1/-
Chùa Hương ở tỉnh Hà Tây
Trong
không khí đón chào Xuân mới trên đất nước thân yêu,
chúng ta cùng nhau đến viếng động Hương Tích tức Hương
Sơn –Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Trông động Hương Tích
như là con rồng
chúa đang há miệng vờn ngọc
.
Năm 1770, Chúa Trịnh
Sâm
từng thăm quan động và đặt tên cho động là "Nam
Thiên đệ nhất động"
tức động đẹp nhất trời Nam. Chùa Hương là một trong
những danh thắng nổi tiếng nằm trong khu di tích danh
thắng Hương Sơn, thuộc địa phận huyện Mỹ Đức. Từ
Hà Nội đi ô tô qua quận Hà Đông, tới Vân Đình, đến
Bến Đục thì dừng xe để chuyển sang đi thuyền trên
dòng suối Yến chừng 3km rồi đi bộ vào chùa. Ai không
muốn ngồi thuyền, có đường bộ xuyên qua rừng mơ.
Khoảng cách Hà Nội – chùa Hương là 70km.
Phong
cành Hương Sơn rất hấp dẫn: núi cao, rừng thẳm, suối
dài được kết hợp hài hòa, như có sự xếp đặt tài
tình giữa một vùng đồng bằng với những cánh đồng
lúa xanh mơn mởn.
Lễ
hội chùa Hương hàng năm diễn ra từ ngày 6 tháng giêng
đến 15 tháng 3 âm lịch. Trong dịp Lễ hội, hàng chục
vạn người đến lễ chùa thăm cảnh đẹp của núi non,
hang động, cầu may, cầu phúc. Các ngôi chùa nằm rải
rác trên nhiều địa hình của rừng núi Hương Tích.
Người Việt Nam và du khách muôn phương ham thích đi chùa
Hương để lễ Phật và được hòa mình với thiên nhiên
hùng vĩ.
-
Chùa Hương
là cách nói trong dân gian, trên thực tế chùa Hương hay
Hương Sơn là cả một quần thể văn hóa - tôn giáo Việt
Nam, gồm hàng chục ngôi chùa thờ Phật, vài ngôi đền
thờ thần, các ngôi đình, thờ tín ngưỡng nông nghiệp.
Trung tâm chùa Hương nằm ở xã
Hương
Sơn,
huyện Mỹ
Đức,
Hà
Nội,
nằm ven bờ phải sông
Đáy.
Trung tâm của cụm đền
chùa tại vùng này chính là chùa Hương nằm trong
động
Hương Tích
hay còn gọi là chùa
Trong.
Lịch
sử
Ngôi
chùa được xây dựng với quy mô chính vào khoảng cuối
thế
kỷ
17, sau đó bị huỷ hoại trong kháng chiến chống pháp năm
1947, sau đó được phục dựng lại năm 1988 do Thượng
Toạ Thích Viên Thành dưới sự chỉ dạy của cố Hoà
thượng Thích thanh Chân.
Thựơng
toạ
Thích
Minh Hiền,
(1961) trụ trì giai đoạn 2002 – hiện nay.
Hành
trình tham quan chùa Hương Hà Tây
Để
tham quan các chùa ở Hương Sơn, người hành hương thường
đi theo các tuyến đường khác nhau. Tuyến đi chính là đi
từ Bến Đục, nằm bên bờ sông
Đáy.
Đây là cửa ngõ vào khu danh lam thắng cảnh, thuyền đò
chen chúc. Từ Bến Đục, khách đi bộ gần 1 km sẽ
đến Bến Yến để lên thuyền xuôi theo một dòng suối
có tên là suối Yến đến bến Trò (bến Thiên Trù).
Ngoài ra, có thể đi theo con đường bộ ven chân núi
(nhưng ngày nay đã không đi được nữa). Trên đường từ
bến Yến vào Bến Trò, người ta có thể dừng chân tại
đền Trình (có nghĩa là nơi "trình diện" với
thần linh trước khi đến cõi Phật) trên núi Ngũ Nhạc.
Đây là đền thờ một vị thần núi. Đền còn có tên
Quan Lớn, thờ một bộ tướng của vua
Hùng.
Trên
dòng suối Yến có cây cầu gỗ
tên là cầu Hội. Từ chân cầu đi vào bên trái có thể
đi vào ngôi chùa Thanh Sơn trong một động núi.
Từ
Bến Trò đi bộ lên chùa Trò, tức chùa Thiên Trù (có
nghĩa là Bếp Trời –do Chu Mạnh Trinh xây dựng), còn
được gọi là chùa Ngoài. Từ bến vào chùa có một nhà
bia, trong có tấm bia "Thiên Trù tự bi ký" dựng
năm Chính Hòa thứ 7, ghi lại những hoạt động tu sửa
chùa Thiên Trù và chùa Hương Tích của nhà sư
Viên
Quang.
Giữa
sân chùa có một đỉnh đồng cao 3 m
.
Cạnh sân chùa có hồ bán nguyệt và vườn tháp. Trong
vườn tháp có ngôi tháp Viên Công chứa hài cốt Thiền
sư
Viên
Quang,
người có công trùng tu chùa Hương sau nhiền năm hoang
phế, được dựng từ thế kỷ 17. Tháp xây
gạch
trần
màu đỏ, cao 4 tầng, tầng thứ 2 và 3 có mái cong với
các đầu đao. Ở chùa Thiên Trù còn có quả chuông đúc
năm cảnh Thịnh thứ 2 (1793
)
thời nhà
Tây Sơn.
Người đi quyên góp đúc quả chuông này là nhà sư
Hải
Viên.
Ở đây còn có Thiên Thủy tháp là một mỏm đá mọc
ngược thành một cây tháp thiên tạo, nước mưa trên núi
theo tháp chảy xuống. Năm 1986
,
chùa Thiên Trù đã được phục dựng lại gác chuông và
đến năm 1989
thì xây xong nhà Tam bảo hai tầng theo kiểu chữ "Đinh".
Đầu năm 1994
,
chùa đã xây dựng lại Nam Thiên môn (cửa trời Nam) theo
nguyên mẫu.
Giữa
đường từ chùa Thiên Trù đến chùa Hương là chùa Giải
Oan. Ở đây có giếng nước trong vắt gọi là "Thiên
nhiên thanh trì" hay còn gọi là giếng Long Tuyền.
Trước chùa có suối chín nguồn gọi là suối Giải Oan.
Gần chùa là động Tuyết Kinh và am Phật Tích, nơi có
tảng đá tương truyền lưu dấu chân Quan Âm Bồ-tát.
Cách đó không bao xa, du khách bước chân đến núi Chấn
Song để thăm viếng đền cửa Võng thờ Mẫu
Thượng Ngàn.
Từ
chùa Thiên Trù, theo đường núi quanh co đi
khoảng 2 km
thì đến chùa
Hương
còn gọi là chùa Trong. Từ chùa Thiên Trù còn có lối rẽ
qua rừng mơ, đến chùa Hinh Bồng. Ngoài ra còn có thể đi
theo suối Tuyết vào đền Mẫu Hạ rồi đến núi Thuyền
Rồng, núi Con Phượng, hòn Đầu Sư Tử, vách đá Kỳ Sơn
Tú Thủy và sau đó đến bến Tuyết Sơn vào chùa Bảo
Đài. Trong chùa còn giữ được một pho tượng Cửu Long
bằng đồng
rất đẹp. Từ chùa Bảo Đài, theo một con đường phẳng
đến chùa Tuyết trong Ngọc Long động. Chùa Tuyết do một
bà quận chúa thời Trịnh
dựng vào năm 1694
.
Ở đây còn có phù điêu chân dung bà tạc vào vách động.
Nơi đây, vào năm 1770
,
Trịnh
Sâm
có làm bài thơ "Đăng Tuyết sơn hữu hứng".
Một
tuyến đường nữa theo một nhánh của suối Yến, qua núi
Ông Sư Bà vãi, cập bến Long Vân, leo núi thăm chùa Cây
Khế, và hang Sũng Sàm, một di chỉ văn
hóa Hòa Bình.
Hội
chùa Hương Sơn là hội chùa kéo dài nhất ở Việt
Nam
trong suốt ba tháng sau Tết
Nguyên Đán.
Ngày
mùng 6 tết âm lịch hàng năm là ngày khai hội. Hiện giờ
mọi công tác chuẩn bị cho mùa lễ hội 2015 đang diễn
ra rất tất bật...
2/-
Chùa Hương Tích
ở tỉnh Hà Tĩnh
Toạ
lạc trên đỉnh núi Hồng Lĩnh thuộc xã Thiên Lộc huyện
Can Lộc. Theo truyền thuyết, chùa là nơi thờ công chúa
Diệu Thiện con vua Trang Vương nước Sở,
Chùa
tọa lạc trên đỉnh núi
Hồng Lĩnh
thuộc xã Thiên Lộc huyện Can
Lộc
tỉnh Hà
Tĩnh
là một ngôi chùa có từ thế kỷ 13. Tuy nhiên, chùa ban
đầu đã bị hỏa hoạn làm cháy trụi vào năm 1885. Kiến
trúc chùa hiện này được Đào
Tấn
cho xây vào năm 1901. Năm 2003, chùa được trùng tu. Hội
chùa diễn ra vào ngày 18 tháng 2 âm lịch. Cứ 3 năm lại
tổ chức hội lớn một lần. Chùa thờ Phật Quan Âm và
có cả một am thờ Mẫu.
Chùa
Hương Tích ở Hà Tây thật ra chỉ là một "phiên
bản" đầy ý nghĩa của chùa Hương Tích trên núi
Hồng Lĩnh. Theo cuốn Hương Sơn thiên trù thiền phả, một
vị hòa thượng được lệnh của chúa Trịnh (sau khi đi
tuần thú) xác định địa điểm và cho xây dựng chùa
Hương Tích ở Hà Tây từ đời Lê Huy Tông dưới niên
hiệu Chính Hòa (1680 - 1704).
Trong khi theo sách Hương Sơn
báu quyển, chùa Hương ở Hà Tĩnh là một động cao và
khuất, thường có mây mù bao phủ.
Vậy
vì sao lại có thêm một chùa Hương "phiên bản"
ở phía Bắc?
Câu trả lời là vào thời Lê - Trịnh, các vua Lê - chúa
Trịnh phần lớn có quê ở xứ Thanh (xem Hoàng Lê nhất
thống chí của Ngô gia văn phái) nên các phi tần, mỹ nữ
đa số được chọn tuyển ở miền Hoan Châu. Hằng năm
các cung phi, cung nữ Thanh - Nghệ thường trẩy hội chùa
Hương trên núi Hồng Lĩnh vào ngày 18-2 âm lịch bằng
đường thủy qua cửa Hội Thống (gần Cửa Lò bây giờ).
Mỗi lần những "người đẹp" đi xa như vậy
khiến chúa Trịnh rất phân vân (tuy đã bố trí lính vệ
phục dịch dọc đường), do đó chúa Trịnh mới gọi một
vị hòa thượng xác định địa điểm ở miền rừng núi
Hà Sơn Bình để xây chùa Hương Tích thứ hai mà thờ
vọng để các "người đẹp" đi trẩy hội gần
hơn (theo dẫn giải của ông Bùi Văn Nguyên, nguyên tổng
thư ký Hội Văn nghệ dân gian VN). Như vậy nhờ "sáng
kiến" của chúa Trịnh mà Việt Nam có hai chùa Hương
Tích.
3/-
Chùa
Hương
- Núi Hương - Bàu Hương
(tỉnh Phú Yên)
Thuộc
địa bàn ba xã Hòa Mỹ Đông, Hòa Mỹ Tây và Hòa Phong
được xem là bộ ba danh thắng tạo nên một quần thể
hùng vĩ với non xanh nước biếc, sơn thủy hữu tình, có
sự kết hợp hài hòa giữa phong cảnh thiên nhiên với
công trình nhân tạo mang lại nhiều giá trị về văn hóa
tinh thần cho người dân địa phương.
Chùa
Hương Hà Tây và văn học
Chùa
Hương là nguồn gợi hứng cho nhiều tác phẩm thi ca Việt
Nam.
-Bài
"Chùa Hương"của Nguyễn
Nhược Pháp,
làm vào thế kỷ 20. Bài này đã được ít nhất 2 nhạc
sĩ phổ nhạc là Trần
Văn Khê
và Trung Đức.
Nguyễn
Nhược Pháp (1914 - 1938) sinh
tại Hà
nội,
ông là con của nhà văn, nhà báo, dịch giả, học giả
Nguyễn
Văn Vĩnh,
quê quán: xã Phượng Dục, huyện Phú
Xuyên,
Hà Nội. Ông học tại trường
Albert Sarraut
và đỗ tú tài. Ông làm thơ từ sớm và đã từng viết
cho các báo.
Nhân
dịp Hội Chùa Hương năm 1934, Nguyễn Nhược Pháp cùng
nhà thơ Nguyễn Vỹ và hai người bạn nữ sinh Hà thành
đi trẩy hội. Đến rừng mơ, hai Thi nhân gặp một bà mẹ
cùng cô gái độ tuổi trăng tròn vừa bước lên những
bậc đá vừa niệm Phật “Nam Mô
Cứu Khổ Cứu Nạn Đại Từ Đại Bi
Quan
Thế
Âm Bồ Tát”.
Vẻ
đẹp chân quê và khuôn mặt thánh thiện của cô gái đã
hớp hồn hai chàng thi sĩ khiến họ say mê ngắm nhìn mà
quên đi hai cô bạn gái cùng đi.
Nguyễn Nhược Pháp lại
gần hỏi: “Tại sao trông thấy chúng tôi cô lại không
niệm Phật nữa?”. Cô gái bối rối, thẹn thùng ...
Hai người bạn gái gọi hai chàng thi sĩ để đi tiếp
nhưng họ đâu còn nghe thấy gì ngoài tiếng niệm Phật
của cô gái còn vương vất đâu đây! Đêm đó, Nguyễn
Nhược Pháp trằn trọc không nguôi. Hình ảnh cô gái chân
quê đi chùa Hương khiến chàng trai xúc động viết lên
những vần thơ có sắc màu rực rỡ, hình ảnh tươi vui,
tất cả cảnh tượng sống động của mùa trẩy hội
chùa Hương ngày xưa hiện lên trên từng câu, từng chữ:
Hôm
nay đi chùa Hương,
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy
me em dậy,
Em vấn đầu soi gương.
Khăn
nhỏ, đuôi gà cao;
Em đeo dải yếm đào;
Quần lĩnh,
áo the mới;
Tay cầm nón quai thao...
(khá
dài với 134 câu 4 chữ)
Bài
thơ có tựa:
Cô
gái chùa Hương khi
in vào tập Ngày
Xưa thì
hai chữ Cô
gái bị
bỏ đi, chỉ còn Chùa
Hương.
Trong
số đó nổi tiếng nhất có lẽ là 2 bài
hát
nói
"Hương Sơn phong cảnh ca" của Tiến sĩ Chu
Mạnh Trinh
và Thám hoa Vũ Phạm Hàm, làm từ thế kỷ 19, xưa nay rất
được ca ngợi:
Bài
hát nói: HƯƠNG
SƠN PHONG CẢNH của
Chu
Mạnh Trinh
Chu
Mạnh Trinh
(1862- 1905) người tỉnh
Hưng
Yên.
Từ nhỏ, ông nổi tiếng thông minh, có tài văn phú. Khi
19 tuổi, ông đỗ Tú
tài.
Sau đó ông sang thụ giáo Phó bảng Phạm
Hy Lượng
và được thầy gả con gái cho.
Đến 25 tuổi, ông đỗ
Giải
nguyên
trường Hương khoa thi Bính
Tuất
(1885). Khoa thi Hội năm Nhâm Thìn (1892), ông đậu Tiến
sĩ
cùng khoa với Vũ Phạm Hàm.
Mưỡu:
Đàn
thông phách suối vang lừng/ Cá khe lắng kệ, chim rừng
nghe Kinh.
Hát
nói:
Bầu trời, cảnh bụt/ Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu
nay.
Kìa non non, nước nước, mây mây/ Đệ nhất động
hỏi là đây có phải?
Thỏ thẻ rừng Mai chim cúng
trái/ Lửng lơ khe Yến cá nghe kinh.
Thoảng bên tai một
tiếng chày
kình/
Khách tang hải giật mình trong giấc mộng.
Này suối
Giải Oan, này chùa Cửa Võng/ Này am Phật Tích, này động
Tuyết Quynh.
Nhác trông lên, ai khéo vẽ hình:/ Đá ngũ
sắc long lanh như gấm dệt.
Thăm thẳm một hang lồng
bóng nguyệt/ Chập chờn mấy lối uốn thang mây.
Chừng
giang sơn còn đợi ai đây/ Hay tạo hoá khéo ra tay sắp
đặt?
Lần tràng hạt niệm "Nam mô Phật"/ Cửa
từ bi công đức biết là bao.
Càng trông, phong cảnh
càng yêu!
Bài
hát nói: HƯƠNG SƠN PHONG CẢNH của Vũ Phạm Hàm
Vũ
Phạm Hàm
(1864
- 1906)
là Nhất giáp Tam
nguyên
trong ba kỳ
thi
triều nhà
Nguyễn
(lúc ông 29 tuổi).
Trong lịch
sử Việt Nam
chỉ có vài Tam nguyên là Đệ nhất giáp, gồm có
Phạm
Đôn Lễ,
Vũ
Dương,
Lê
Quý Đôn
(triều
Hậu Lê)
và ông. Vũ
Phạm Hàm gốc họ Phạm Vũ và
thuộc Biệt chi trong tộc phả họ Phạm Vũ –Đôn Thư,
Thanh Oai, Hà Tây.
Đây
bài hát nói dài nhất (78
câu)
- bài thơ Nôm duy nhất của Tam nguyên Vũ Phạm Hàm.
Mưỡu:
Hựu
hà tất bồng châu doanh hải (Cứ
gì nơi Bồng châu (nơi Tiên ở) mới có cảnh đẹp)
Tiểu
sơn lâm mà có đại kỳ quan
Hát
nói:
Người
tai mắt, chốn nhân gian/ Ai chẳng đến Hương Sơn thì
cũng tục
Kể
từ lúc bước lên đò Đục/ Liếc mắt trông đà mãn mục
vân sơn
Lần
theo một giải thanh tuyền.../ Nào ngư phủ nhập Đào
nguyên âu cũng thế
Mặt
trời gác bóng cây xế xế/ Tản vân in đáy nước rành
rành
Chim
trời mấy chiếc lênh đênh/ Cây mai thụ rập rềnh năm
bảy lá
Chú
tiều tử ruổi rong bến đá/ Lũ ngư ông quẩy cá qua cầu
Cỏ
cây san sát một màu/ Núi trước núi sau mình ở giữa
Đoàn
mục thụ bóng chiều vừa ngả/ Dắt trâu về lả tả
đầu ghềnh
Trong
hang sâu thăm thẳm một mình/ Thế mới biết Sơn Thủy
hữu tình là chốn ấy
Rừng
một giải càng trông càng thấy/ Núi mờ xanh từng dãy
ngất non thiêng
Kìa
núi Gà, núi Tương. Núi Trống, núi Chiêng/ Chưa qua núi
lại thấy đò bên cạnh núi
Thoạt
trông thấy biết đâu mà hỏi/ Cầu đăng tiên nọ chốn
đăng doanh
Gót
in đá biếc xanh xanh/ Lòng trần tục bỗng không, thanh
thản nhẹ
Cao
chót vót mấy tầng cổ sái/ Ấy chi chi nọ trái Thiên
Trù
Trăng
trong gió mát một bầu/ Ngắm phong cảnh Bồng hồ đâu
đó tá?
Động
đào đã dang tay mở khó/ Càng nhìn lâu càng rõ càng xinh
Cây
xanh xanh mà đá cũng xanh xanh/ Xuống một núi lại trèo
quanh một núi
Nước
công đức trong ngần không chút bụi/ Đường lên tiên
đây là suối Giải Oan
Thảnh
thơi bạch thạch thanh tuyền/ Thế mới biết thần tiên
là diệu thú
Thơ
rằng:
“Bộc
bố khê lưu, sơn diệc vũ”
(Suối
tuôn, lụa giải, non vờn múa)
“Nhân
thanh cốc ứng, thạch năng ngôn”
(Người
gọi, hang thưa, đá nói năng)
Trông
lên chòi nhỏ con con/ Mình ta đã chon von trên đỉnh núi
Đứng
núi nọ tưởng núi kia là cuối/ Bước chân lên đường
núi vẫn không cùng
Trèo
qua một nhịp Trấn song/ Đấy mới thực quần phong chi
đệ nhất
Miệng
niệm Nam-vô-A-di-đà Phật/ Mảng vui chơi mà quên phắt
đường xa
Quả
mơ non với nước mơ già/ Trong chân cảnh ngẫm ra chân
vị
Trong
bụi rậm đàn chim thỏ thẻ/ Dưới rừng xanh mấy chị
tìm mơ
Lá
vàng man mác ngẩn ngơ/ Tam quan đã tờ mờ đâu đó phải?
Chân
bước đi mặt còn ngoảnh lại/ Ước gì đường dài mãi
thì hay
Nào
ngờ tiên lĩnh trời xây/ Lối vào đã vén mây trông rõ
Vạn
trạng thiên hình vô số/ Vẫn hãy còn giấc ngủ lơ mơ
Xanh
như mây mà đá vẫn trơ trơ/ Trên vách phấn tờ mờ
treo giá áo
Này
Kho tiền, này Kho bạc/ Này buồng tằm, này Lẫm gạo
Phật
Quan Âm thiên tạo một tòa/ Bốn bề như gấm như hoa
Đó
ai lấy nhân công mà vẽ được/ Dưới cầu Bạch trong
veo đáy nước
Núi
Bình phong đứng trước Phật đình/ Chim gõ mõ, vượn
tụng kinh
Giục
lòng khách năm canh chải chuốt
“Dục
đáo Hương Sơn bất khả ước”
(Muốn
đến Hương Sơn không hẹn trước)
Khen
cho người đến trước cũng là tiên
Ai
ơi chẳng đến cũng hèn!
(In
lại theo bản của Trần Trung Viên: Văn Đàn báo giám, Bản
in lại của NXB Văn Học Hà Nội, 1998)
LỜI
BÌNH “HƯƠNG SƠN PHONG CẢNH” CỦA THI SĨ XUÂN DIỆU
(Trích
trong “Chùa Hương – Tập thơ” cùa tỉnh Hà Sơn Bình,
1985)
Mặt
trời gác bóng cây xê xế
Tản
vân in đáy nước rành rành
Chim
trời mấy chiếc lênh đênh
Cây
mai thụ rập rềnh năm bảy lá...
Đó
là VŨ PHẠM HÀM, mà theo ý tôi, là người có những câu
thơ hay nhất về cảnh HƯƠNG SƠN.
Cái xúc cảm chi phối cả bài thơ, là cảm giác ‘lâng
lâng’; mấy câu trên đây nói mây nổi ở dưới nước,
chim nổi ở trong không khí, lá mơ bơi ở giữa không gian
(do vì gió thổi); xuống dưới lại nói thêm cái ‘lâng
lâng’:
Gót
in là biếc xanh xanh
Lòng
trần tục bỗng không, thanh thản nhẹ.
Dưới
nữa cũng ‘lâng lâng’:
Cây
xanh xanh mà đá cũng xanh xanh
Xuống
một núi lại trèo quanh một núi...
Gần
về cuối vẫn ‘lâng lâng’:
Trong
bụi dặm đàn chim thỏ thẻ
Dưới
rừng xanh mấy chị tìm mơ
Lá
vàng man mác ngẩn ngơ...
Lá
rập rềnh, lá man mác, rõ là lá ở trên khoảng trời
thanh nhẹ: ở đây thực cũng như mộng, rõ ràng mở mắt
còn ngờ chiêm bao, cho nên hỏi: “Cao chót vót mấy tòa
cổ sái - Ấy chi chi nọ trái Thiên Trù”. Rồi lại hỏi:
“Lá vàng man mác ngẩn ngơ – Tam quan đã mờ mờ đâu
đó phải”. Những đoạn hay của bài thơ VŨ PHẠM HÀM
đến bây giờ vẫn còn rất trẻ. Câu kết bài thơ: “Ai
ơi chẳng đến cũng hèn”. Vô tình Tác giả nói một
hoàn cảnh, một tâm lý của xã hội rằng: trong xã hội
cũ, số người ngại khó, cho là đường đi chùa Hương
gian nan vất vả quá (!) chẳng phải là ít đâu.
LỜI
KẾT
-Nước
ta có 3 Chùa Hương:
Chùa Hương Tích Hà Tây thật ra chỉ là một "phiên
bản" đầy ý nghĩa của chùa Hương Tích trên núi
Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh). Tỉnh Phú Yên cũng có một chùa
Hương nữa.
-Ngoài
bài thơ dài nhất “Chùa
Hương”
của Nguyễn Nhược Pháp, sáng tác thế kỷ 20, thì trước
đó vào thế kỷ 19, văn học nước nhà xuất hiện 2 bài
hát nói “Hương
Sơn phong cảnh ca”
độc đáo của hai vị Thám hoa và Tiến sĩ triều Nguyễn.
Thật là hi hữu là trong cùng khoa thi 4 (năm 1892) của vị
vua yêu nước Thành Thái, đã xuất hiện Tam nguyên Thám
hoa Vũ Phạm Hàm và Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh với hai bài
thơ nôm tả cảnh Hương Sơn sáng giá nhất trong nền thơ
ca Việt Nam. Xuân Diện khen bài hát nói dài nhất của Vũ
Phạm Hàm là hay nhất về Hương Sơn.
Đầu
xuân đi lễ chùa Hương: Hàng
năm, mỗi độ xuân về hoa mơ nở trắng núi rừng Hương
Sơn, hàng triệu phật tử cùng tao nhân mặc khách khắp 4
phương lại nô nức trẩy hội chùa Hương - Hà Tây. Hành
trình về một miền đất Phật - nơi Bồ Tát Quan Thế Âm
ứng hiện tu hành, để dâng lên Người một lời nguyện
cầu, một nén tâm hương, hoặc thả hồn bay bổng hòa
quyện với thiên nhiên ở một vùng rừng núi còn in dấu
Phật. *-./.
(Tham
khảo: sách Tam nguyên Thám hoa Vũ Phạm Hàm, NXB Văn hóa-TT
Hà Nội, 2009 và các sách báo khác)
VVM.03.03.2026.
Trong khi theo sách Hương Sơn
báu quyển, chùa Hương ở Hà Tĩnh là một động cao và
khuất, thường có mây mù bao phủ.
Nhân
dịp Hội Chùa Hương năm 1934, Nguyễn Nhược Pháp cùng
nhà thơ Nguyễn Vỹ và hai người bạn nữ sinh Hà thành
đi trẩy hội. Đến rừng mơ, hai Thi nhân gặp một bà mẹ
cùng cô gái độ tuổi trăng tròn vừa bước lên những
bậc đá vừa niệm Phật “Nam Mô
Cứu Khổ Cứu Nạn Đại Từ Đại Bi
Quan
Thế
Âm Bồ Tát”.
Vẻ đẹp chân quê và khuôn mặt thánh thiện của cô gái đã hớp hồn hai chàng thi sĩ khiến họ say mê ngắm nhìn mà quên đi hai cô bạn gái cùng đi. Nguyễn Nhược Pháp lại gần hỏi: “Tại sao trông thấy chúng tôi cô lại không niệm Phật nữa?”. Cô gái bối rối, thẹn thùng ... Hai người bạn gái gọi hai chàng thi sĩ để đi tiếp nhưng họ đâu còn nghe thấy gì ngoài tiếng niệm Phật của cô gái còn vương vất đâu đây! Đêm đó, Nguyễn Nhược Pháp trằn trọc không nguôi. Hình ảnh cô gái chân quê đi chùa Hương khiến chàng trai xúc động viết lên những vần thơ có sắc màu rực rỡ, hình ảnh tươi vui, tất cả cảnh tượng sống động của mùa trẩy hội chùa Hương ngày xưa hiện lên trên từng câu, từng chữ:
Vẻ đẹp chân quê và khuôn mặt thánh thiện của cô gái đã hớp hồn hai chàng thi sĩ khiến họ say mê ngắm nhìn mà quên đi hai cô bạn gái cùng đi. Nguyễn Nhược Pháp lại gần hỏi: “Tại sao trông thấy chúng tôi cô lại không niệm Phật nữa?”. Cô gái bối rối, thẹn thùng ... Hai người bạn gái gọi hai chàng thi sĩ để đi tiếp nhưng họ đâu còn nghe thấy gì ngoài tiếng niệm Phật của cô gái còn vương vất đâu đây! Đêm đó, Nguyễn Nhược Pháp trằn trọc không nguôi. Hình ảnh cô gái chân quê đi chùa Hương khiến chàng trai xúc động viết lên những vần thơ có sắc màu rực rỡ, hình ảnh tươi vui, tất cả cảnh tượng sống động của mùa trẩy hội chùa Hương ngày xưa hiện lên trên từng câu, từng chữ:
Hôm
nay đi chùa Hương,
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy,
Em vấn đầu soi gương.
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy,
Em vấn đầu soi gương.
Khăn
nhỏ, đuôi gà cao;
Em đeo dải yếm đào;
Quần lĩnh, áo the mới;
Tay cầm nón quai thao...
Em đeo dải yếm đào;
Quần lĩnh, áo the mới;
Tay cầm nón quai thao...
(khá
dài với 134 câu 4 chữ)
Bài
thơ có tựa:
Cô
gái chùa Hương khi
in vào tập Ngày
Xưa thì
hai chữ Cô
gái bị
bỏ đi, chỉ còn Chùa
Hương.
Trong
số đó nổi tiếng nhất có lẽ là 2 bài
hát
nói
"Hương Sơn phong cảnh ca" của Tiến sĩ Chu
Mạnh Trinh
và Thám hoa Vũ Phạm Hàm, làm từ thế kỷ 19, xưa nay rất
được ca ngợi:
Bài
hát nói: HƯƠNG
SƠN PHONG CẢNH của
Chu
Mạnh Trinh
Chu
Mạnh Trinh
(1862- 1905) người tỉnh
Hưng
Yên.
Từ nhỏ, ông nổi tiếng thông minh, có tài văn phú. Khi
19 tuổi, ông đỗ Tú
tài.
Sau đó ông sang thụ giáo Phó bảng Phạm
Hy Lượng
và được thầy gả con gái cho.
Đến 25 tuổi, ông đỗ
Giải
nguyên
trường Hương khoa thi Bính
Tuất
(1885). Khoa thi Hội năm Nhâm Thìn (1892), ông đậu Tiến
sĩ
cùng khoa với Vũ Phạm Hàm.
Đến 25 tuổi, ông đỗ
Giải
nguyên
trường Hương khoa thi Bính
Tuất
(1885). Khoa thi Hội năm Nhâm Thìn (1892), ông đậu Tiến
sĩ
cùng khoa với Vũ Phạm Hàm. Mưỡu:
Đàn thông phách suối vang lừng/ Cá khe lắng kệ, chim rừng nghe Kinh.
Hát nói:
Bầu trời, cảnh bụt/ Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay.
Kìa non non, nước nước, mây mây/ Đệ nhất động hỏi là đây có phải?
Thỏ thẻ rừng Mai chim cúng trái/ Lửng lơ khe Yến cá nghe kinh.
Thoảng bên tai một tiếng chày kình/ Khách tang hải giật mình trong giấc mộng.
Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng/ Này am Phật Tích, này động Tuyết Quynh.
Nhác trông lên, ai khéo vẽ hình:/ Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt.
Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt/ Chập chờn mấy lối uốn thang mây.
Chừng giang sơn còn đợi ai đây/ Hay tạo hoá khéo ra tay sắp đặt?
Lần tràng hạt niệm "Nam mô Phật"/ Cửa từ bi công đức biết là bao.
Càng trông, phong cảnh càng yêu!
Đàn thông phách suối vang lừng/ Cá khe lắng kệ, chim rừng nghe Kinh.
Hát nói:
Bầu trời, cảnh bụt/ Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay.
Kìa non non, nước nước, mây mây/ Đệ nhất động hỏi là đây có phải?
Thỏ thẻ rừng Mai chim cúng trái/ Lửng lơ khe Yến cá nghe kinh.
Thoảng bên tai một tiếng chày kình/ Khách tang hải giật mình trong giấc mộng.
Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng/ Này am Phật Tích, này động Tuyết Quynh.
Nhác trông lên, ai khéo vẽ hình:/ Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt.
Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt/ Chập chờn mấy lối uốn thang mây.
Chừng giang sơn còn đợi ai đây/ Hay tạo hoá khéo ra tay sắp đặt?
Lần tràng hạt niệm "Nam mô Phật"/ Cửa từ bi công đức biết là bao.
Càng trông, phong cảnh càng yêu!
Bài
hát nói: HƯƠNG SƠN PHONG CẢNH của Vũ Phạm Hàm
Vũ
Phạm Hàm
(1864
- 1906)
là Nhất giáp Tam
nguyên
trong ba kỳ
thi
triều nhà
Nguyễn
(lúc ông 29 tuổi).
Trong lịch
sử Việt Nam
chỉ có vài Tam nguyên là Đệ nhất giáp, gồm có
Phạm
Đôn Lễ,
Vũ
Dương,
Lê
Quý Đôn
(triều
Hậu Lê)
và ông. Vũ
Phạm Hàm gốc họ Phạm Vũ và
thuộc Biệt chi trong tộc phả họ Phạm Vũ –Đôn Thư,
Thanh Oai, Hà Tây.
Đây
bài hát nói dài nhất (78
câu)
- bài thơ Nôm duy nhất của Tam nguyên Vũ Phạm Hàm.
Mưỡu:
Hựu
hà tất bồng châu doanh hải (Cứ
gì nơi Bồng châu (nơi Tiên ở) mới có cảnh đẹp)
Tiểu
sơn lâm mà có đại kỳ quan
Hát
nói:
Người
tai mắt, chốn nhân gian/ Ai chẳng đến Hương Sơn thì
cũng tục
Kể
từ lúc bước lên đò Đục/ Liếc mắt trông đà mãn mục
vân sơn
Lần
theo một giải thanh tuyền.../ Nào ngư phủ nhập Đào
nguyên âu cũng thế
Mặt
trời gác bóng cây xế xế/ Tản vân in đáy nước rành
rành
Chim
trời mấy chiếc lênh đênh/ Cây mai thụ rập rềnh năm
bảy lá
Chú
tiều tử ruổi rong bến đá/ Lũ ngư ông quẩy cá qua cầu
Cỏ
cây san sát một màu/ Núi trước núi sau mình ở giữa
Đoàn
mục thụ bóng chiều vừa ngả/ Dắt trâu về lả tả
đầu ghềnh
Trong
hang sâu thăm thẳm một mình/ Thế mới biết Sơn Thủy
hữu tình là chốn ấy
Rừng
một giải càng trông càng thấy/ Núi mờ xanh từng dãy
ngất non thiêng
Kìa
núi Gà, núi Tương. Núi Trống, núi Chiêng/ Chưa qua núi
lại thấy đò bên cạnh núi
Thoạt
trông thấy biết đâu mà hỏi/ Cầu đăng tiên nọ chốn
đăng doanh
Gót
in đá biếc xanh xanh/ Lòng trần tục bỗng không, thanh
thản nhẹ
Cao
chót vót mấy tầng cổ sái/ Ấy chi chi nọ trái Thiên
Trù
Trăng
trong gió mát một bầu/ Ngắm phong cảnh Bồng hồ đâu
đó tá?
Động
đào đã dang tay mở khó/ Càng nhìn lâu càng rõ càng xinh
Cây
xanh xanh mà đá cũng xanh xanh/ Xuống một núi lại trèo
quanh một núi
Nước
công đức trong ngần không chút bụi/ Đường lên tiên
đây là suối Giải Oan
Thảnh
thơi bạch thạch thanh tuyền/ Thế mới biết thần tiên
là diệu thú
Thơ
rằng:
“Bộc
bố khê lưu, sơn diệc vũ”
(Suối
tuôn, lụa giải, non vờn múa)
“Nhân
thanh cốc ứng, thạch năng ngôn”
(Người
gọi, hang thưa, đá nói năng)
Trông
lên chòi nhỏ con con/ Mình ta đã chon von trên đỉnh núi
Đứng
núi nọ tưởng núi kia là cuối/ Bước chân lên đường
núi vẫn không cùng
Trèo
qua một nhịp Trấn song/ Đấy mới thực quần phong chi
đệ nhất
Miệng
niệm Nam-vô-A-di-đà Phật/ Mảng vui chơi mà quên phắt
đường xa
Quả
mơ non với nước mơ già/ Trong chân cảnh ngẫm ra chân
vị
Trong
bụi rậm đàn chim thỏ thẻ/ Dưới rừng xanh mấy chị
tìm mơ
Lá
vàng man mác ngẩn ngơ/ Tam quan đã tờ mờ đâu đó phải?
Chân
bước đi mặt còn ngoảnh lại/ Ước gì đường dài mãi
thì hay
Nào
ngờ tiên lĩnh trời xây/ Lối vào đã vén mây trông rõ
Vạn
trạng thiên hình vô số/ Vẫn hãy còn giấc ngủ lơ mơ
Xanh
như mây mà đá vẫn trơ trơ/ Trên vách phấn tờ mờ
treo giá áo
Này
Kho tiền, này Kho bạc/ Này buồng tằm, này Lẫm gạo
Phật
Quan Âm thiên tạo một tòa/ Bốn bề như gấm như hoa
Đó
ai lấy nhân công mà vẽ được/ Dưới cầu Bạch trong
veo đáy nước
Núi
Bình phong đứng trước Phật đình/ Chim gõ mõ, vượn
tụng kinh
Giục
lòng khách năm canh chải chuốt
“Dục
đáo Hương Sơn bất khả ước”
(Muốn
đến Hương Sơn không hẹn trước)
Khen
cho người đến trước cũng là tiên
Ai
ơi chẳng đến cũng hèn!
(In
lại theo bản của Trần Trung Viên: Văn Đàn báo giám, Bản
in lại của NXB Văn Học Hà Nội, 1998)
LỜI
BÌNH “HƯƠNG SƠN PHONG CẢNH” CỦA THI SĨ XUÂN DIỆU
(Trích
trong “Chùa Hương – Tập thơ” cùa tỉnh Hà Sơn Bình,
1985)
Mặt
trời gác bóng cây xê xế
Tản
vân in đáy nước rành rành
Chim
trời mấy chiếc lênh đênh
Cây
mai thụ rập rềnh năm bảy lá...
Đó
là VŨ PHẠM HÀM, mà theo ý tôi, là người có những câu
thơ hay nhất về cảnh HƯƠNG SƠN.
Cái xúc cảm chi phối cả bài thơ, là cảm giác ‘lâng
lâng’; mấy câu trên đây nói mây nổi ở dưới nước,
chim nổi ở trong không khí, lá mơ bơi ở giữa không gian
(do vì gió thổi); xuống dưới lại nói thêm cái ‘lâng
lâng’:
Gót
in là biếc xanh xanh
Lòng
trần tục bỗng không, thanh thản nhẹ.
Dưới
nữa cũng ‘lâng lâng’:
Cây
xanh xanh mà đá cũng xanh xanh
Xuống
một núi lại trèo quanh một núi...
Gần
về cuối vẫn ‘lâng lâng’:
Trong
bụi dặm đàn chim thỏ thẻ
Dưới
rừng xanh mấy chị tìm mơ
Lá
vàng man mác ngẩn ngơ...
Lá
rập rềnh, lá man mác, rõ là lá ở trên khoảng trời
thanh nhẹ: ở đây thực cũng như mộng, rõ ràng mở mắt
còn ngờ chiêm bao, cho nên hỏi: “Cao chót vót mấy tòa
cổ sái - Ấy chi chi nọ trái Thiên Trù”. Rồi lại hỏi:
“Lá vàng man mác ngẩn ngơ – Tam quan đã mờ mờ đâu
đó phải”. Những đoạn hay của bài thơ VŨ PHẠM HÀM
đến bây giờ vẫn còn rất trẻ. Câu kết bài thơ: “Ai
ơi chẳng đến cũng hèn”. Vô tình Tác giả nói một
hoàn cảnh, một tâm lý của xã hội rằng: trong xã hội
cũ, số người ngại khó, cho là đường đi chùa Hương
gian nan vất vả quá (!) chẳng phải là ít đâu.
LỜI
KẾT
-Nước
ta có 3 Chùa Hương:
Chùa Hương Tích Hà Tây thật ra chỉ là một "phiên
bản" đầy ý nghĩa của chùa Hương Tích trên núi
Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh). Tỉnh Phú Yên cũng có một chùa
Hương nữa.
-Ngoài
bài thơ dài nhất “Chùa
Hương”
của Nguyễn Nhược Pháp, sáng tác thế kỷ 20, thì trước
đó vào thế kỷ 19, văn học nước nhà xuất hiện 2 bài
hát nói “Hương
Sơn phong cảnh ca”
độc đáo của hai vị Thám hoa và Tiến sĩ triều Nguyễn.
Thật là hi hữu là trong cùng khoa thi 4 (năm 1892) của vị
vua yêu nước Thành Thái, đã xuất hiện Tam nguyên Thám
hoa Vũ Phạm Hàm và Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh với hai bài
thơ nôm tả cảnh Hương Sơn sáng giá nhất trong nền thơ
ca Việt Nam. Xuân Diện khen bài hát nói dài nhất của Vũ
Phạm Hàm là hay nhất về Hương Sơn.
Đầu
xuân đi lễ chùa Hương: Hàng
năm, mỗi độ xuân về hoa mơ nở trắng núi rừng Hương
Sơn, hàng triệu phật tử cùng tao nhân mặc khách khắp 4
phương lại nô nức trẩy hội chùa Hương - Hà Tây. Hành
trình về một miền đất Phật - nơi Bồ Tát Quan Thế Âm
ứng hiện tu hành, để dâng lên Người một lời nguyện
cầu, một nén tâm hương, hoặc thả hồn bay bổng hòa
quyện với thiên nhiên ở một vùng rừng núi còn in dấu
Phật. *-./.
(Tham khảo: sách Tam nguyên Thám hoa Vũ Phạm Hàm, NXB Văn hóa-TT Hà Nội, 2009 và các sách báo khác)
