Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
      


SINH HOẠT VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT
THA HƯƠNG TẠI PHÁP



D òng lịch sử của dân tộc Việt quá khứ đã có vài lần thiên di kéo dài mấy thế kỷ trong hành trình Nam tiến đến tận Cà Mau. Hiệp định Genève chia Việt Nam làm hai miền Nam Bắc, khác chính trị, kinh tế và đời sống nhưng vẫn chung một văn hóa, tuy nhiên ở miền Bắc nền văn hóa bị áp chế trong quan niệm Cộng Sản, còn ở miền Nam vẫn giữ truyền thống văn hóa cổ xưa. Biến cố 30 tháng tư năm 1975 đã khiến cho biết bao người yêu tự do phải ồ ạt bỏ nước ra đi bằng nhiều phương cách khác nhau. Từ cuộc di tản đầu tiên vượt biển bằng thuyền, vượt biên bằng đường bộ, bằng chính thức xum họp gia đình, hay theo diện HO… Họ đã định cư, hội nhập đời sống vào các nước rải rác khắp nơi trên thế giới nhưng vẫn giữ trong tâm hồn những tâm tình Việt Nam. Sau hơn 45 năm định cư trên xứ người ngày nay hàng triệu người Việt đã có cuộc sống về vật chất không những ổn định mà còn thịnh vượng, đời sống tinh thần cũng thăng hoa. Nhiều người trong số đó đã thành đạt, nổi tiếng xuất sắc trong nhiều lãnh vực từ kinh doanh đến khoa học, và các bộ môn nghệ thuật khác. Họ đã được giữ nhiều chức vị trong các ngành giáo dục, y tế , khoa học. Đảm trách nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội cũng như những cơ quan chính phủ của nhiều quốc gia Âu Mỹ và Úc. Những thành quả văn hóa dân tộc ở hải ngoại là người Việt đã giữ được truyền thống, tổ chức những Lễ hội, Sân khấu Nhạc hội, Cải lương, Kịch nghệ, những trung tâm Băng nhạc. Về truyền thông báo chí nở rộ, những nhật báo, tuần báo, nguyệt san , tạp chí phát triển khắp nơi. Những đài truyền thanh, truyền hình phát liên tục. Những Trung tâm Việt ngữ, Thư Viện, Viện Việt Học được thành lập nhiều nơi để đáp ứng nhu cầu Sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

Đối với người Việt vào những thế kỷ trước chỉ cần rời thôn làng đã là xa. Theo Sử Việt và tranh của họa sĩ François Nicolas Maupérin (1787) vào thế kỷ thứ 18 ở vùng Đông Nam Á có một người Việt Nam là Hoàng Tử Cảnh đã rời quê hương đến nước Pháp lúc mới 3 tuổi. Ông là người đầu tiên đặt chân lên sứ Pháp để theo Giám mục Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện. Và gần 100 năm sau, năm 1863 Sứ bộ Phan Thanh Giản qua Pháp để chuộc lại Nam Kỳ. Vào đầu thế kỷ 20 người Việt ở Pháp còn rất ít nhưng tính đến tháng tư năm 1975 so với các nước khác có người Việt định cư thì cộng đồng người Việt ở Pháp là cộng đồng lớn nhất hải ngoại. Sau năm 1975 số người Việt định cư ở Pháp tăng lên rất đông thành một trong những cộng đồng người Việt hải ngoại lớn thứ nhì sau Hoa Kỳ. Người Việt vốn thông minh, ham học hỏi để cầu tiến nên hầu hết có đời sống ổn định, con cháu đã thành đạt có một vị trí đứng trong xã hội vì đa số đều tốt nghiệp đại học hoặc hậu đại học. Người Việt bản tính lại hiền hòa nên dễ sống hòa nhập vào xã hội Pháp nhưng không làm mất bản sắc. Do đó, người Việt thường có một cuộc sống yên bình hòa chung với người bản xứ. Cộng đồng người Việt ở Pháp sau năm 1975 quan điểm chính trị chia thành ba nhóm rõ rệt: một nhóm ủng hộ chính quyền Hà Nội, một nhóm chống cộng còn gọi là nhóm quốc gia và một nhóm không cộng mà cũng chẳng quốc gia. Nhóm chống cộng chiếm đa số họ thường xuyên tổ chức những sinh hoạt cộng đồng khắp nơi trên nước Pháp như sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, những ngày lễ hội cổ truyền. Nhóm thiên cộng cũng tổ chức như thế nhưng chỉ thu hẹp ở một số địa điểm nhất định. Riêng nhóm không màu sắc chính trị, ở chỗ nào có tổ chức lễ hội vui chơi là họ đến. Đây là lớp người đầu tiên ở hải ngoại trở về Việt Nam sau năm 1975 nhưng lại rất ít người chịu ở lại hưởng tuổi già với quê hương.

Những Nơi Người Việt Cư Trú Đầu Tiên Tại Pháp:

Noyant d’Allier, một thị trấn nhỏ thuộc Allier, Auvergne. Sainte-Livrade-sur-Lot, thuộc Lot-et-Garonne, Aquitaine gần Bordeaux miền Tây-Nam nước Pháp. Nơi đây có cấu trúc giống như một ngôi làng truyền thống ở Việt Nam với đình, chùa, đền, bàn thờ gia tiên. Người Việt định cư nơi đây còn giữ những phong tục tập quán quê hương : Ăn trầu, mặc quần đen, đội nón lá, ngôn ngữ hàng ngày vẫn là tiếng mẹ đẻ. Trong khu vực có những quán phở, hàng bánh cuốn và một số hàng tạp hóa bày bán những bánh kẹo, rau củ quả đặc sản quê hương do tự làm và tự trồng. Những người này trước khi rời Việt Nam họ mang theo một giống lúa và tự trồng. Hiện nay các thế hệ con cháu vẫn sản xuất một loại gạo vẫn bán trên thị trường tên là gạo Camargue.

Foyer Monge tọa lạc số 80 đường Monge, quận V, là một nhà hàng bán thức ăn rẻ ngày trước do tòa đại sứ Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa quản lý. Đây cũng là địa điểm cho các sinh viên tụ tập.

Những Người Việt Nổi Tiếng Trong Công Chúng Pháp:

Cựu Hoàng Bảo Đại. 

Công chúa Như-Mai được vinh danh như một trong những nữ vĩ nhân của nước Pháp khi bà là người phụ nữ đầu tiên tốt nghiệp Tiến sĩ, thủ khoa của ngành Nông Lâm học. Trên danh sách liệt kê những nữ Vĩ nhân của nước Pháp “Nhu May princesse d’Annam” được ca ngợi là một trong những người phụ nữ tiên phong trong xã hội. Thêm vào đó, bà còn là người phụ nữ có nhân cách lớn, sống vị tha, hay làm từ thiện giúp dân nghèo và còn đem tri thức giúp đỡ dân làng Thonac cải tạo đất trồng nên được nhiều người quý mến.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh, Đại tá Trần Đình Vị.

GS Trịnh Xuân Thuận, Nhà toán học GS Ngô Bảo Châu, GS Maximilien Phùng (Nguyễn Văn Phùng, người được được lập tên đường ỏ Montpellier, ông là con của nhà văn Nguyễn văn Vĩnh). GS Đinh Sơn Anh Tuấn, GS Lê Mộng Nguyên, GS Nguyễn Tiến Lãng, TS Thái Văn Kiểm, Nhà văn Duyên Anh, Đạo diễn Eric Hung ( Lê Hùng), Nữ tài tử Hoàng Thị Thế (con gái của Đề Thám Hoàng Hoa Thám). Nam diễn viên Vũ Ngọc Tuân, Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Nhà văn Dương Thu Hương, Dịch giả Phan Huy Đường, Trần Thị Nam Murtin (người nhận Bắc đẩu bội tinh Premier ministre grade chevalier năm 2008 của chính phủ Pháp), Ký giả Bùi Tín, Kỹ sư Trương Trọng Thi (được trao Huân chương Bắc đẩu bội tinh), Họa sĩ Lê Phổ, Đạo diễn Trần Anh Hùng và các nữ diễn viên Phạm Linh Đan, Trần Nữ Yên Khê, ,Nhiếp ảnh gia LS Nguyễn Đăng Trình, từng đoạt giải nhì quốc tế UNESCO, và nhiều giải nhất về nhiếp ảnh do các tổ chức tư nhân, báo chí, truyền hình tại Pháp. Năm 1987 đã triển lãm 2 tháng liền trong Musée Francais de la Photographie, Bièvres, ở Rotterdam Hoà Lan, ở Charleroi bên Bruxelles...

GS Trần Văn Khê, Nhạc sĩ đàn kìm Michel Mỹ, Nhạc sĩ nhạc giao hưởng Nguyễn Thiện Đạo, Nhạc sĩ nhạc giao hưởng Tôn Thất Tiết, Ca sĩ Tiny Yong Thiên Hương, Nhà thể thao Didier favre.

Những Người Pháp Nổi Tiếng Mang Trong Mình Một Phần Dòng Máu Việt:

Tướng La Lanxade, Tướng Jeannou Lacaze, Thanh tra cảnh sát Georges Nguyễn Văn Lộc, luật sư Jacques Vergès, Diễn viên France Nguyen, và Cầu thủ François Trinh-Duc, Yohan Cabaye mang trong mình dòng máu Việt khi có bà nội là người Việt Nam. Yohan Cabaye (sinh ngày 14 tháng 01 năm 1986 tại Tourcoing, Pháp) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Pháp đang chơi tại Giải bóng đá ngoại hạng Anh cho câu lạc bộ Newcastle United.

Di Tích:

Chùa Hồng Hiên, được xây từ năm 1917 ở Fréjus, Var, thuộc Provence-Alpes-Côte d'Azur. Đây là một ngôi chùa lâu đời nhất của người Việt ở Âu châu. Chùa có một thời bị bỏ hoang phế nhưng từ thập niên 1970 trở đi đã hoạt động trở lại.

Chùa Khánh Anh tại Evry, Essonne ngoại ô Paris là ngôi chùa lớn nhất châu Âu của người Việt.

Mộ vua Hàm Nghi : ở làng Thonac thuộc vùng Aquitaine, khu vực Dordogne, tỉnh Sarlat-la - Canéda,Montignac.

Mộ vua Bảo Đại :  tại nghĩa trang Passy trên đồi Trocadéro, thành phố Paris.

Mộ Bà Nam Phương Hoàng Hậu ở Chabrignac, là một xã thuộc tỉnh Corrèze trong vùng Nouvelle-Aquitaine miền trung Pháp.

Tòa lâu đài Losse cổ kính tọa lạc bên dòng sông Vézère, cách trung tâm làng khoảng 20 phút đi bộ. Nơi đó từng là nhà ở của công chúa Như-Mai (con trưởng của vua Hàm Nghi) trong suốt 46 năm (1930-1976).

Phương Đình, được xây trên nền cũ của đền tử sĩ lính Đông Dương trước năm 1954.

Làng Mai, được hình thành vào đầu năm 1982, lúc đầu mang tên Làng Hồng vì trồng nhiều cây hồng ăn trái. Sau thấy cây mận pruniers d'Agen hợp phong thổ, phát triển mạnh nên đổi tên thành Làng Mai. Nguyên tên là “Đạo Tràng Mai Thôn”, là một cộng đồng tập thiền thuộc Giáo hội Phật giáo Thống nhất, tọa lạc Meyrac, 47120 Loubès-Bernac, ở Tây Nam nước Pháp, cách thủ đô Paris 600 km. Cộng đồng này do thiền sư Thích Nhất Hạnh sáng lập với chủ đích làm nơi tu hành và giảng dạy Phật giáo của Việt Nam cho mọi người muốn tìm hiểu về thiền, kể cả người gốc Việt ở Pháp. Ngôi làng có diện tích 1km², chia thành nhiều xóm với những tên gọi mang đậm màu sắc Việt như: Xóm Thượng, Xóm Trung, Xóm Hạ.

Jardin tropical de Paris, thuộc Bois de Vincennes ở Nogent-sur-Marne, trong đó còn nền cũ ngôi đền tử sĩ tưởng niệm lính Đông Dương, tức temple du Souvenir Indochinois. Đây nguyên thủy là một ngôi nhà cất ở Thủ Dầu Một rồi gỡ ra đem sang Pháp dùng cho cuộc Exposition coloniale de Marseille 1906. Qua năm sau chính phủ Pháp cho chuyển về Nogent-sur-Marne và đến năm 1917 thì ngôi nhà đó được dùng làm đền tử sĩ, có sắc phong (1919) của vua Nguyễn Hoằng Tông. Nhà vua còn đến viếng ngôi đền này năm 1922 nhân chuyến công du sang Pháp. Năm 1984 đền bị phá hủy hoàn toàn trong cơn hỏa hoạn, nay chỉ còn phần nền với bậc tam cấp tạc đôi rồng đá, một Phương Đình tân tạo nhỏ nay nằm ở vị trí này.

Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam, được đặt tại chùa Khánh Anh Evry,-- khánh thành 02 11 2008 do nhiều hội đoàn người Việt thực hiện. Để tưởng niệm gần một triệu người vượt biên khỏi Việt Nam bằng đường biển sau khi Miền Nam bị Cộng Sản xâm chiếm ngày 30 tháng tư năm 1975.

Đài Kỷ Niệm thuyền Nhân, ngày 12 tháng 9 năm 2010 được dựng ở bùng binh, ngã tư thông lộ André Malraux và đại lộ des Genêts thuộc xã Bussy-Saint-Georges, thị trấn Marne-la-Vallée. Đây là bức tượng bằng đồng tác giả là điêu khắc gia Vũ Đình Lâm với tên “Niềm mơ ước của Mẹ” (Le Rêve de la Mère) thực hiện cùng với nhiều đoàn thể và cá nhân người Việt ở thị xã Bussy-Saint-Georges.

Nhà may Áo Dài Kim Chung, nổi tiếng một thời ở Sài gòn trước năm 1975 và nổi tiếng ở Paris sau năm 1975. Đây là một của hiệu may áo dài cho tất cả cho những phụ nữ Việt ở Paris.

Những Sinh Hoạt Văn Hóa

Y Phục:

Dù xa quê hương và giữa những trang phục lộng lẫy muôn màu dành cho các phụ nữ bản xứ và Âu châu, chiếc áo dài phụ nữ Việt truyền thống vẫn được người Việt yêu thích. Các bà các cô thường mặc trong những ngày lễ hội hoặc những buổi đi lễ chùa, nhà thờ. Đây là nét văn hóa độc đáo để giới thiệu với người bản xứ. Ở Paris, ngay từ thập niên 1980 nhà thiết kế y phục KTS Hoàng Đình Tuyên là người đầu tiên đã sáng tạo ra những chiếc áo dài truyền thống vẽ trên nền vải lụa những nét độc đáo, từ đó tạo thành một phong trào lan rộng khắp hải ngoại và hiện đang thịnh hành trong nước.

Đại Hội Hoa Hậu Áo Dài năm 1994 tổ chức tại hội trường Maisons - Alfort do Hội Thanh Niên Công Giáo VN tổ chức. Ban giám khảo Nhà văn Đỗ Bình, Giám đốc thẩm Mỹ viện Christal Huỳnh, Giám đốc thẩm mỹ viện Nguyễn Thanh Vân.

Đại Hội Hoa Hậu Áo Dài năm 2000 được tổ chức ở Pavillon Baltard một hội trường ca nhạc nổi tiếng hạng sang của Paris ở 12 Ave Victor Hugo 94130 Nogent Sur Marne, do chủ nhiệm tạp chí Á Châu là nhà báo Đỗ Thành và Bà Giám đốc Trần Văn Hòa tổ chức. Đạo diễn, cố vấn nghệ thuật nhà văn Đỗ Bình. Ban giám khảo: BS Nguyễn Bá Hậu, BS Phan Minh Hiển, Nghệ sĩ Bích Thuận, Họa sĩ Lê Tài Điển, Họa sĩ Nguyễn Cầm, Nhà văn Dư Thị Diễm Buồn ( Hoa Kỳ), Giám đốc Trung tâm Paris By Night Thúy Nga. Đây là một đại hội ngoài tuyển chọn hoa hậu Áo Dài, còn trình diễn 54 sắc phục độc đáo của các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Buổi đại hội thành công vì có trên 3000 khán giả đến tham dự, nhất là đã quy tụ rất nhiều giới trẻ Việt ở Paris tham gia thiện nguyện trong việc tổ chức. Với sự góp mặt của đoàn nghệ sĩ Paris By Night đến từ Hoa Kỳ trình diễn không nhận thù lao. Số tiền thu được hôm đó đều ủng hộ cho việc xây chùa Khánh Anh.

Ẩm Thực:

Món Phở và Chả giò là những món truyền thống không những của gia đình người Việt, mà còn là những món ăn rất phổ biến trong công chúng Pháp được người bản xứ ưa thích. Nhất là món chả giò được bày bán ở khắp các siêu thị trên xứ Pháp.

Võ Thuật:

Theo những tài liệu được ghi trong sử sách về tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, Võ Thuật cổ truyền Việt Nam đã có từ lâu đời chịu sự ảnh hưởng các Võ phái có nguồn gốc Trung Hoa tạo nên những hệ phái võ thuật. Các Võ phái chính :

Nhóm Bắc Hà (miền Bắc), nhóm Bình Định (miền Trung), nhóm Nam Bộ (miền Nam), và các võ phái có nguồn gốc từ Trung Quốc như hệ phái Thiếu Lâm.

-Nhóm Bắc Hà : Thăng Long, thủ đô Hà Nội xưa là đất dụng võ, nơi đây triều đình thường tổ chức những cuộc khảo thí võ rất khó khăn để tuyển dụng người tài. Sau năm 1880 triều đình ra lệnh bãi bỏ những cuộc thi võ, nhiều võ gia vẫn tiếp tục bí truyền các kỹ năng lại cho con cháu. Ban đầu các phái võ Bắc Hà chỉ phát triển ở miền Bắc sau đó đã ảnh hưởng lan rộng đến các khu vực khác trong cả nước.

-Nhóm Bình Định: Tên gọi "Võ Bình Định" nguyên khởi xuất hiện vào thế kỷ thứ 15, do Nguyễn Trãi đặt và được truyền nối rồi ngộ nhận là môn võ xuất phát từ vùng Bình Định vào thời Tây Sơn. Bình Định là vùng từng thuộc vương quốc Chămpa, nơi có truyền thống võ thuật lâu đời mà những phù điêu của vương quốc Chăm còn lưu giữ hình ảnh. Đây cũng là cái nôi võ thuật miền Trung gắn liền với triều đại Tây Sơn (1778-1802). Trong thế kỷ 18, một số võ sư nổi tiếng từ miền Bắc Việt Nam và Trung Quốc chuyển đến định cư tại vùng này và dạy võ cho người dân địa phương.

Từ thời Tây Sơn đến nay, nhóm Bình Định bao gồm nhiều môn phái xuất phát từ Bình Định và vùng phụ cận như: roi Thuận Truyền, quyền An Thái, quyền An Vinh và các hình thức võ thuật do các gia tộc, các nhà sư truyền dạy như Tây Sơn Nhạn, 

-Nhóm Nam Kỳ: Các chúa Nguyễn tiếp tục xuống phía Nam và di dân từ Quảng Nam, Đà Nẵng, Quy Nhơn vào khai khẩn đất hoang tại đồng bằng sông Cửu Long. Các phái võ Nam Bộ xuất hiện cùng với quá trình mở rộng lãnh thổ bờ cõi và định cư của người Việt trong thế kỷ 18 và thế kỷ 19. Ở vùng đất mới với nhiều sắc dân nên võ thuật cũng bị pha trộn nhiều môn võ khác như Võ Cao Miên, Võ Thiếu Lâm với kỹ thuật được cải biến cho phù hợp với điều kiện cụ thể ở miền Nam trong đó có nhu cầu tự vệ trước thú dữ và khai khẩn đất canh tác mới, đã tạo nên phái Nam Bộ đặc biệt với những môn phái được gọi là "Võ miệt rừng" hay "Võ miệt vườn."

Võ Cổ Truyền Tại Pháp:

Sau đệ nhị thế chiến một số người Việt đã chọn nước Pháp định cư trong đó có vài người là võ sư, từ đó mở đầu cho môn Võ cổ truyền Việt Nam tại Pháp. Theo như lời của một võ sư kể lại: “Thời gian đầu việc truyền dạy võ chưa được luật pháp cho phép, cho đến thập niên 50 một số phòng tập mới được chính thức mở ở một vài thành phố, tình trạng này kéo dài đến năam 1969. Các v õ sư truyền dạy võ thuật cổ truyền Việt Nam tại Pháp rất nhiều:

-Phái Trung Hòa: Nguyễn Trung Hòa là một trong những võ sư sáng lập Liên đoàn Võ thuật Việt Nam tại Pháp. Nguyễn Trung Hòa bắt đầu dạy tại Pháp năm 1948. Phái Trung Hòa do võ sư Jean Quý, đệ tử của Nguyễn Trung Hòa sáng lập sau khi sư phụ qua đời, hiện phát triển chủ yếu tại Paris.

-Sơn Long quyền thuật hay Võ-Việt Nam do võ sư Nguyễn Đức Mộc giới thiệu vào Pháp năm 1950 và phát triển đến nay.

Câu lạc bộ Võ Thuật ở Montlouçon,Võ sư Nguyễn Đan Phú.

Việt Võ Đạo, ở Paris, Võ sư Hoàng Nam

Việt Võ Đạo, Võ sư Phạm Văn Tòng limoges.

Việt Võ Đạo, Võ sư Võ Quang Tùng Taverny.

Việt Quyền Đạo, Võ sư Đào Tuấn Ngọc sáng lập.

Tây Sơn võ đạo: xuất từ hệ phái Bình Định Tây Sơn trong nước, hiện nay do võ sư Phan Toàn Châu chấp chưởng tại Paris. Nam Hổ Quyền: do võ sư Phillipe Đặng Văn Sung chấp chưởng. Đây là một chi phái của Bình Định gia, hiện phát triển tại Nice.

Lam Sơn võ đạo: phát triển tại vùng Montpellier, đại võ sư của môn phái là Jacques Trần Văn Ba.

Quán Khí Đạo (Qwankido): do võ sư Phạm Xuân Tòng sáng lập, hiện đang thịnh hành ở nhiều quốc gia trên thế giới.

VÕ SƯ PHAN TOÀN CHÂU:

VÕ SƯ ĐÀO TUÁN NGỌC : Ông là người sáng lập ra môn phái Việt Quyền Đạo, phối hợp tinh hoa kỹ thuật những môn võ Thái Cực Đạo (Đại Hàn), Không Thủ Đạo, Nhu Đạo (Nhật bản), võ Thái, thành một môn võ mới cho Việt Nam và Thế giới.

NHỮNG NGÀY LỄ VĂN HÓA:

Dù xa quê hương nhưng hàng năm cộng đồng người Việt vẫn tổ chức những ngày lễ :Tết Nguyên Đán, Vu Lan, và Tết Trung Thu, Lễ Hai Bà Trưng (vào tháng hai âm lịch).

Ban Tế Tự của cộng đồng:

Phan Thế Nghiệp, Nguyễn Đức Tăng, Hoàng Đức Phương, Nguyễn Bá Lăng, Nguyễn Như Giác, Đặng Vũ Chính, Đặng Vũ Lợi, Phạm Công Khanh, Năm Châu, Trần Trọng Sự, Lê Thanh Xuân, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Hải Triều Âm.

Ban Tế Tự Hội Hành Thiện:

Tế Tổ của họ Đặng Vũ, họp gia đình vào dịp Tết Nguyên Đán nên có khá đông đồng hương tham dự.

Trong ban Tế Tự có các ông Đặng Vũ Nhuế, Đặng Vũ Biền, Đặng Vũ Lợi, Đặng Vũ Chính, và hai cháu Đặng Vũ Phúc (con ông Lợi), Đặng Vũ Minh (con Ông Chính). Ông Hoàng Đức Phương đánh trống hát Đông Xướng, 1 người Tây Xướng..

NHỮNG TÁC PHẨM BÁO CHÍ BUỔI ĐẦU Ở HẢI NGOẠI

Tác phẩm Việt ngữ xuất hiện đầu ở Mỹ:

Võ Phiến, tập “Tùy Bút Thư Gởi Bạn”, năm 1976.

“Ly Hương” ( Tiểu thuyết)viết chung với Lê Tất Điều, năm 1977.

“Nguyên Vẹn”, năm 1978.

“Thơ Cao Tần”, năm 1978.

Tập thơ “Đất Khách” của Thanh Nam.

“Thủy Mộ Quan” của Viên Linh.

“Lớp Sóng Phế Hưng” (Hợp Lưu) của Hồ Trường An (Pháp). Bút ký:

“Ngẩng Mặt Nhìn Sao Sáng”, Hoàng Khởi Phong.

Nguyễn Khắc Ngữ, “Những Ngày Cuối Cùng của VNCH”.

Báo Chí Việt Ngữ:

Có thể xem các nhà văn Võ Phiến, Lê Tất Điều, Thanh Nam là những người ban đầu khai phá nền văn học báo chí ở Mỹ tính từ năm 1975 đến năm 1982.

Ở Mỹ vào tháng 4 năm 1978 nhà văn Võ Phiến và nhà văn Lê Tất Điều chủ trương Tạp chí Văn Học Nghệ Thuật ở Cali, do nhà văn Mai Thảo làm chủ biên. Đây là tờ báo đầu tiên, ra được 13 số thì đình bản vào tháng 9 năm 1979. Tháng 7 năm 1982 nhà văn Mai Thảo ra mắt số Văn đầu tiên và làm chủ biên. Đến tháng 5 năm 1985 Võ Phiến và Lê Tất Điều cho tái bản tạp chí Văn nhưng cũng chỉ được 8 số phải đình bản. Tháng 2 năm 1986 tờ báo đổi tên thành tờ Văn Học do nhà văn Nguyễn Mộng Giác trông coi.

Ở Seattle, cũng năm 1978 nhà văn Thanh Nam làm Tổng Thư ký tờ Đất Mới đến ngày ông qua đời vào 2 tháng 6 năm 1985. Tháng 12 năm 1978 Nhà báo Đỗ Ngọc Yến sáng lập Tuần báo Người Việt ở Cali, sau trở thành Nhật báo đến nay và là tờ nhật báo đông độc giả người Việt nhất ở Mỹ.

Ở Canada năm 1984 tạp chí Làng Văn của Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Nghĩa và Nhà báo Nguyên Hương chủ trương.

Và ở Úc Tạp chí Việt Luận của Nguyễn Hưng Quốc chủ trương.

Báo chí ở Mỹ thịnh hành nhất từ 1984 - 1985 có khoảng 600 tờ báo, những năm sau đó giảm xuống còn 300 tờ. Đến năm 900 còn lại khoảng 100 tờ.

Tháng 5 năm 1989 Cơ Quan Người Việt cho ra đời thêm tờ Thế Kỷ 21, tạp chí Chính trị Thời sự Văn Học.

Nguyệt san Thời Tập của Nhà thơ Viên Linh ra được 11 số phải đình bản. 1996 Viên Linh cho ra mắt tờ Khởi Hành.

1991 Nhóm Hợp Lưu ra đời do Họa sĩ Khánh Trường chủ trương.

Tháng 6 năm 1992 Nhóm Trân Sa ở Toronto cho ra đời tờ Trăm Con, được 14 số phải đình bản vào tháng 9 năm1993. Mùa thu năm 1994 Tạp chí Thơ Khế Iêm, Đỗ Khiêm, Phan Tấn Hải.

1998 Nguyễn Hưng Quốc cho ra tạp chí Việt ở Úc.

Báo Chí Việt Ngữ Ở Paris:

Trước năm 1975 báo Giáo Xứ là tờ báo Việt ngữ đầu tiên ở Pháp do linh mục Trần Thanh Giản phụ trách. Kế đến Nguyệt san Hương Quê của tòa đại sứ VNCH phát hành do TS Trần Minh Trâm và Lê Thị Phương Trà phụ trách.Tiếp theo tờ Nhân Bản do Tổng hội SV Paris thực hiện. Tờ Xuyên Việt do Nhóm Sinh viên Công giáo Paris thực hiện. Hội Việt kiều yêu nước theo CS ra tờ Đoàn Kết do Nguyễn Văn Ty phụ trách. Nhóm trí thức thiên tả ra tờ Khoa Học Xã Hội do GS Hoàng Xuân Hãn phụ trách.

Sau Năm 1975 làn sóng tị nạn Cộng Sản của người Việt ồ ạt đến Pháp. Tờ Đoàn Kết của nhóm trí thức cộng sản bị đình bản, tờ Diễn Đàn được thực hiện do nhóm trí thức thuộc thành phần thứ ba do GS Nguyễn Ngọc Giao phụ trách. Tờ Con Ong năm xưa ở Sài gòn được tái bản ở Paris do Nhà báo Trần Tam Tiệp và nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh thực hiện. Văn Phòng Liên Lạc các Hội Đoàn ra báo tam cá nguyệt thực hiện do: TS Trần Bình Tịnh, Nhà báo Phạm Hữu, Ông Đinh Văn Ngọc, Ông Nguyễn Tấn Hớn.. Tờ Đường Mới do Ông Huỳnh Bá Yết Dương thực hiện. Nguyệt san Chiến Hữu do Nhà báo Phạm Hữu thực hiện. Nguyệt san Ái Hữu do Sinh viên Orsay phụ trách. Nguyệt san Vùng Dậy do Trung tướng Trần Văn Trung phụ trách. Tờ báo Pháp ngữ Droit de L’homme do Linh mục Trần Thanh Giản thực hiện. Nguyệt san Tiếng Gọi Dân Tộc do KS Võ Long Triều thực hiện. Tờ nhật báo Tin Tức song ngữ do Nhà báo Nguyễn Đình Nhân và TS Đặng Phương Nghi thực hiện. Nguyệt san Ý Dân do KS Dương Văn Lợi thực hiện. Nguyệt san Sự Thật do Nhà báo Hứa Vạng Thọ chủ trương, chủ bút Ngô Quốc Dũng. Thờ Ép Phê do Nhà báo Trần Trung Quân thực hiện, Nguyệt san Nạng Gỗ do Ông Nguyễn Quang Hạnh, Ông Nguyễn Đức Tăng thực hiện. Nguyệt san Chiến Sỹ VNCH do nhà báo Phạm Văn Đức chủ nhiệm, Tờ Bạn Đường do Nhà báo Từ Ngọc Lê thực hiện. Tờ Thông Luận do KS Nguyễn Gia Kiểng thực hiện. Nguyệt san Viễn Tượng Việt Nam do LS Trần Thanh Hiệp và GS Vũ Thiện Hân thực hiên. Tập san Hội Y Giới phụ trách BS Tạ Thanh Minh, BS Phạm Tu Chính, Báo Hàng Không do KS Nguyễn Xuân Lang phụ trách. Báo Ái Hữu Lê Ngọc Hân Mỹ Tho do Nhà thơ Âu Dương Trọng Lễ phụ trách. Báo Ái Hữu Pétrus Ký do LS Nguyễn Văn Hoàng thực hiện. Báo Âu Du do TS Ngô Nguyên Dũng thực hiện…Báo Văn Lang do Hội Việt Tộc thực hiện.

Truyền Thông:

Đài Radio Sài Gòn BS Trần Duy Tâm phụ trách. Ban biên tập: TS Trần Bình Tịnh, Nhạc sĩ Trần Văn Trạch, GS Nguyễn Vô Kỷ, Nhà văn Đỗ Bình, Nhà biên khảo Nguyễn Đức Tăng.

Đài Radio Á Châu Nhà báo Tô Vũ phụ trách. Ban biên tập GS Nguyễn Ngọc Chân, Nhà báo Nguyễn Thừa Thính.

Đài Radio Cộng Đồng, Tiếng Nói Người Việt Quốc Gia tại Pháp, phụ trách biên tập: Tôn Thất Vinh, Vân Hải, Phạm Anh Dũng, Nguyễn Đình Châu.

Dài RGB, do địa phương Cergy chủ trương. Ban biên tập nhà văn Đỗ Bình….

Đài RFI, do chính phủ Pháp chủ trương. Ban biên tập: Bạch Thái Quốc, Tú Anh, Thanh Phương, Trọng Nghĩa, Ánh Nguyệt, Quản Mỹ Lan, Thụy Khê, Hồng Biên,hụy My, Nguyễn Bảo Hưng, Tuấn Thảo,Đức Bình, Đức..…

Những Tập San Tư Tưởng Văn học Nghệ thuật:

Tập san Định Hướng do GS Nguyễn Đăng Trúc chủ trương. Tuyển tập Làng Xưa Phố Cũ do TS Nguyễn Văn Hướng chủ trương. Tuyển tập Văn Bút Âu Châu do nhà văn Từ Nguyên chủ trương. Tạp chí Quê Mẹ do Nhà báo Võ Văn Ái thực hiện. Tạp chí Tự Do, người chủ trương GS Phạm Việt Tuyền, sau TS Đặng Vũ Chính làm chủ nhiệm, GS Đặng Phương Nghi chủ bút. Nguyệt san Ngày Mới do nhà văn Diễm Thy chủ nhiệm, Lê Trân chủ bút. Nguyệt san Diễn Đàn Người Việt do nhà báo Lê Đình Điểu chủ trương. Nguyệt san Hoa Tình Thương do nhà văn Nguyễn Văn Xuyên chủ trương, chủ bút nhà thơ Đỗ Bình. Nguyệt san Văn Lang do GS Hoàng Đức Phương, Phan Thế Nghiệp chủ trương. Ngoài ra còn có nguyệt san Hoằng Pháp do chùa Linh Sơn chủ trương. Nguyêt san Khánh Anh do chùa Khánh Anh chủ trương và Nguyệt san Giáo Xứ do Giáo xứ chủ trương, GS Phạm Bá Nha chủ bút.

Thư Viện:

Thư viện Cergy do Nhà văn Đỗ Bình chủ trương. Thư Viện Diên Hồng do GS Bạch Thái Hà chủ Chương. Thư Viện Giáo Xứ VN Paris do Linh mục Đinh Đồng Thượng Sách chủ trương. Thư Viện Chùa Khánh Anh do Hòa thượng Thích Minh Tâm chủ trương.

Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng: Viện Pháp Á. Hội Y Sĩ. Trụ sở Tổng Hội Sinh Viên Paris. Nhà thờ Saint Hyppolyte.

Hội Đoàn: Hơn 100 hội đoàn.

PARIS VÀ VĂN NGHỆ SĨ

Nghệ sĩ là người sáng tạo ra nghệ thuật mà nghệ thuật thì bao la vô tận. Một tác phẩm nghệ thuật đích thực bắt nguồn từ những ý nghĩ và cảm xúc thực không giả tạo vay mượn.  Người nghệ sĩ không thể đem suy nghĩ hôm nay để luận về tâm cảnh người xưa vì thời gian và cảm xúc không hợp nhất. Nguồn cảm xúc của nghệ sĩ chợt đến và dễ tan biến như sương khói mây bay nhưng sẽ để lại cho đời tác phẩm.

Những Đạo Diễn, Diễn Viên Điện Ảnh:

Đạo diễn: Eric Hung, (Lê Hùng), Hoàng Anh Tuấn, Trần Văn Trạch, Trần Anh Hùng. Đạo diễn Sân khấu: Lê Phương. Diễn viên: Kim Chung, trong phim Kiếp Hoa do hãng phim Công ty điện ảnh Kim Chung thực hiện. Diễn viên Thu Trang trong phim Chúng tôi muốn sống của đạo diễn Vĩnh Noãn. Diễn viên Thu Trang tên thật là Công Thị Nghĩa đỗ TS Sử Học ở Paris. Diễn viên Mỹ Hòa, diễn viên Phương Hồng Ngọc, diễn viên Mộng Tuyền, diễn viên Phạm Linh Đan, diễn viên Trần Nữ Yên Khê. Diễn viên Vũ Ngọc Tuân, một diễn viên trong giới điện ảnh Pháp vào thập niên 60. Diễn viên Ngọc Đức khuôn mặt nổi của điện ảnh miền Nam trước năm 1975. Diễn viên phim ảnh Thanh Hùng, diễn viên Đỗ Thạch Dũng.

Họa sĩ:

Lê Phổ, Nguyễn Văn Thọ, Mai Trung Thứ, Vĩnh Ấn, Thái Tuấn, Minh Châu Thái Hạc Oanh, Dương Cẩm Chương, Đỗ Văn Bình, Lê Tài Điển, Nguyễn Cầm, Võ Hoài Nam, Việt Hồ, Võ Văn ký, Võ Công Minh, Vũ Thái Hòa, Vũ Đình Lâm, Nguyễn Đức Tăng, Phạm Tăng…

Điêu Khắc:

Điêu khắc gia Điền Phùng Thị, điêu khắc gia Anh Trần, điêu khắc gia Vương Thu Thủy.

Những Giáo Sư, Học Giả, Nhà Biên Khảo:

GS Hoàng Xuân Hãn, GS Võ Thu Tịnh, GS Vũ Quốc Thúc, GS Nguyễn Thế Anh, GS Đặng Phương Nghi, GS Phạm Thị Nhung, GS Hoàng Đức Phương, GS Nguyễn Bá Lăng, GS Bùi Sỹ Thành, GS Nguyễn Đăng Trúc, GS Đoàn Đức Nhân, GS Nguyễn Thị Hoàng, GS Lê Mộng Nguyên, GS Đỗ Mạnh Tri, GS Phạm Bá Nha, GS Lê Đình Thông, GS Nguyễn Phú Thứ, GS Trần Văn Cảnh, GS Vũ Thiện Hân, GS Tôn Thất Long, GS Phạm Văn Ái, GS Đặng Tiến, GS Tạ Trọng Hiệp, GS Nguyễn Thùy, TS Thái Văn Kiểm, TS Phạm Trọng Chánh, BS Nguyễn Văn Ba, BS Nguyễn Bá Hậu, BS Nguyễn Đương Tịnh, BS Nguyễn Tối Thiện, LS Trần Thanh Hiệp, Nhà văn Trần Đại Sỹ, Nhà Biên khảo Bạch Phát Tú Tài Phạm Xuân Hy, Nhà Biên khảo Nguyễn Đức Tăng, Nhà Biên khảo Trần Văn Quyện Trần Khánh...

Trong mỗi tâm hồn người Việt khi rời quê hương ra đi đều mang hteo hình bóng quê hương, trong số đó có những người ngày trước là những văn nghệ sĩ, có người sau này tha hương nhớ nhà làm thơ viết văn thành văn thi sĩ. Ba lê Thi Xã, một hội thơ Luật danh tiếng nhất Paris quy tụ nhiều nhà thơ nổi tiếng nhưng trong đó có một số người không thích in tác phẩm dù rằng đã viết hàng trăm bài thơ. Ở Paris rất nhiều tạp chí mang tính ái hữu, hội đoàn, nhưng cũng có những tạp chí mang tính chuyên nghiệp, có những nhà báo thật tận tụy đeo đuổi nghiệp báo đến cuối đời. Họ là những người có trình độ, học vị nhưng quá say mê làm báo nên hầu hết trong số ấy phải sống bằng nghề khác để lấy tiền nuôi báo. Có thể kể :Nhà báo An Khê, Nhà báo Phạm Việt Tuyền, Nhà báo Trần Tam Tiệp, Nhà báo Võ Văn Ái, Nhà báo Ỷ Lan,Nhà báo Trần Trung Quân, Nhà báo Phạm Hữu, Nhà báo Tô Vũ, Nhà báo Đặng Phương Nghi, Nhà báo Nguyễn Đình Nhân, Nhà báo Lê Trân, Nhà báo Diễm Thy, Nhà báo Hứa Vạng Thọ, Nhà báo Từ Ngọc Lê, Nh à báo Bùi Tín.

Những Nhà Báo:

Nhà báo An Khê, Nhà báo Trần Văn Ân, Nhà báo Phạm Việt Tuyền, Trần Tam Tiệp, Nhà báo Võ Văn Ái, Nhà báo Trần Trung Quân, Nhà báo Nguyễn Trần, Nhà báo Thế Huy, Nhà báo Hứa Vạng Thọ, Nhà báo Ngô Quốc Dũng, Nhà báo Phạm Hữu, Nhà báo Đỗ Việt, Nhà báo Từ Ngọc Lê, Nhà báo Dương Văn Lợi, Nhà báo Phan Ngọc Khuê, Nhà báo Từ Thức, Nhà báo Bùi Tín, Nh á b áo Nguyễn Văn Huy, Nhà báo Huỳnh Tâm, Nhà báo Lê Trân, Nhà báo Tô Vũ, Nhà báo Nguyễn Đình Nhân, Nhà báo Đặng Phương Nghi, Nhà báo Từ An, Nhà báo Lệ Hằng, Nhà báo Diễm Thy, Nhà báo Phương Mai, Nhà báo Ỷ Lan.

Nhà Phê Bình:

Thụy Khuê, Liễu Trương, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Hưng Quốc, Đặng Tiến, Hồ Trường An, Nguyễn Thùy, Võ Thu Tịnh.

Những Nhà Văn, Nhà Thơ: 

Nhà văn An Khê, Nhà văn Trần Văn Ân, Nhà văn Nguyễn Tiến Lãng, Nhà văn Duyên Anh, Nhà văn Trần Tam Tiệp, Nhà văn Hồ trường An, Nhà văn Từ Nguyên, Nhà văn Trần Đại Sĩ, Nhà văn Nguyễn Thùy, Nhà văn Bùi Văn Nhẫm, Nhà văn Mạch Bích, Nhà văn Từ Trì, Nhà văn Từ Thức, Nhà văn Tiểu Tử, Nhà văn Kiệt Tấn, Nhà văn Nguyễn Vân Xuyên, Nhà văn Nguyễn Đương Tịnh, Nhà văn Bình Huyên, Nhà văn Võ Đức Trung, Nhà văn Vũ Thư Hiên, Nhà văn Cổ Ngư, Nhà văn Bùi Tĩnh, Nhà văn Ngọc Khôi, Nhà văn Sĩ Liêm, Nhà văn Sĩ Trung, Nhà văn Trần Song Thu, Nhà văn Trần Trung Quân, Nhà văn Lucien Trọng, Trần Vũ. Nhà văn Sơn Khanh  Nguyễn Văn Lộc, Nhà dịch thuật Nghiêm Xuân  X. ( trưởng nam của Tổng Trấn Nghiêm Xuân Thiện), Nhà dịch thuật Phan Huy Đường, Nhà dịch thuật Nguyễn Tấn Phước, Nhà dịch thuật Đặng Quốc Cơ, Nhà dịch thuật Nguyễn Phượng Anh, Nhà dịch thuật Liều Phong.

Nhà thơ Đào Trọng Đủ, nhà thơ Hương Bình Cao Văn Chiểu, nhà thơ Hàm Thạch Nguyễn Xuân Nhẫn, nhà thơ Bằng Vân Trần Văn Bảng, nhà thơ Đàn Đức Nhân, nhà thơ Huỳnh Khắc Dụng, nhà thơ Lương Giang Phạm Trọng Nhân, nhà thơ Phuợng Linh Đỗ Quang Trị, nhà thơ Nguyễn Thường Xuân, Nhà thơ Song Thái Phạm Công Huyền, nhà thơ Vân Uyên Nguyễn Văn Ái, nhà thơ Hương Giang Thái Văn Kiểm, nhà thơ Khuê Trai Vũ Quốc Thúc, nhà thơ Phương Du Nguyễn Bá Hậu, nhà thơ Hoài Việt Nguyễn Văn Hướng, nhà thơ Hồ Trọng Khôi, nhà thơ Đỗ Bình, Nhà thơ Nhất Uyên, Nhà thơ Vũ Linh, Nhà thơ Cung Chi (Linh mục Đinh Đồng Thượng Sách) Nhà thơ Vũ Nguyên Bích Quốc Hùng, tác giả Lời ca khúc Mưa Chiều Kỷ Niệm, Nhà thơ Gia Trạng Lê Ngọc Quỳnh, Văn Bá Nguyễn Văn Ba, Nhà thơ Tôn Thất Phú Sĩ, Nhà thơ Thi Vũ, Nhà thơ Thế Huy, Nhà thơ Trọng Lễ, Nhà thơ Trịnh Cơ.

Nhà Văn, Nhà Thơ Nữ:

Nhà văn Thanh Phương, Nhà văn Tiêu Nương, Nhà văn Phan Thị Trọng Tuyến, Nhà văn Ỷ Lan, Nhà văn Diễm Thy, Nhà văn Huyền Châu, Nhà văn Miêng, Nhà văn Trần thị Diệu Tâm, Nhà văn Đặng Mai Lan, Nhà văn Trúc Thanh,Nhà văn Bình Phương, Nhà văn Mai Ninh, Nhà văn Quỳnh Dao, Nhà văn Vân Hải, Nhà văn Dương Thu Hương, Nhà văn an Thúy Vy, Nhà thơ Vân Nương, Nhà thơ Minh Châu Thái Hạc Oanh, Nhà thơ Thái Ngộ Khê, Nhà thơ Thân Thị Ngọc Quế, Nhà thơ Liên Trang Phạm Thị Ngoạn (Ái nữ cụ Phạm Quỳnh), Nhà thơ Thanh Liên, Nhà thơ Quỳnh Liên Công Tằng Tôn Nữ Quỳnh Liên, Nhà thơ Phạm Thị Nhung, Nhà thơ Hà Lan Phương, Nhà thơ Thụy Khanh, Nhà thơ Dã Thảo, Nhà thơ Bích xuân, Nhà thơ Thụy Hương, Nhà thơ Thiên Định, Nhà thơ Chân Phương Lê Mỹ, Nhà thơ Việt Dương Nhân, Hoàng Minh Tâm, Nhà thơ Hoàng Bích Đào, Nhà thơ Bình Thanh Vân, Nhà thơ Tôn Nữ Ngọc Ninh, Nhà thơ Xuân Nương, Nhà thơ Ngọc Thanh, Nhà thơ Huyền Mi, Nhà thơ Nguyễn Mây Thu, Nhà thơ CaroleThanh Hương, Nhà thơ Thy Thảo.

Những Học giả, Nhà Biên khảo, Văn Nghệ sĩ sáng tác, Nhà báo Một Thời vang Bóng ở Paris:

Học giả GS Hoàng Xuân Hãn, học giả TS Thái Văn Kiểm, học giả GS Võ Thu Tịnh. LS Trần Thanh Hiệp, LS Nguyễn Văn Hoàng, KS Nguyễn Gia Kiểng, GS Vũ Quốc Thúc, GS Nguyễn Đăng Trúc, GS Trần Văn Cảnh, GS Lê Đình Thông, GS Đặng Tiến. Nhạc sĩ,GS Lê Mộng Nguyên, nhạc sĩ, GS Trần Văn Khê, nhạc sĩ GS Trần Quang Hải, nhạc sĩ, GS Phạm Đình Liên, nhạc sĩ GS Mạnh Bích, nhạc sĩ, Võ sư Đào Tuấn Ngọc, nhạc sĩ Xuân Lôi, Nhạc sĩ Trần Văn Trạch, nhạc sĩ Trịnh Hưng, nhạc sĩ Lê Trạch Lựu, nhạc sĩ Tôn Thất Tiết, nnhạc sĩ Nguyễn Thiện Đạo, nhạc sĩ Xuân Vinh, nhạc sĩ Anh Việt Thanh, nhạc sĩ Phạm Ngọc Lân, nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện, nhạc sĩ Nguyễn Minh Mạch, nhạc sĩ Ngô Càn Chiếu, nhạc sĩ Nguyễn Minh Châu, nhạc sĩ Phạm Đăng, nhạc sĩ Văn Tấn Phát, nhạc sĩ Văn Tấn Phước. GS Nguyễn Văn Trần, GS Bùi Sĩ Thành, GS Đặng Phương Nghi. GS Ân nhạc Phương Oanh, GS Âm nhạc Quỳnh Hạnh, GS Âm nhạc Nguyễn Thanh Vân, GS Âm nhạc Thụy Trang…

Nhà thơ Bằng Vân, nhà thơ Phương Du, nhà thơ Song Thái, nhà thơ Vân Uyên, nhà thơ Văn Bá, nhà thơ Hồ Trọng Khôi, nhà thơ Hoài Việt, nhà thơ Cung Chi, nhà thơ Đỗ Bình, nhà thơ Nhất Uyên, nhà thơ Trúc Cư, nhà thơ Minh Châu Thái Hạc Oanh, nhà thơ Dã Thảo, nhà thơ Thụy Khanh, nhà thơ Hà Lan Phương, nhà thơ Bích Xuân, nhà thơ Việt Dương Nhân, …

Nhà văn An Khê, nhà văn Duyên Anh, nhà văn Hồ Trườ ng An, nhà văn Trần Đại Sỹ, nhà văn Từ Nguyên, nhà văn Nguyễn Thùy, nhà văn Kiệt Tấn, nhà văn Tiểu Tử, nhà văn Tô Vũ, nhà văn Từ Trì, nhà văn Từ Thức, nhà văn Cổ Ngư, nhà văn Diễm Thy, nhà văn Phan Thị Trọng Tuyến, nhà văn Thụy Khuê, nhà văn Ỷ Lan, nhà văn Trần Thị Diệu Tâm,… Điêu khắc gia Điềm Phùng Thị, điêu khắc gia Anh Trần, diêu khắc gia Vương Thu Thủy, điêu khắc gia Phạm Trọng Chánh. Họa sĩ Lê Phổ, họa sĩ Mai Thứ, họa sĩ Vĩnh Ấn, họa sĩ Hoàng Đình Tuyên, họa sĩ Trần Văn liêm, họa sĩ Vũ Đình Lâm, họa sĩ Lê Tài Điển,, họa sĩ Nguyễn Cầm, họa sĩ Phạm Tăng, họa sĩ Lê Bá Đảng, họa sĩ Vũ Thái Hòa, họa sĩ Nguyễn Đức Tăng. Nhà báo Trần Văn Ân, nhà báo Phạm Việt Tuyền, nhà báo Võ văn Ái, nhà báo Phạm Hữu, nhà báo Phan Ngọc Khuê, nhà báo Nguyễn Đình Nhân, nhà báo Trần Minh, nhà báo Thế Huy, nhà báo Hứa vạang Thọ, nhà báo Nguyễn Văn Huy, nhà báo Lê Trân, nhà báo Nguyên Vy, nhà báo Từ Ngọc Lê, nhà báo Nguyễn Vân Xuyên, nhà báo Hoàng Thụy Long, nhà báo Trần Trung Quân,, nhà báo Thanh Phương, nhà báo Ca Dao, nhà báo Lê Đình Điểu..vv… -./.




VVM.04.9.2025.

| UNIVERSELLE LITERATUR | UNIVERSAL LITERATURE | LITERATURA UNIVERSAL | LETTERATURA UNIVERSALE | УНИВЕРСАЛЬНАЯ ЛИТЕРАТУРА |
. vietart@gmail.com - vietvanmoinewvietart007@gmail.com .