Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
      


MÙA THU NĂM XƯA



P aris vào thu, tiết trời hôm đó thật ấm, những chiếc lá vàng, xanh, đỏ rơi rơi trong nắng chiều như những giải lụa màu bay trong khoảng không gian xanh biếc. Cảnh sắc đẹp như tranh nhưng tâm hồn tôi lại cảm thấy se se lạnh, phải chăng vì nỗi buồn tha hương! Nhìn chiếc lá vàng bay trong nắng tôi bỗng chạnh lòng: «Nếu gió đừng làm cành xao xác lá, và nắng chiều cứ lẫn trong sương mù thì mùa thu Paris chẳng còn thơ mộng, đường phố sẽ thiếu những cánh bướm vàng rơi lóng lánh».

Hôm ấy tôi có hẹn với mấy người bạn nghệ sĩ mà tuổi đời của họ đã cao, đó là Nhạc sĩ Xuân Lôi, Nhà thơ nữ Hoàng Minh Tâm, và Nhà thơ Thanh Tuệ Trương Phú, người chủ trương nhà xuất bản An Tiêm. Chúng tôi hẹn nhau để trao đổi văn học nghệ thuật. Những tâm hồn đồng điệu gặp nhau nơi xứ người quả là niềm vui hạnh ngộ. Họ trao cho tôi hai tập bản thảo thơ của Xuân Lôi và Hoàng Minh Tâm để nhờ tôi viết lời giới thiệu, còn việc thực hiện in sách sẽ do nhà thơ Thanh Tuệ Trương Phú chăm sóc. Tôi thật bối rối! Vì đây là việc làm rất khó khăn và tế nhị nên tôi đã từ chối, nhưng hai vị Xuân Lôi và Minh Tâm lại muốn tôi ghi ít dòng cảm nghĩ làm kỷ niệm như một khúc nhạc dạo về một đoạn đời của lớp người tha hương. Tôi yêu thơ nên rất trân trọng tác giả ; và cũng ngại mình sơ sót sẽ làm hỏng đi sự kỳ vọng của hai vị nghệ sĩ lão thành. Vì không thể từ chối được nên tôi đã trải lòng mình hòa nhịp cùng hồn thơ tác giả để lắng nghe tiếng lòng, trong đó có niềm vui lẫn tiếng thở dài của tác giả đã gởi gấm trong hồn thơ được diễn tả  qua tứ thơ, con chữ. Tôi không chú ý đến hình thức cấu trức thơ vì tôi thích những dòng cảm xúc tự nhiên xuất từ đáy lòng thành một hứ ngôn ngữ riêng; rất chân phương nhưng đượm thắm tình người. Tôi vẫn ví hồn thơ như giọt sương mai mong manh trong nắng, dù đơn sơ nhưng vẫn long lanh trong nắng hồng tỏa ra muôn sắc. Rồi độ nắng sẽ lên, trong khoảng khắc giọt sương mai ấy sẽ vỡ thành muôn mảnh và mang theo muôn sắc rực rỡ của mặt trời về một cõi mơ nào đó.

Những nếp gấp hằn trên khuôn mặt hai vị Xuân Lôi và Hoàng Minh Tâm trông như những vết nứt của cánh đồng mùa hạn hán, đây là vết thời gian, dấu nhăn của thế kỷ! Ẩn trong vòm sâu hốc mắt của họ tôi đã thấy những tia mắt yếu đuối nhưng ánh vẫn đầy thiết tha, tôi thiển nghĩ: “Hai vị thi nhân tuy tuổi hạc nhưng vẫn đắm say với thi phú, nghệ thuật; Tâm hồn hòa theo tiếng nhạc lời thơ để hồn phiêu bồng tiêu dao trong cõi thơ nhạc nên rất đáng trân qúy.” Một ý nghĩ chợt lóe trong đầu, vì tôi đã cảm được nỗi niềm của tác giả hiện trên nắt, nên tôi đặt tên ngay cho thi tập là «Hạc Vàng Trong Nắng Chiều».Tôi đã mượn một chút Đường thi trong Hoàng Hạc Lâu của danh sĩ Thôi Hộ đời Đường bên Trung Hoa mà thi sĩ Tản Đà đã chuyển dịch một cách tài tình:

« Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.»
Thôi Hộ

« Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho vừa lòng ai.»
TảnĐà

Trong những bài thơ của Xuân Lôi hay Hoàng Minh Tâm dù chẳng có chút gì ảnh hưởng gì của Đường Thi, nhưng tôi lại mượn chút hương của người xưa làm tựa thi phẩm. Chữ“Hạc Vàng” là một loài chim tượng trưng cho sự thanh cao, tâm hồn yêu nghệ thuật của hai vị thi nhân này luôn hướng về chân thiện mỹ nên được mang ý nghĩa đó, còn ý nghĩa của “Nắng Chiều” tôi lấy từ hình ảnh vạt nắng sắp tàn sau một ngày, ở đây nó còn ẩn chứa cái xót lại của tuổi đời, nhất là đối với những tâm hồn nghệ sĩ lúc tuổi xế chiều đã trải qua bao trăn trở, thăng trầm của kiếp người. Nắng chiều ở đây còn có chút gì phảng phất màu nắng quê nhà. Tôi mang những hình ảnh, nỗi niềm đó vào trong thi ca làm tựa cho thi tập là mong muốn tìm lại chút nắng ấm quê nhà để sưởi lòng những người lữ thứ khi đọc thi tập nhớ về cố quốc.

Nói đến Xuân Lôi tôi muốn nói đến con ngưòi nhạc sĩ đa tài, và vài nét sinh hoạt của ông ở hải ngoại. Về tài năng và thân thế đã có nhiều người viết.

Phạm Xuân Lôi sinh ngày 21 tháng 10 năm 1917 tại Hà Nội. Ông sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống âm nhạc.Thân phụ ông là nhạc sĩ rất giỏi nhạc, đã từng sáng chế ra mấy kiểu đàn gõ, và dạy các anh em ông chơi nhạc trung Hoa. Các anh em ông còn được một ban nhạc nổi tiếng Trung Hoa sang Việt Nam trình diễn nhạc, sau đó truyền dạy. Mới lên 6 tuổi ông đã trình diễn nhạc cùng với các nhạc sĩ nhà nghề ở nhà Khai Trí Tiến Đức: Trung tâm Văn Hóa Hà Nội, được khán giả xem rất đông, và được nhiều khen thưởng. Ông có 6 người anh em trai: Phạm Xuân Thư, Phạm Xuân Oai, Phạm Xuân Lôi, Phạm Xuân Tiên, Phạm Xuân Khuê, Phạm Xuân Tuấn. Anh cả Phạm Xuân Thư của ông theo học Âm nhạc Tây phương về lý thuyết âm nhạc và kèn clarinette tại trường nhạc Conservatoire Hà Nội, cùng với Nguyễn Văn Diệp violon, Nguyễn Xuân Khoát violon-celle vaàcontrebasse, Paul Lành violon, Joachim Gontran Cung violon. Nhạc sĩ Xuân Lôi được học lý thuyết âm nhạc Tây phương và kèn clarinette do người anh cả Phạm Xuân Thư truyền dạy. Sau đó ông theo học nhạc Cổ truyền với GS Nguyễn Hữu Ba, một nhạc sĩ chuyên nghiệp bài bản Huế. Tác giả ca khúc Quãng Đường Mai, là sáng tác đầu tiên ở Huế năm 1939.

Viện Âm Nhạc Đông Dương Hà Nội:

Được người Pháp thành lập từ năm 1927 đến 1930: Chuyên dạy các bộ môn: Lý thuyết âm nhạc, piano, violon, clarinette, contrebasse.

Những nhạc sĩ đã tốt nghiệp: Nguyễn Xuân khoát, Phạm Xuân Thư, Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Lê Thương…

Những Ca Khúc Nổi Tiếng:

Những nhạc phẩm của nhạc sĩ Xuân Lôi    và của người em trai kế ông là nhạc sĩ Xuân Tiên rất được phổ biến, lần đầu tiên tôi nghe nhạc Xuân Lôi vào đầu thập niên 60: “Tiếng Hát Quê Hương,” “Bài Hát Của Người Tự Do”. Hai bản nhạc này đều được giải thưởng Quốc gia, riêng bài Tiếng Hát Quê Hương:“Có cô gái miền quê hát bài ca, giữa hoa lá xanh tươi bên làn gió thôn xóm nhà, khi nắng tà..”

Bài hát được giải thưởng nên thịnh hành, được phổ biến trên các đài phát thanh hát hàng ngày do đó có rất nhiều người biết và thuộc. Trẻ em thời đó cải biến lời thành một bản đồng dao để hát rong ở ngoài đường, lời ca bị cải biến. Nhưng không riêng gì nhạc của Xuân Lôi bị biến thành bài đồng dao mà còn nhiều nhạc phẩm khác trong đó có những bản có giai điệu nhẹ, trữ tình cũng bị cải biến. Có lẽ dân tộc ta triền miên trong chiến tranh vì đã trải qua quá nhiều đau thương, do đó, âm nhạc thiếu tính hài hước vui nhộn nên trẻ em đổi chút ca từ để tạo nụ cười thoái mái, làm phong phú nhạc dân gian?

Nhạc sĩ Xuân Lôi sáng tác không nhiều nhạc, nhưng mỗi bài đều có cái hay riêng. Có lẽ bài Nhạt Nắng ông viết chung với nhạc sĩ Y Vân vào 02. 05. 1955 là được công chúng yêu thích và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bài ca diễn tả về chiều quê miền Bắc, nhưng hình ảnh trong lời ca có thể thấy ở khắp nơi trên quê hương của một chiều quê Việt Nam. Ca từ của nhạc phẩm là ngôn ngữ chân phương, đượm chất thơ nên chứa nhiều hình ảnh đẹp tạo thành một bức tranh quê sống động. Nhạc phẩm viết ở cung Rê thứ, nhịp 4/4, hành âm rất chậm, diễn tả điệu giai điệu buồn ray rứt. Bản nhạt Nắng được nhiều ca sĩ trình bày dù trước năm 1975 ở miền Nam, hay sau này ở hải ngoại đều thành công. Nhưng có lẽ chỉ có nữ danh ca Thanh Thúy trình bày trước năm 75 là tuyệt vời, vì ca khúc được sự hòa âm&phối khí rất tài tình của các nhạc sĩ, nhất là những nhạc sĩ đó đều sống trên quê hương nên khi chơi nhạc đã diễn tả hồn của bản nhạc một cách tuyệt vời mà giũ được tính Dân nhạc qua bản hể ngũ cung Việt Nam. Ca khúc còn hợp với chất giọng liêu trai của nữ danh ca Thanh Thúy đã đưa người nghe vào một cõi buồn man mác, lâng lâng chan chứa tình quê, nỗi nhớ nhà.

Con Người Nhạc Sĩ:

Một buổi đẹp trời ở Paris, tôi gặp tác giả bài Nhạt Nắng vì ông là khách mời trong một buổi sinh hoạt văn hóa do chúng tôi tổ chức. GS, bác sĩ Trần Văn Bảng tức nhà thơ Bằng Vân đã giới thiêu tôi với ông. Kể từ đó nhạc sĩ gia nhập trong Câu Lạc Bộ Văn Hóa VN Paris và thân với tôi cho đến ngày ông từ giã cõi đời. Vào mùa thu năm 1995 nhiều anh chị em văn nghệ sĩ ở Paris cùng nhau đứng ra đã tổ chức cho nhạc sĩ một buổi văn nghệ chủ đề, và ra mắt tập nhạc “Tiếng Hát Quê hương” của ông. Để thực hiện một  chương trình đặc sắc, vào những ngày cuối tuần, chúng tôi đã lần lượt đến họp mặt và tập dượt, thời gian từ lúc chuẩn bị đến ngày trình diễn hơn 6 tháng. Ngày ra mắt tập nhạc tại một hội trường trong trung tâm Paris.  Khách mời là những người sinh hoạt văn hóa, giới văn nghệ sĩ và một số thân hữu của nhạc sĩ Xuân Lôi, nhưng công chúng biết nên đã rủ nhau đi nghe đến chật cả hội trường và hành lang.

Ai đã từng gặp nhạc sĩ Xuân Lôi sẽ thấy ông ít nói, rất từ tốn chậm chạp, và hay cười. Nếu ông sợ nói năng vụng về nên thận trọng ít nói thì ngược lại lúc chơi nhạc trông dáng dấp rất nghệ sĩ, phong cách rất linh hoạt, nhanh nhẹn, người lắc lư, uốn lượn đôi khi cúi gập mình xuống rồi vút lên như bay bổng theo tiếng kèn điệu nhạc. Ông chơi thông thạo đủ loại nhạc cụ; Mặc dù tuổi cao nhưng tiếng kèn Saxophone Ténor vẫn còn điêu luyện, trầm bổng, dài hơi phong dộ như thời còn chơi trong các phòng trà Sài Gòn năm xưa.

Nhạc sĩ Xuân Lôi là một trong số ít nghệ sĩ có lối sống rất mẫu mực ngăn nắp, lúc nào cũng ăn mặc chỉnh tề, ra đường phải veston cravate, giày bóng, hiếm thấy ông ăn mặc cẩu thả. Đầu tóc luôn gọn ghẽ, cắt xén, óng mượt. Ông rất tỉ mỉ nắn nót từng chữ khi viết thư cho ai, hoặc tự mình viết những đoạn ký. Chữ của ông rất đẹp, và tự kẻ dòng nhạc mỗi lần chép lại nhạc của mình trông chẳng khác bản in.

Nói đến nhạc sĩ Xuân Lôi không thể không nhắc đến đức tính đôn hậu, hiền hòa của ông, nhưng ông lại rất khó tính mỗi khi đụng đến âm nhạc. Ông than phiền với tôi về một số người đã “hát sai”, chẳng biết gì solfège mà thích lên sân khấu! Do đó mỗi khi có ca sĩ nào muốn trình bày nhạc phẩm của ông, hay mời ông đi dự buổi văn nghệ, ông đều mời người ca sĩ đó đến nhà để dượt lại bài nhạc đó trước khi trình diễn. Có lần ông chọn tôi cùng hòa nhạc một bản của nhạc sĩ Xuân Tiên, và một lần khác chúng tôi cùng hòa chung trio với giáo sư, học giả, nhạc sĩ Lê Hữu Mục. Nói về tính đôn hậu tôi thấy nhạc sĩ Xuân Lôi ít giận ai lâu, chỉ thoáng rồi quên.

Một hôm nhạc sĩ Xuân Lôi phôn cho tôi, ông muốn tổ chức sinh nhật thứ 80 của mình, và muốn giới hạn số khách, nên ông đã tự mời một số ít văn nghệ sĩ rất thân đến dự. Ông được nhà thơ Hoàng Minh Tâm đề nghị cho mượn ngôi biệt thự ở ngoại ô Paris. Ngoài hai ông bà nhạc sĩ Xuân Lôi& Mộng Ngọc, khách mời còn có sự hiện diện của ông bà nhạc sĩ Lê Đô mới ở Việt Nam sang thăm Paris, nhà nghiên cứu âm nhạc, nhạc sĩ Trần Quang Hải, nhạc sĩ Ngân Đoài, nhạc sĩ Nguyễn Văn Hạnh, nhạc sĩ Nhất Lý, nhạc sĩ Trọng Lễ, nhạc sĩ Maynith, GS, nữ nghệ sĩ Bích Thuận, danh ca Bạch Yến, nghệ sĩ Thúy Hằng, danh ca Thanh Hùng, nhà quay phim Đặng Vũ Chính, họa sĩ Thanh Lý, nhà văn Vân Hải, nhà thơ Bình Thanh Vân, nhà thơ Hoàng Minh Tâm (vì có chuyện riêng bà phải đi sớm). Hôm ấy vào tháng sáu, Paris ấm áp của những ngày đầu mùa hè, trời đang nắng đẹp bỗng thời tiết thay đổi đột ngột nhiệt độ xuống 18°C, lại có gío lạnh. Nhưng vì những bàn tiệc đặt ở ngoài vườn, mọi người đang vui nên không ai dám đòi di chuyển vào trong nhà! Các anh chị ở Paris đã quen với cái lạnh, duy chỉ có ông bà nhạc sĩ Lê Đô mới vừa sang Paris chưa quen với thời tiết nên luôn mặc áo khoác ấm. Dù ở xứ lạnh đã lâu nhưng ngồi lâu ngoài trời thì cũng thấm lạnh! Có người đề nghị nên dời vào trong, nhưng nhạc sĩ xuân Lôi từ chối, do đó mọi người tự đi lấy áo khoác mặc vào cho ấm, và cuộc vui kéo dài đến xế chiều mới chấm dứt thì bà Minh Tâm cũng vừa trở về. Tôi tưởng nhạc sĩ Xuân Lôi giận về sự vắng mặt của gia chủ, nhưng tuyệt nhiên trên khuôn mặt ông chẳng biểu lộ một nét giận nào cả. Về sau tôi có hỏi ông về chuyện này, ông nói:“Người ta tử tế cho mình mượn nhà, tại mình chọn ngoài vườn, ai ngờ trời hôm đó đang nóng bức lại đổ lạnh, thế thì giận cái nỗi gì !?” Qua đó tôi học thêm được bài học  xử thế. Nhà thơ Hoàng Minh Tâm, tác giả 3 thi tập. Bà qua Pháp từ đầu thập niên 50 và được hấp thụ văn hóa Pháp nên tính tình bà rất phóng khoáng và lịch thiệp. Chất nghệ sĩ lại thêm dáng vóc cao, khuôn mặt khả ái dễ nhìn nên Bà được nhiều người qúy mến. Bà cho chúng tôi mượn nhà để làm nơi họp mặt các trí hức văn nghệ sĩ.

Một lần khác nhạc sĩ Xuân Lôi nhờ tôi tổ chức kỷ niệm: Xuân Lôi 65 Năm Sinh Hoạt Nghệ Thuật & Mừng Thượng Thọ thứ 85. Địa điểm là một phòng khánh tiết rất khang trang lộng lẫy nằm trong một cao ốc vùng ngoại ô, cách Paris 5 Km. Cũng như lần trước các văn nghệ sĩ khắp nơi đến dự, cùng với đàn con cháu của ông quy tụ về đông đủ. Nhiều người mang đến những đóa hoa tươi thắm, những chai rượu chúc mừng được đặt quanh một ổ bánh sinh nhật nhiều tầng trông rất đẹp và hấp dẫn do chính con cháu ông thực hiện. Trong chương trình văn nghệ ngoài những bài hát của Xuân Lôi do các ca sĩ hiện diện trình bày, nhạc sĩ Xuân Lôi còn biểu diễn kèn Saxophone, và trình diễn đàn Xuân Lôiphone do chính ông sang chế. Đây là một loạiđàn ghép nột số những lon sắt gồm 39 nốt chia thành 3 hàngxếp theo thang âm ngũ cung. Khi xử dụng dùng hai đũa nhạc gõ trên mặt lon.Đàn có thể trình tấu được nhiều loại nhạc qua các thể điệu, từ chậm đến nhanh, và có thể vuốt như lướt trên phím dương cầm….Một công trình nghệ thuật đã được công nhận và trưng bày ở viện bảo tàng Nhân Chủng (Museé de L’home).

Những văn nghệ sĩ hiện diện:

Nhạc sĩ Trịnh Hưng, nhạc sĩ Mạnh Bích và phu nhân Bích Khuê, nhạc sĩ Tâm Bicannou và phu nhân, nhạc sĩ Anh Huy và phu nhân, nhạc sĩPhạm Đăng và phu nhân, nhạc sĩ Maynith và phu nhân, nhạc sĩ Nguyễn Đình Tuấn và phu nhân, nhạc sĩ Xuân Giao và phu nhân ca sĩ Lệ Thanh, nhạc sĩ Nguyẽn Văn Hạnh và phu nhân, nhạc sĩ Xuân Vinh, nhạc sĩ Ngân Đoài, nhà văn Tô Vũ, đôi uyên ương nhà văn Bình Huyên, nhà văn, nhà biên kịch Văn Bá và phu nhân Sylviane, nhà văn Diễm Thy và phu quân nhà báo Lê Trân, nhà văn Vân Hải và phu quân nhà báo Tôn Thất Vinh, nhà thơ Phương Du và phu nhân, nhà thơ Thiên Định, nhà thơ Hoàng Minh Tâm, nhà báo Ngọc Khôi , nữ nghệ sĩ Bích Thuận và phu quân Émile Hiếu, nghệ sĩ Trần Nghĩa Hiệp và phu nhân, họa sĩ Vĩnh Ấn, họa sĩ Việt Hồ, họa sĩ Nguyễn Đức Tăng, danh ca Cao Thái, danh ca Thanh Hùng , ca sĩ Phạm Đức, ca sĩPauline Ngọc, nhiếp ảnh gia Huỳnh Tâm, nhà hoạt động xã hội Thy Như và phu quân, nhà quay phim Đặng Vũ Chính, đạo diễn Trần Song Thu, giáo sư Võ Thu Tịnh, giáo sư Phạm Thị Nhung, giáo sư Nguyễn Thị Hoàng, giáo sư Trần Văn Quới và phu nhân, giáo sư Phạm Văn Thoại và phu nhân Tường Loan, bác sĩ Đỗ ngọc Giao và phu quân, tiến sĩ Trần Huy Ngọc Hoa, nhà thơ Đỗ Bình và phu nhân nghệ sĩ Thúy Hằng..vv.. Ngoài ra còn có sự phụ diễn múa của nhóm Nguyệt san Ngày Mới, nhóm Phượng Ca Dân Nhạc của Gs Phương Oanh, và nhóm Thanh Thiếu Niên Miền Bắc Paris. Ông Nguyễn Như Giác phụ trách phần nghi lễ mừng thượng thọ. Ông bà Xuân Lôi Mộng Ngọc rất cảm động vui sướng và chỉ thốt được hai chữ cảm ơn phát từ đáy lòng cùng bằng hữu và con cháu.

Sau buổi nhạc ấy nhạc sĩ Xuân Lôi đã ngỏ ý cùng tôi là ông muốn viết cuốn hồi ký văn nghệ về cuộc đời ông. Tôi bằng lòng và hai tháng sau ông mời tôi lên và trao bản thảo viết tay rất sạch sẽ và rõ ràng. Tôi đem về đọc và sau hai tuần lễ tôi đến gặp ông và đưa ra ý kiến. Tôi biết ông quen quá nhiều người trong giới sinh hoạt văn hóa, nhất là đối với những văn nghệ sĩ cùng thời với ông, những người mở đầu cho nền Tân Nhạc VN Nguyễn Xuân Khoát, Lê Yên, Thẩm Oánh,  Văn Chung, Doãn Mẫn, Đan Trường,  Dương Thiệu Tước, Lê Thương, Văn Cao, Hoàng Qúy, Nguyễn Đình Phúc, Tử Phác, Lương Ngọc Châu, Nguyễn Thiện Tơ… và nhóm Tự Lực Văn Đàn… nên cuốn hồi ký sẽ vô cùng phong phú, rất hữu ích cho những ai muốn có thêm tư liệu để viết biên khảo sau này. Do đó cuốn sách phải được in ấn đàng hoàng, có bề dầy để chứa đủnhững bằng hữu mà một thời ông đã từng gặp gỡ, quen biết. Để tiến hành cho việc viét hồi ký tôi thường xuyên lên nhà nhạc sĩ Xuân Lôi, hoặc phôn để nghe ông nói. Tôi cố gấp rút vì sợ tuổi ông không thể kéo dài được với thời gian! Những điều mà nhạc sĩ Xuân Lôi kể cho tôi nghe về những khuôn mặt văn nghệ sĩ từng vang bóng thời tiền chiến cũng như đương đại, đó là những điều thật mới lạ tôi chưa bao giờ được biết hay thấy trong sách. Những chuyện rất đời thường nhưng lại rất kỳ thú, độc đáo về những bằng hữu mà bấy lâu ông chẳng nói. Thật là uổng phí nếu những điểm son đó không được người đời nhắc lại, vì số người biết họ nay còn quá ít trên cõi dời! Do đó tôi náo nức bảo ông viết lại những điều ông kể. Mặc dù ông đã viết lại và bổ túc, so với bản thảo ban đầu có khá hơn nhiều, nhưng ông không phải là nhà văn, chưa kể tuổi đời quá cao, nên việc ghi lại ký ức diễn tả qua ngòi bút lại càng khó hơn!

Trong những dịp đến nhà thăm nhạc sĩ Xuân Lôi và nhiều lần được mời dùng cơm với hai ông bà. Trong lúc trà đàm tôi hỏi ông:

«Ngày xưa ở Hà Nội mẹ cháu là khách mời, có quen với cô Bích Thuận và cô Kim Chung ở trong ban cải lương Tố Như, sau này vào Sài Gòn vẫn thường liên lạc. Xin Bác nói về ban Tố Như?»

Nhạc sĩ Xuân Lôi:  «Năm 1942 tôi và Xuân Tiên chơi nhạc cho ban cải lưnơg Tố Như và vào Sài Gòn nhân dịp có hội chợ.»

Đỗ Bình:

«Trong ban Tố Như ai là đào kép chánh?»

Xuân Lôi:

«Chủ ban Tố Như là Lê Thiết, em trai là Lê Hùng.

Các đào: Khánh Hợi, Bích Thuận, Tường Vi, Mộng Lan, Lữ Nhàn, Xuân Dung, Thu Nhi.

Các Kép: Sĩ Hùng, Ba Dư, Hữu Lưong.

Thày Tuồng: Sĩ Tiến, là chồng khánh Hợi. Em của Sĩ Tiến là Sĩ Hùng, chồng của Tường Vi.  Bích Thuận là chị ruột của Tường Vi. Lê Hùng là chồng của Mộng Lan. Em họ của Lê Thiết là Trần Viết Long chồng của Kim Chung.

Ban Nhạc Cải Lương: Hai Dư, Văn Ba đều là nhạc sĩ rất hay. Ngày trước đóng vai Lữ Bố, hay nhất là Phùng Há, rồi đến Khánh Hợi, sau mới đến Bích Thuận».

Đỗ Bình:

«Ngoài những nhạc sĩ cổ nhạc đàn cho cải lương, Thưa,  ban nhạc của Bác chơi đàn trong lúc nào, gồm bao nhiêu người và chơi nhạc khí gì ?»

Xuân Lôi:

«Ban nhạc chuyên chơi ngoài sân khấu để đệm cho ca sĩ hát tân nhạc lúc trước khi mở nàn, và khi hạ màn để sửa soạn thay phông cảnh. Có khi chơi cho họ hát những bài Tây Thi, Xàng Xê, Hồ Quảng..vv. Ban nhạc gồm nhưữg nhạc sĩ: Paul Trí Piano), Xuân Lôi (Banjo Alto), Xuân Tiên (Clarinette), Văn Thịnh (Trống)».

Đỗ Bình:

«Ngoài ban cải lương Tố Như, Bác còn cộng tác với ban cải lương nào khác?»

Xuân Lôi:

«Trong khi đi tản cư chúng tôi có gặp vợ chồng ca kịch sĩ Bích Hợp Phùng Tử-Lân, và ban nhạc Lôi Tiên đã cộng tác với ban cải lương Bích Hợp.  Ca kịch sĩ Bích Hợp chuyên đóng vai đào thương, có giọng ca rất tốt, ngâm thơ tuyệt vời, và hát tân nhạc cũng rất hay, tính tình hiền lành. Bích Hợp khi về Hà Nội bị bệnh, nghe nói mất sớm".

Đỗ Bình:

«Vào cuối năm 50, những năm đầu của thập niên 60 gia iđình cháu vẫn đi xem đoàn cải lương Kim Chung Tiếng Chuông Vàng trình diễn ở rạp Aristo đường Lê Lai Sài Gòn, vẫn gặp các cô Kim Chung, cô Bích Hợp,  cô Khánh Hợi…Cháu nghe nói cô Bích Hợp sống đến sau năm 1975».

Xuân Lôi:

« Thì ra là thế, tôi cứ nghĩ rằng kịch sĩ Bích Hợp mất từ lâu rồi! "

Đỗ Bình:

«Ở thời kỳ Bác còn trẻ, các anh em Bác chỉ chuyên chơi nhạc, hay còn làm những việc khác? Bác có tham gia vào các phong trào khán chiến chống thực dân?»

Xuân Lôi:

« Anh em chúng tôi chỉ chuyên chơi nhạc trong các Dancing ởHà Nội và một số tỉnh khác. Nhưng thời gian đi tản cư từ năm1947 đến 1950, ở tỉnh Thái Nguyên chúng tôi có tham gia ban Văn Hóa Vụ, cơ quan đầu não của Việt Minh. Trưởng ban là Hoài Thanh, cụ Phan Khôi, Nguyễn Tuân, Văn Tân, Tố Hữu, Thế Lữ, Đào Duy Anh, Đoàn Phú Thứ, Nguyễn ĐìnhThi. Nhạc sĩ có Nguyễn Xuân Khoát, Văn Cao, Tô Vũ, Nguyễn Hữu Hiếu, Canh Thân, Lê Hoàng Long, Xuân Thư, Xuân Oai, Xuân Lôi, Xuân Tiên, Xuân Khuê».

Đỗ Bình:

«Khi vào Sài Gòn ngoài chơi nhạc cho các đại ban nhạc ở các dancing, phòng trà, Bác còn chơi nhau ở đâu nữa?»

Xuân Lôi:

«Ngay từ năm 1956, tôi làm nhạc trưởng ban nhạc Xuân Lôi cho đài Sài Gòn và đài truyền hình. Cùng với nhạc trưởng Hoàng Trọng điều khiển ban Tiếng Tơ Đồng. Năm 1957 làm nhạc trưởng ban Hươg Xa của  đài Tiếng Nói Quân Đội, và vẫn làm cho đài truyền hình.»

Hai năm chót ông bị bệnh thường xuyên, thêm vào đó là căn bệnh hoại huyết nhưng ông rất can đảm không hé răng nên bằng hữu chẳng một ai biết, ngoại trừ gia đình. Có lẽ căn bện ngày càng trầm trọng, nên gia đình ông rút ngắn lại lịch trình thục hiện tập hồi ký như mong muốn như chạy đua với thời gian để cuốn hồi ký bằng mọi giá phải có trước khi ông lìa đời. Nhạc sĩ gọi tôi để thông báo gởi trả tất cả những chi phiếu của bằng hữu giúp ông trong việc in ấn, ông cho biết gia đình ông sẽ lo hết chuyện này. Cuốn hồi ký đã được gởi sang Canada in, sau khi in xong sẽ ra mắt ở Paris để tặng bằng hữu mà không bán. Dù nhạc sĩ muốn ghi thêm những chi tiết độc đáo về những năm tháng sinh hoạt của đời mình với bằng hũu, nhưng vì tuổi già bệnh tật nên “lực bất tong tâm !”. Con cháu ông đã thực hiện tập hồi ký nhanh để làm món quà tinh thần tặng ông trước khi giã từ tcõi tạm. Trong lúc nhạc sĩ Xuân Lôi còn sinh thời tôi thường nghe ông kể chuyện văn nghệ và nhắc nhiều những người ông qúy, trong  đó có người em ruột là nhạc sĩ Xuân Tiên. Chắc hẳn ông rất phục tài nhạc sĩ Xuân Tiên nên trong quãng thời gian dài, bất cứ buổi văn nghệ dù trình diễn trên sân khấu hay sinh hoạt trong vòng thân hữu ở Paris ông đều trình tấu ít nhất một lần về nhạc của Xuân Tiên. Ông có 4 người con, hai người con trai là nhạc sĩ Nguyễn Xuân Dũng, và nhạc sĩ Nguyễn Xuân Giao đều tốt nghiệp bộ môn piano ở Nhạc Viện Sài Gòn trước năm 1975.

Dù là người ngoại đạo, nhạc sĩ Xuân Lôi được Thư Viện Giáo Xứ Việt Nam Paris đã tổ chức ra mắt cuốn hồi ký của nhạc sĩ Xuân Lôi. Vị giám đốc thư viện là một linh mục, đồng thời cũng là một nhà thơ có bút hiệu Cung Chi. Mở đầu, giáo sư TS Lê Đình Thông nói về: «Mục đích của thư viện, và Những nhà văn đầu tiên Công Giáo viết văn bằng chữ quốc ngữ». Tiếp theo nhà thơ Cung Chi đã nói về Ý nghĩa buổi ra mắt sách và trân trọng giới thiệu vài nét về nhạc sĩ Xuân Lôi. Kế đến GS TS Lê Mộng Nguyên đi sâu vào quá trình những sinh hoạt nghệ thuật của nhạc sĩ Xuân lôi. Khách tham dự rất dông, chật cả nhà thờ. Riêng tôi được phụ trách việc bao sân khấu, mời các diễn gỉa và nhắc các nghệ sĩ trước khi trình diễn. Hôm ấy tôi thấy ông vui sướng vì đã toại nguyện.

Những văn nghệ sĩ đã từng đến với Nhạc sĩ Xuân Lôi và cũng đã gĩa từ cuộc đời về cõi vĩnh hằng: Nhạc sĩ Lương Ngọc Châu, nhạc sĩ Michel Mỹ, nhạc sĩ Đan Trường, nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc sĩ Trịnh Hưng, nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên, nhạc sĩ Lê Trạch Lựu, nhạc sĩ Lê Đô, nhạc sĩ Mạnh Bích, nhạc sĩ Xuân Vinh, nhạc sĩ Vũ Thái Hòa, nhạc sĩ Lê Phương,  danh ca Thanh Hùng, họa sĩ Vĩnh Ấn, họa sĩ Việt Hồ, Nhà thơ Bằng Vân GS Trần Văn Bảng,  GS Trần Văn Khê, GS Phạm Đình Liên, GS Vũ Quốc Thúc, GS Lê Đình Thông, Học giả TS Thái Văn Kiểm,  Học giả GS Võ Thu Tịnh, nhà biên khảo Lương Giang Phạm Trọng Nhân, nhà biên khảo Bùi Sỹ Thành, nhà văn Tô Vũ, nhà thơ Phương Du Nguyễn Bá Hậu, nữ sĩ Minh Châu Thái Hạc Oanh, nữ sĩ Liên Trang Phạm thị Ngoạn, nữ sĩ Bình Thanh Vân, nữ sĩ Quỳnh Liên, nữ sĩ Hoàng Minh Tâm, GS Nghệ sĩ Bích Thuận, GS Trương Quỳnh Hạnh, TS Ngọc Hoa, nghệ sĩ Diệu Khánh, danh ca Bích Chiêu, nhà thơ Thanh Tuệ Trương Phú, nhà thơ Phượng Linh Đỗ Quang Trị, nhà thơ Vũ Nguyên Bích, nhạc sĩ Trọng Lễ, nhạc sĩ Minh Nhật, nhạc sĩ Tâm Bicannou, nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện,  nhạc sĩ Đoàn văn linh, nhà báo Lê Trân, nhà báo Từ Ngọc Lê, nhà báo Hứa Vạng Thọ, điêu khắc gia Anh Trần. Đối với người nghệ sĩ, ước mơ lớn nhất của đời họ làđể lại cho đời dăm ba tác phẩm. Nếu mai sau tác giả và tác phẩm có đi vào quên lãng, thì dù ở một chốn xa xôi nào đó, người nghệ sĩ chắc hẳn sẽ vui vì đã có lần họ rong chơi cõi đời và đem hết cảm xúc của tâm hồn dệt cho thế nhân những đóa hoa lòng muôn sắc -./.




VVM.12.9.2025.

| UNIVERSELLE LITERATUR | UNIVERSAL LITERATURE | LITERATURA UNIVERSAL | LETTERATURA UNIVERSALE | УНИВЕРСАЛЬНАЯ ЛИТЕРАТУРА |
. vietart@gmail.com - vietvanmoinewvietart007@gmail.com .