Việt Văn Mới
Việt Văn Mới



HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG HỒN THIÊNG ĐẤT VIỆT


D ù muốn hay không, cũng phải khẳng định ngay rằng, tâm linh của người Việt ngày nay không còn ở thời kì “thô mộc” như mấy mươi năm về trước nữa. Tôn vinh và phát huy truyền thống dân tộc để ổn định tinh thần, khai thông nội lực mỗi người dân Việt, và từ đó gắn kết thành huyết mạch, năng lượng sống chung của cả đất nước là điều vô cùng cần thiết cho mọi thời đại. Mắt xích hay chất keo liên kết cơ bản và bền vững nhất cho sự tồn tại và phát triển về mọi mặt của bất cứ đất nước nào cũng chính là các bậc thánh nhân, vĩ nhân, các anh hùng dân tộc từ cổ chí kim của chính đất nước ấy. Đương khi còn sống, họ có thể là những bậc lãnh đạo tối cao anh minh và nhân từ như Vua Phật Trần Nhân Tông, tướng lĩnh tài ba và trung nghĩa như Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn hay khai quốc công thần, trợ nước giúp dân, một lòng vì sơn hà xã tắc. Ngay sau hơi thở cuối cùng, linh ảnh về trí tuệ tuyệt vời, tình thương yêu rộng khắp, nhân phẩm sáng chói của họ lập tức hoà vào tính thiêng của dân tộc, trở thành hồn thiêng dân tộc với sức mạnh vô song bất diệt phù trợ tinh thần trăm họ. Đó vừa là niềm kiêu hãnh, tự hào, vừa là nhân tố độc đáo và căn bản để xây dựng và phát triển tầm cỡ của mỗi người trong một hay cả của một quốc gia mà không thể vay mượn, xin xỏ hay mua bán ở dân tộc khác.

Bởi là linh hồn dân tộc nên trong tâm thức nhân dân luôn có xu thế tín ngưỡng, thờ phụng. Có thể khác nhau về hình thức, mục đích thờ phụng nhưng rõ ràng đó là xu thế bất khả kháng và rất đáng khuyến khích, trân trọng! Tuy nhiên, dẫu bởi mục đích gì cũng phải tỏ tường sự việc, cội rễ và thể hiện rõ nét phẩm chất dòng giống dân tộc, không thể du nhập từ bên ngoài vào để thay thế. Mặt trời Nhật Bản dù ấm áp và đẹp đẽ đến mấy cũng không thể toả sáng và quang hợp cho cây xanh Việt Nam được.

“Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”. Không phải ngẫu nhiên dân gian Việt Nam lại kính tôn Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn là Đức Thánh Cha, và hằng năm nô nức tổ chức lễ hội vào ngày 20/08 (Âl). Nhiều nơi trên đất nước lập đền, miếu thờ Ngài nhưng việc cá nhân chủ động phụng thờ thì lại quá hiếm hoi và èo uột. Thay vào đó, người ta đua nhau nhập khẩu những danh tính, hình tượng từ bên ngoài vào để thờ phụng, cầu cúng và mong hưởng ân huệ phù trì. Điều này chứng tỏ tầm nhìn và sự tỏ tường hạn chế, lòng tự tôn dân tộc không được phát huy và toả sáng, khiến cho huyết mạch linh thiêng của tổ tiên và nguồn cội bị tắc nghẽn mà nguyên nhân chính ở chỗ không tỏ tường của con cháu. Một khi không sáng rõ, người ta dễ lâm vào đường bị lợi dụng, cuồng tín, cực đoan. Và dĩ nhiên chẳng hề lợi lộc gì, dù lòng sùng bái và sự linh thiêng ngoại nhập bất kì có thực sự siêu phàm hay được tô vẽ đến đâu đi chăng nữa. Nếu kể cả những trường hợp nhập nhằng, mù mờ thì chao ôi, tai hại khôn lường!

Bỏ qua việc chấp chước vào thói quen, quan niệm sùng bái và thật bình tĩnh dùng cái nhìn chân xác về hai trường hợp là Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và Vân Trường (Quan Vũ), để cứu xét một cách bình đẳng, toàn diện trong trường hợp giả như có sự phù trì thì ai sẽ thực sự đủ sức. Nói cách khác, ai mới đủ tư cách và quyền năng mang lại sự nhiệm màu hay may mắn cho người thực tâm cầu khấn?

Về thân thế: Hưng Đạo Đại Vương xuất thân từ gia đình vương triều, được học với hầu hết các vị danh sĩ nhất nước, trí tuệ vượt trội, bản tính nhân hậu, ôn hoà. Là em trai Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung, đương thời được tôn là bồ tát và giới tăng sĩ sánh ví như bồ tát Duy Ma Cật ở thời Đức Phật Thích Ca. Là thân phụ của Khâm Từ Hoàng hậu – vợ vua Trần Nhân Tông. Đức Trần Nhân Tông được Tuệ Trung Thượng Sĩ khai thị và giác ngộ vào năm 29 tuổi. Ngài là một vị Phật Việt Nam và là vị phật lịch sử duy nhất sau phật Thích Ca.
Còn Vân Trường xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, trước khi phạm tội giết người, phải chạy trốn và gặp Lưu Bị thì làm nghề bán đậu phụ. Các sử gia Trung Quốc đánh giá Vân Trường là người kiêu căng, ngạo mạn, hay nóng giận.

Về tài năng: Y cứ vào lịch sử thì rõ ràng là Vân Trường hữu dũng vô mưu, tính chất võ biền, danh hiệu hổ tướng, thói thường bênh vực kẻ yếu. Điều này hoàn toàn khớp với nhận xét của các sử gia Trung Quốc về ông.

Trần Hưng Đạo thì văn võ song toàn, phẩm chất siêu phàm, danh hiệu Tiết Chế Quốc Công nắm toàn bộ binh quyền, sau là Thượng Quốc Công với quyền phong tước, thương dân như con, một lòng vì sự bình yên và thịnh trị của toàn dân, là một trong số ít vị tướng lừng danh nhất thế giới gắn liền với 3 lần đại thắng Nguyên Mông của nhà Trần, cứu nhân loại khỏi đại nạn thảm sát bởi sự bành trướng Nguyên Mông. Trong kho tàng khoa học quân sự thế giới, bộ Binh Thư Yếu Lược của Trần Hưng Đạo được nhiều nhà quân sự lỗi lạc tham cứu. Nhưng có lẽ chỉ những người có tấm lòng và tình thương người bình đẳng như Trần Hưng Đạo mới có thể lĩnh hội cơ bản toàn triệt.

Về lòng trung nghĩa: Đây là nhân cách, phẩm hạnh cao quý xuất phát từ lòng đại bi, tình yêu thương vô điều kiện với dân tộc và đồng loại của Trần Hưng Đạo như một vị thánh. Và chỉ cứu xét riêng điểm này cũng thừa điều kiện chân quý để tán tụng, thờ phụng và thừa hưởng ân huệ từ Ngài hơn bất kì danh tướng nào. Thật vậy, cha Ngài là An Sinh Vương Trần Liễu vốn dĩ hiềm khích với Trần Thái Tông về ngôi vị. Trước lúc từ trần, ông trăng trối với Ngài rằng: “Con không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được” (ĐVSKTT). Thế mà, biết bao cơ hội xoá ngôi đoạt vị dễ như trở bàn tay nhưng Trần Hưng Đạo không vì quyền lợi cá nhân, chỉ một lòng với vua lo cho sơn hà xã tắc, sông núi dân tộc toàn vẹn, trăm dân ấm no và bình yên!

Khi quân Nguyên tràn vào Đại Việt, Hưng Đạo Đại Vương được giao nắm toàn bộ binh quyền, thay vua trực tiếp chống giặc. Trong tình huống này, nếu Ngài vì một chút ích kỉ mà xoá ngôi thì chẳng ai làm gì được. Thậm chí Ngài vẫn đàng hoàng mặc long bào ra trận với chiến tích vẻ vang. Nhưng Ngài đã thể hiện một phong cách sống của bậc thánh là, đem lời trăng trối của cha dọ hỏi ý tứ của các tướng lĩnh và con cái. Khi người con thứ là tướng quân Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng tỏ ý khinh nhờn Trần Thái Tông, Ngài liền rút kiếm toan chém đầu và mắng: “Loạn thần là từ đứa con bất hiếu này mà ra” (ĐVSKTT). Quốc Tảng thoát chết nhờ anh cả là tướng quân Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn quỳ khóc xin cha tha cho em. Sau đó, Hưng Nhượng Vương từ bỏ ý xấu, noi gương cha một lòng chống giặc và trở thành một danh tướng lẫy lừng. Và sau này, có con làm Thuận Thánh Bảo Từ Hoàng hậu – vợ vua Trần Anh Tông. Được như thế, âu cũng nhờ ân đức của Quốc Công Tiết Chế Trần Hưng Đạo cả.

Một lần khác, thế giặc bức bách, hai vua phải ngầm đi trên một chiếc thuyền nhỏ cùng Trần Hưng Đạo để tạm lánh. Với kì tài của mình và bối cảnh như thế, Trần Hưng Đạo dư sức thực hiện lời trăng trối của cha mà không ai hay biết gì. Nhưng một lần nữa, Ngài lại thể hiện phẩm chất của bậc thánh trí ở chỗ, như thấu được ý dè dặt của những người theo hầu hai vua, Ngài liền bẻ gẫy đầu nhọn bằng sắt của binh khí đang cầm trên tay và ném xuống nước.

Sau khi cùng các vua Trần chiến thắng toàn triệt quân Nguyên, Trần Hưng Đạo lập công đầu và được phong Thượng Quốc Công, có quyền phong chức tước cho quan quân trong triều, nhưng Ngài không bao giờ sử dụng đến quyền đó. Nếu không bởi lẽ vì dân thì chẳng còn lí do nào khác nữa. Điều này còn được minh chứng khi quân Nguyên tràn vào tàn phá đất nước, Ngài vừa động viên vừa hạ lệnh các nhà giầu chia sẻ thóc gạo giúp quân lính và dân nghèo, nhằm bình ổn đời sống để tổ chức đánh giặc. Lúc tuổi cao, Ngài lui về vui sống điền viên giản dị tại Vạn Kiếp nhưng các vua Trần vẫn thường tới tham vấn. Và ý kiến của Ngài cả về việc giữ nước lẫn xây dựng đất nước đều căn dặn lấy dân làm gốc, phải lo cho dân có cuộc sống bình yên, một lòng hoà thuận. Như thế đủ biết, Hưng Đạo Đại Vương sáng suốt và nhân từ đến nhường nào!

Còn Vân Trường vì chịu ơn mà phò Lưu Bị bao năm nhưng không hề có cơ hội nào để thử thách như Trần Hưng Đạo cả. Vân Trường từng là bại tướng dưới tay Tào Tháo và bị thu phục một thời gian. Dĩ nhiên, Tào Tháo rất trọng vọng Quan Vũ, ngược lại, Quan Vũ cũng rất kính trọng Tào Tháo. Sau khi lập một số công trạng cho Tào Tháo thì Quan Vũ mới trở về với Lưu Bị. Dù cuối cùng Vân Trường vẫn phò giúp Lưu Bị cho tới khi bị Tôn Quyền chặt đầu, nhưng việc đầu hàng, ngưỡng vọng và phục vụ kẻ thù không đội trời chung là rất khó chấp nhận. Với bất kì lí do nào thì hành động của Quan Vũ giúp Tào Tháo chống lại thành công hợp lực của Viên Thiệu và Lưu Bị cũng đều thể hiện tính bất trung, bất nghĩa. Đấy là chưa kể đến việc vì thế mà khiến cuộc chiến càng trở nên dằng dai, dân chúng càng thêm cơ cực bội phần.

Về cái chết: Vân Trường bị bộ tướng của Phan Chương là Mã Trung bắt sống khi đang chạy trốn khỏi vòng vây của Tôn Quyền. Sau đó, bị Tôn Quyền chặt đầu và gửi cho Tào Tháo để tạo hận thù giữa Tào – Lưu. Như vậy, không những Vân Trường phải chịu cái chết uất ức, mà thân xác còn không được toàn vẹn. Vân Trường chết, râu tóc dựng ngược, mắt trợn trừng đầy uất hận thể hiện một sự ra đi không được thoả đáng hay mãn nguyện. Nghĩa là, Quan Vũ để lại cảm xúc vô cùng tức giận, uất ức sau hơi thở cuối cùng chứ không phải sự ra đi thanh thản, nhẹ nhàng và mãn nguyện như các anh hùng hào kiệt hay thánh trí đi sâu vào lòng người. Có lẽ bởi thế mà người ta làm hình ảnh Vân Trường với sắc mặt đỏ gay gắt như gà cắt tiết.

Còn Thượng Quốc Công Trần Hưng Đạo về hưởng an nhàn tuổi già khi đất nước thái bình, thịnh trị tại Kiếp Bạc và ra đi hoàn toàn thanh thản, mãn nguyện ở tuổi “thất thập cổ lai hi”. Thượng Quốc Công căn dặn người nhà hoả táng thân xác mình, rồi đem cốt ấy chôn ở vườn An Lạc và trồng cây xanh lên như thường. Thấy rằng, hình ảnh ra đi của Ngài hoàn toàn khớp với phẩm hạnh, đức độ đương khi sống và cũng hoàn toàn phù hợp với nét bỏ xác của các bậc thánh. Ngài được nuôi dạy từ bé tới năm 10 tuổi tại chùa Phật Quang (tại Thanh Oai – Hà Nội ngày nay), anh trai Tuệ Trung Thượng Sĩ của Ngài là một thiền gia vĩ đại đương thời, các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông đều thâm sâu phật thiền và đặc biệt vua Trần Nhân Tông còn là một vị phật thị hiện tại Đại Việt, mà Quốc Công Tiết Chế sát cánh cùng các vua 3 lần đánh bại quân Nguyên. Như vậy, tin rằng Ngài cũng thấm nhuần được cốt tuỷ và phong cách của bậc giác ngộ là luôn sống tỉnh thức và trải rộng tình thương vô điều kiện. Giả như còn khập khiễng thì phật nhãn của Phật Hoàng Trần Nhân Tông là không thể sai lệch.

Bấy nhiêu đủ để xác quyết, Thượng Quốc Công Trần Hưng Đạo ắt là hồn thiêng của Đất Việt, luôn luôn linh ứng và phù trì tinh thần cho con dân Đại Việt, mang lại nhiều may mắn và nhiệm màu chân xác cho người có tâm thành tín ngưỡng.   -/.




VVM.23.7.2025.

| UNIVERSELLE LITERATUR | UNIVERSAL LITERATURE | LITERATURA UNIVERSAL | LETTERATURA UNIVERSALE | УНИВЕРСАЛЬНАЯ ЛИТЕРАТУРА |
. newvietart@gmail.com - vietvanmoinewvietart007@gmail.com .