, Trương Hán Siêu dự vào đó ( phối thờ ở Văn Miếu) thì Hán Siêu là người cứng cỏi, bài xích đạo Phật, còn An thì sửa mình trong sạch, giữ bền khí tiết, không cần hiển đạt”.

Đó là sự nhận chân và xác quyết vô cùng chuẩn mực và cao sang, không ai hơn, cuả một bậc đại trí. Như vậy, Chu An được phối thờ vì sự tiết tháo “ sửa mình trong sạch, giữ bền khí tiết không cần hiển đạt”. Đấy mới là tấm gương sáng treo giữa trời đất cho muôn đời sau của Danh sĩ Chu An. Nên nhớ khi Chu An mất, vua Nghệ Tông ban cho tên thụy để thờ là Khanh tiết ( một vị làm quan trong sạch, có tiết tháo - chỉ có thế thôi. )

Chúng ta bây giờ thờ ông là “ Vạn thế sư biểu – Người Thầy của muôn đời” liệu có đúng không ? với một người được thờ vì “ không cần hiển đạt”. Ông là Hiệu phó trường Đại học, một thời gian ngắn, rồi treo mũ từ quan, về ở ẩn trong rừng núi Chí Linh, mở trường tư dạy một số con em ở làng rừng. Không có sách nào đương thời hay sau ông vài ba trăm năm, ghi học trò của ông, có một người nào đỗ đạt ( như sau này, ta ghi vài ba người, trước đây sách sử ghi là học trò của Trần Ích Tắc). Nếu Chu An biết điều đó, liệu ông có vui không ?

Lại nữa, “Vạn thế sư biểu” là danh xưng tôn kính, người Trung Hoa giành cho ông Không Tử của họ. Nay ta mượn cái tên ấy trao cho Chu An. Nếu Chu An cũng biết thêm điều ấy nữa, liệu một người trung thực và nghiêm khắc như Chu An, ông có bằng lòng nhận danh xưng vay mượn ấy không ?

Trong trường hợp ở một người trung thực và tiết tháo đến như Chu An, suốt đời bảo vệ cái đúng, mà đến lúc chết, cái tên mình được thờ cũng sai, cái bia trên mộ chí của mình cũng sai, đến cái danh xưng và câu nói để người ta nhớ đến mình, không những đã sai, mà lại còn “ đạo” nguyên xi của người khác, một “đồ giả” hoàn toàn. Trong đời sống văn hóa và tinh thần của con người, chứ chưa nói đến danh nhân, nhân thần hay thần linh, cái giả để thờ này, khủng khiếp và có hại hơn bất cứ một cái giả nào khác. Trước hết là có hại cho chính Danh sĩ Chu An.

Chao ôi! Một người như thế mà như thế, mới hay tạo hóa đã đùa cợt danh nhân dai dẳng là như thế nào.

Và điều này quả thực là rất lạ lùng và rất xót xa.

Vô cùng trớ trêu và rất oan nghiệt.

GHI THÊM

CHU AN

( tư liệu TRƯƠNG THIẾU HUYỀN cung cấp 4/12/2025 )

Đại Việt sử ký toàn thư Chính sử nhà Lê (biên soạn thế kỷ 15 trở đi) được coi là nguồn chính

Ghi: “Quốc tử giám Tư nghiệp Chu An” khi nhắc thời sinh-kì & sự nghiệp; sau khi mất: được truy tặng “tước Văn Trinh Công”.

( vnclsvn.org+2Báo Đại biểu Nhân dân+2 )

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục

( Sử biên soạn triều Nguyễn - thế kỷ 19)

Vẫn dùng “Chu An” khi nói đến đời sống, học vấn,sự nghiệp của ông.

( vnclsvn.org+1)

Các bài viết / tiểu sử hiện đại về ông (giáo dục, văn hóa)

ví dụ “Chu Văn An – Người thầy của muôn đời”

Tác phẩm/giới thiệu hiện đại

Gọi: “Chu Văn An”, ghi tên thật “Chu An”, tên chữ/hiệu/thuỵ: “tên chữ Linh Triệt, hiệu Tiều Ẩn, thụy Văn Trinh”

( nguoikesu.com+3Thcs Lien Ninh+3Báo Đại biểu Nhân dân+3 )

Bi ký, bia đá thời Nguyễn ở các đền, miếu thờ ông (đền, miếu, thần tích)

Di tích/ khắc văn cổ

Trên bia cổ — ví dụ tại đền ông ở Chí Linh (Hải Dương) — khắc rõ “tiên sinh họ Chu, tên húy là An”.

(baohaiphong.vn+1)   -/.




VVM.04.12.2025.

| UNIVERSELLE LITERATUR | UNIVERSAL LITERATURE | LITERATURA UNIVERSAL | LETTERATURA UNIVERSALE | УНИВЕРСАЛЬНАЯ ЛИТЕРАТУРА |
. newvietart@gmail.com - vietvanmoinewvietart007@gmail.com .