M ọi người quen với hình ảnh Tu Sĩ là một tập thể đầu tròn, áo vuông, đắp y,. Ngồi, nằm, đi, đứng phải có Tứ oai nghi. Phải Ly gia, Cắt Ái, sống trong Chùa, ăn chay, tụng Kinh, gỏ mõ, Ngồi Thiền, học pháp, giảng pháp cho bá tánh. Con đường tu được bắt đầu từ Sa Di rồi lên Tỳ Kheo, Đại Đức, Thượng Tọa, Hòa Thượng. Cả cuộc đời chuyên tâm cống hiến cho Phật, cho Đạo Pháp, không dinh dáng gì đến chuyện làm ăn mua bán của thế gian, thậm chí cuộc sống từ bộ y cho tới dôi dép đế mang, ly nước, chén cơm, di chuyển tới lui, hay lúc ốm đau…cũng toàn nhờ vào sự cung dưỡng của thí chủ. Bao nhiêu thời nay những Tu Sĩ đều rập khuôn theo những hình thức này. Có phải muốnTu Phật thì phải bỏ hết mọi việc thế gian, phải sống độc thân, cuộc sống hoàn toàn nhờ vào thí chủ như trên không ?
Đạo Phật tính đến nay đã trải qua gần 3.000 năm. Thay vì theo lời Phật dặn dò : Chỉ những người Thấy Tánh mới được rao giảng Đạo Pháp, thì từ khi Y Bát không còn truyền, ai cũng có thể làm pháp Sư, giảng Pháp. Không cần biết theo Thừa nào, Tông nào, Giáo phái nào. Hiểu ít, hiểu nhiều, hiểu đúng hay sai, cứ đầy đủ hình tướng và các điều kiện trên là có quyền làm Pháp Sư, nghiễm nhiên rao giảng Đạo. Người Phật Tử làm sao phân biệt chánh, tà, chứng đắc hay chưa ? Rồi thì thời nào lại không có những người lợi dụng Đạo để “mượn Đạo, tạo đời” ? Vì vậy, chúng ta thử tìm xem một quy trình tu hành chân chính gồm những gì ?
Trước hết, Đạo Phật được mệnh danh là Đạo ĐỘ KHỔ. Tu sĩ chính là những nggười ý thức cuộc đời là Khổ, muốn nương Giáo Pháp của Đạo Phật để hành trì mà Thoát Khổ.
Muốn Thoát Khổ thì phải biết điều gì đã làm ra những nỗi Khổ và cách thức để giải Khổ. Tu Phật chính là học cách thức để Giải Khổ, dù vẫn tiếp tục trong trong bể khổ.
Do đâu mà có KHỔ ?
Đạo Phật cho rằng do có cái THÂN nên mới có chỗ cho Khổ đổ vô đó. Thân như tấm bia để mọi nỗi Khổ nhắm vào. Nhưng muốn thoát Khổ không phải là hủy cái Thân đi hay xa lánh cuộc đời, mà chỉ cần bỏ cái CHẤP THÂN. Muốn không còn CHẤP THÂN thì phải hiểu rõ về nó. Chính vì vậy mà người tu cần để thời gian tĩnh lặng gọi là Thiền Định để Quán Sát, Tư Duy tìm hiểu về KHỔ cũng như cách thức TRỪ KHỔ.
Do con người trước kia quen buông lung, nên bước vào Đạo Phật là bước vào một lãnh vực mới, phải có cách sống mới theo khuôn khổ. Vì vậy, việc đầu tiên là phải Giữ GIỚI, mục đích là để hạn chế tự do đi theo đường cũ, với những thói quen xấu như trước. Sau đó là phải học một số việc để khai mở sự hiểu biết trên con đường tu hành, gọi là GIỚI-ĐINH-HUỆ.
Có giữ GIỚI thì mới có sức ĐỊNH. Có sức ĐỊNH thì mới có thể quán sát, tư duy để sinh ra sự hiểu biết về Đạo gọi là TRÍ HUỆ. Ngoài ra còn phải học Phật Pháp bằng cách nghe thầy giảng, hoặc đọc Kinh, vì Kinh là những lời của Chư Tổ giải thích về những điều cần hiểu, cần thực hành để đạt mục đích của Đạo. Do đó mà có chuỗi việc VĂN-TƯ-TU. Đó là Sáu việc làm không thể thiếu cho người muốn tu học.
Về hình thức tổ chức, thì buổi đầu, khi Đức Thích Ca mới thành lập Tăng Đoàn thì ở Ấn Độ đã có rất nhiều nhóm tu hành theo nhiều Giáo Phái khác nhau. Để có sự khác biệt, Đức Thích Ca đã tạo ra sắc phục, hình tướng cho những người tu theo mình để phân biệt với những giáo phái khác. Nhiều người nghĩ rằng tất cả chỉ dừng ở đó. Không ngờ mỗi hình ảnh người tu sĩ mang trên người đều nói lên những điều họ cần thực hiện bên trong.
- Đầu tròn : Một cái đầu tròn trịa, ngay thẳng, không mưu mô, gian xảo, tính toán, hại người.
- Áo vuông, hoại sắc : Trùm phủ lên Thân, Tâm một màu thanh khiết. Không để Sắc trần nhuộm bẩn.
- Tóc cạo sạch : Tượng trưng cho cạo sạch phiền não.
- Ở trong Chùa : Ở nơi thanh tịnh, có Phật ngự.
Muốn làm điều gì thì phải quyết tâm. Người muốn tu theo Đạo Phật không thể hiểu lan man, mơ hồ rồi Phát tâm mà có thể tu hành thành công được. Do đó, chúng ta sẽ căn cứ theo Phát Tâm của người khai sáng Đạo là Đức Thích Ca, để xem Ngài thấy gì ? sợ gì mà phải rời bỏ hoàng cung, vợ đẹp, con thơ để đi tìm ?
Sử chép : Sở dĩ Đức Thích Ca Phát Tâm đi tu là vì trông thấy những Cảnh Khổ SINH, LÃO, BỆNH, TỬ đè nặng lên cái Thân của con người. Ngài muốn tìm xem có cách nào để Thoát những nỗi Khổ đó hay không ?
Sau một thời gian dài quán sát, Ngài thấy rằng : Con người đã có mặt ở cuộc đời là phải SỐNG, phai đối đầu với biết bao nhiêu nỗi Khổ chất chồng : Nào SINH. LÃO, BỆNH, TỬ, nào là Cầu bất đắc, oán tắng hội..Nhưng kiếp sống chỉ kéo dài nhiều lắm là một trăm năm. Do vậy, có thể nói rằng kiếp sống chỉ là Sống tạm mà thôi. Vậy mà trong thời gian Sống tạm đó, con người vì Tham, Sân. Si nên đã tạo Nghiệp, vì thế mà phải xoay vần để trả Nghiệp gọi là Luân Hồi. Tu Phật là để kết thúc vòng Luân Hồi.
Vì sao mà phải Luân Hồi ? Vòng Luân Hồi diễn ra như thế nào ? Cách nào để kết thúc ?
Theo Đức Thích Ca, mỗi người có một cái CHÂN NGÃ., tức là CÁI TA THẬT hay BỔN THỂ TÂM. Cái này Vô Tướng, bất sinh, bất diệt, trường tồn. Cái Thân Tứ Đại hiện tại mà mỗi con người đang mang chỉ là Thân Nghiệp, ứng hiện ra chỉ là để TRẢ những NGHIỆP do Cái CHÂN NGÃ trong thời gian còn Vô Minh đã điều khiển cho cái Thân Giả tạm gây tạo khi còn ở trong THÂN trước. Vì vậy, khi cái Thân giả hiện tại hết Nghiệp thì Cái BỔN THỂ TÂM lại phải phải nhận một cái Thân Tứ Đại khác để tiếp tục Trả những Nghiệp đã gieo. Cứ thế, triền miên hết Sinh rồi lại Tử, Tử rồi lại Sinh, gọi là Luân Hồi. Bao giờ ý thức để ngưng tạo Nghiệp thì mới kết thúc Vòng Luân Hồi.
Có 12 Nhân Duyên, làm thành Vòng Luân Hồi. Bắt đầu bằng VÔ MINH. Từ Vô Minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên Danh Sắc, Danh Sắc sinh Lục Nhập, Lục nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sanh, Sanh duyên Lão, Tử, Ưu Bi, Khổ não… Muốn chấm dứt vòng Luân Hồi thì phải Trừ Vô Minh. Muốn Trừ Vô Minh thì phải Quán Sát. Tư Duy. Sau khi có kết quả rồi áp dụng vào cuộc sống, tháo gỡ từ từ cho đến khi được hoàn toàn Giải Thoát.
Tu Phật không phải là để đắc Quả Vị cao hay thấp, mà là học cách để tháo gỡ để không còn phiền não, gọi là được Giải Thoát. Để được Giải Thoát, người tu phải Biết ràng buộc ở đâu ? Làm thế nào để Giải Thoát ? Khi biết ràng buộc là do Cái Thân, cái Tâm thì hành giả phải học để biết về THÂN, TÂM và Các Pháp. Ý thức về Duyên, Nghiệp, Chân, Giả, rồi ngưng tạo Nghiệp và bỏ Giả, về Chân, để được sống một đời an vui, hạnh phúc cho đến hết kiếp. Khi đã Giải Thoát rồi thì vĩnh kiếp không còn bị ràng buộc nữa, dù có trôi lăn đến đâu. Vì hành giả đã có Trí Huệ để tự chủ cho hành vi, suy nghĩ của mình.
Những ai và ở đâu mới có thể tu hành Giải Thoát được ?
Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA viết : “Cõi nước, chỗ nào, nếu có người thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép, đúng như lời tu hành. Hoặc là chỗ có quyển Kinh, hoặc trong vườn, hoặc trong rừng, hoặc dưới cây, hoặc Tăng phường, hoặc nhà Bạch y, hoặc ở điện đường, hoặc núi hang đồng trống. Trong đó đều nên dựng tháp cúng dường.
Vì sao ? Phải biết chỗ đó chính là Đạo Tràng. Các Đức Phật ở đây mà chuyển pháp luân. Các Đức Phật ở đây mà đặng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Các Đức Phật ở đây mà nhập Niết Bàn”.
Đạo Tràng, nơi “các Đức Phật ở đây mà Chuyển Pháp Luân, mà đặng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, mà nhập Niết Bàn”, không phải ở Chùa, cũng không liên quan gì đến hình tướng, nơi ở, y phục, mà chính là : “Thọ, trì, đọc tụng, giải nói biên chép, y pháp tu hành”. Người đời cũng nói : “Chiếc áo không làm nên thầy tu”. Đạo cũng không khác. Hình tướng bên ngoài chỉ để cho người ngoài nhìn vào đánh giá mà thôi. Chính cái Hạnh mà người tu thực hiện bên trong mới đem lại kết quả.
Lục Tổ cũng dạy : “Chư Thiện Tri Thức, muốn tu hành thì ở nhà tu cũng đặng, chẳng cần ở Chùa. Ở nhà mà thường tu hành thì cũng như người Đông phương có lòng lành. Ở Chùa mà chẳng tu hành thì cũng như nguời Đông phương có lòng dữ. Nếu lòng trong sạch thì Tánh mình tức là Tây Phương vậy”.
Thế nhưng, ngay trước khi ĐẠI THỪA được truyền sang Trung Quốc, những người bên TIỂU THỪA đã đến đó truyền đạo. Bằng chứng là khi Tổ Đạt Ma tới Trung Quốc vào yết kiến Vua Lương Võ Đế, thì Vua khoe “đã cất đến 72 kiểng Chùa và độ vô số Tăng”, tưởng đó là lập được nhiều Công Đức ! Nhiều năm sau, đến khi Ngũ Tổ giảng dạy, thì trong đám học trò có Sư Thần Tú, dù chưa chứng đắc vẫn ung dung mở Chùa Ngọc Tuyền giảng pháp. Trong khi đó, Tổ Huệ Năng sau khi được Truyền Y Bát nhiều lần bị họ truy sát, phải lận đận trốn tránh, phải ở chung với đám thợ săn mãi 16 năm mới bắt đầu ra giảng dạy, nhưng phe tranh chấp hết cho người đi trộm pháp rồi thuê Thầy Tăng tên Hạnh Xương tới để hành thích Tổ, chém ba dao không đứt mới buông dao sám hối !
Do nhiều người thấy rằng chỉ cần Xuất Gia, vô Chùa, cạo tóc, đắp y là có được cuộc sống nhàn hạ, ăn trên, ngồi trước, làm thầy mọi người, mọi thứ đã có bá tánh lo, nên người thật tâm tu hành chưa chắc đã đông bằng những người vì danh vì lợi mà cũng “xuất gia đầu Phật”! Do không thật tâm tu hành nên đâu có dốc lòng tu học nghiêm chỉnh, mà chỉ chọn một một số Phẩm trong Kinh, chủ yếu là nói về sự linh ứng, hộ trì của Phật, Bồ Tát,rồi “Y Kinh Giải nghĩa”, ca tụng hết lời về quyền năng, về sự cứu độ của Phật, lôi kéo Phật Tử Quy Y cho đông để rồi sau đó ung dung núp sau lưng Phật mà có cuộc sống nhàn hạ do Phật tử kính Phật nên trọng Tăng, cúng dường cho họ!
Do không hiểu mục đích cũng như phương tiện của Đạo Phật nên họ không biết làm gì khác hơn là bắt chước rập khuôn theo thời Đức Thích Ca mới thành lập Tăng Đoàn : Các Tu sĩ không được có gia đình. Không được làm ăn, dính líu gì đến chuyện đời. Mọi thứ đều do Phật Tử cúng dường mà không biết rằng sở dĩ buổi đầu Phật phải hạn chế các Đại Đệ Tử tham gia việc đời là vì thời mới lập Đạo, Giáo Pháp cũng chưa hoàn chỉnh, nên Ngài phải bắt các Đại Đệ Tử không được có gia đình, cũng không được làm ăn dính líu đến thế gian, mục đích là để họ tập trung toàn tâm toàn ý nghe Phật giảng pháp để tương lai phổ biến. Hơn nữa, lúc đó Tăng Đoàn không có cất Chùa, chỉ ngụ ở trong rừng hay gốc cây. Không có gì để cất chứa. Thậm chí muối cũng không được để qua đêm, nên việc cung dưỡng cũng nhẹ nhàng, chỉ là một bát cơm giữa ngọ nên người cung dưỡng cũng không gặp khó khăn hay tốn kém.
Nhưng sau khi Phật nhập diệt khoảng 200 năm thì Giáo Pháp đã được chép lại thành văn bản. Càng về sau thì càng thêm vào những bộ Chính Kinh do Chư Tổ giảng dạy phổ biến. Giáo Pháp không còn có gì là bí hiểm, khó hiểu, người tu không cần phải bỏ hết mọi việc, không được làm ăn để tập trung, Quan Sát, Tư Duy, tìm tòi nữa. Cứ theo lời Kinh dạy, tìm hiểu ý nghĩa cho rõ ràng rồi thực hành theo.
Chính Kinh đã giải thích rõ : Việc tu hành chỉ là để được Thoát Khổ. Cái Thoát Khổ đâu có liên quan tới độc thân hay có gia đình ? Đâu có hạn chế nghề nghiệp, nơi ở ? Đạo Phật chỉ hướng dẫn người muốn Thoát Khổ để họ thấy rằng sở dĩ con người phải Khổ là do Cái Tâm, nên người muốn Thoát Khổ phải tìm cái Tâm rồi tu sửa ở đó, gọi là TU TÂM. Nhưng hàng Nhị Thừa đã không hiểu điều này. Vì vậy, họ đã cố tình quan trọng hóa việc tu hành. Cứ dựa theo hình tướng ngày xưa rồi rập khuôn theo đó. Đến thời này mà họ vẫn cho rằng muốn đi tu thì phải đầy đủ hình tướng. Phải Xuất Gia, phải bỏ đời, không phải làm gì hết. Phải ở trong Chùa, phải độc thân, không làm ăn dính dáng gì đến thế gian. Ngày giờ của Tu Sĩ chỉ dùng để tụng kinh, Niệm Phật, Ngồi Thiền. Nhưng do không biết mục đích và phương tiện của Phật, nên cũng không biết đâu là bờ bến. Không biết sẽ phải làm những điều đó cho đến bao giờ ? chỉ biết Thờ Phật, trở thành những người phụng sự cho Phật và làm trung gian để chuyển lời cầu xin của bá tánh đến Phật ! Họ tự xem mình như những Đệ tử thân tín của Phật. Họ cũng nói Đạo Phật là Đạo Nhân Quả, vậy mà cứ xui bá tánh hết cầu An đến Cầu Siêu, cầu tai qua, nạn khỏi, ăn nên, làm ra, phát tài, phát lộc, quốc thái, dân an, mùa màng sung túc, người dân được hạnh phúc an lạc !
Trong khi đó, Phật không phải là Thần Linh, không có quyền năng gì để cứu độ cho ai. Ngài chỉ “Độ” cho mọi người bằng cách để lại Giáo Pháp mà những ai tin rồi thực hành theo cũng sẽ được Thoát Khổ như Ngài và Chư vị đi trước. Do đó mà Đức Thích Ca đã Thọ ký cho “tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành”, đâu có hứa cứu độ cho ai ? Như vậy phải chăng họ cố ý lừa dối bá tánh ?.
Ngoài việc bản thân không hiểu Đạo thì tự chịu hậu quả, bao nhiêu thời qua họ còn thuyết giảng, lôi kéo một số không ít những người tuổi còn trẻ, được đào tạo bài bản với nhiều ngành nghề có ích cho xã hội bỏ hết, vô Chùa tu, để rồi cả cuộc sống sau đó trở thành ở bên lề cuộc đời, ngày tháng chỉ tụng Kinh, Niệm Phật chờ ngày về Niết Bàn ! Rõ ràng họ không biết rằng Đạo Phật sau khi dạy người tu phải Cải Ác, Hành Thiện, thanh lọc Thân, Tâm rồi còn phải đền TỨ ÂN, tức là phụng dưỡng cho cha mẹ, đền Ân Đất nước đã bảo vệ, che chở cho mình, bằng cách đóng góp công sức, trí tuệ để đưa đất nước giàu mạnh hơn. Đền Ân Chúng Sinh bằng cách “Tự độ đồng độ tha” để tất cả đều được hạnh phúc, an vui trong kiếp sống tạm gọi là Hữu Dư Y Niết Bàn. Chính những người không hiểu Đạo Phật đã biến Đạo Phật từ Tự Độ, Nhân Quả trở thành quyền thừa, mê tín. Biến Phật thành Thần linh để Phật Tử cầu xin phù hộ, độ trì. Biến những Tu Sĩ không chỉ vô trách nhiệm với bản thân, bất hiếu với cha mẹ , bất nghĩa với cuộc đời, còn trở thành gánh nặng cho xã hội, vì thí chủ vừa phải vừa lo cho gia đình, vừa phải cung cấp mọi thứ cho họ, để cho họ nhàn hạ, trong khi nếu họ có tu xong thì cũng chỉ bản thân họ nhờ ! Mặc dù đã trút gánh nặng cơm áo gạo tiền cho thí chủ, nhưng họ cũng không dừng ở chỗ “Ăn ít, biết đủ”, mà với chiêu bài cúng dường Phật, họ đòi hỏi phải có Chùa to, tiện nghi ngày càng đầy đủ. Tượng ngày càng lớn để cạnh tranh với Chùa khác và với khu vực để bản thân mình được tiếng là tạo ra kỳ tích, để đời, rõ ràng là “của người nhưng phúc ta” !
Nếu là người ý thức việc tu hành, hiểu rằng “Giải Thoát hay ràng buộc cũng chỉ do một Tâm” , mình tu chỉ mình mình nhờ, không cần ai biết, thì hình tướng không cần thiết, bởi vì nó chỉ có giá trị để người ngoài nhìn vào đánh giá. Ngược lại, hình tướng đôi khi gây trở ngại cho người mang nó khi hòa đồng vào cuộc sống, làm cho nhiều người e ngại và bản thân cũng gặp khó khăn trong sinh hoạt đời thường. Chúng ta nên nhớ là Lục Tổ Huệ Năng được Truyền Y Bát khi vẫn chưa thế phát, quy y. Điều đó chứng minh là sự thành tựu trong Đạo không nằm ở việc có hình tướng đầy đủ hay không. Vì thế, nếu Tu Sĩ dùng hình tướng như một sự nhắc nhở để bản thân thực hiện nơi Thân, Tâm giống như những gì hình tướng đang nói lên, thì đó là một biểu tượng để mọi người nhìn vào thêm tôn trọng Đạo và người hành Đạo. Ngược lại, người không thật tâm tu hành mà dùng hình tướng như một phương tiện để mưu cầu danh, lợi thì nên đọc Kinh VỊ TẰNG HỮU THUYẾT NHÂN DUYÊN và QUY SƠN CẢNH SÁCH để thấy dù những việc ta làm chỉ mình ta biết, nhưng các vị đi trước cũng nhắc nhở rằng Nhân Quả không mất. Do đó, chỉ những người không sợ Nhân Quả mới coi thường vậy. ■
Tháng 4 Năm 2026
