Nguyễn Bỉnh Khiêm sống gần trọn thế kỉ XVI, một thời kì vô cùng rối ren của lịch sử đất nước ta. Nhà Mạc thoán ngôi nhà Lê (1527), cát cứ Bắc Bộ. Nhà Lê trung hưng (với sự giúp rập của Nguyễn Kim và sau đó của họ Trịnh) cát cứ Trung Bộ. Nhà Nguyễn (chúa Nguyễn Hoàng) cát cứ từ Thuận Hoá trở vào. Chiến tranh thôn tính giữa Bắc Triều (nhà Mạc) và Nam Triều (Lê - Trịnh) kéo dài hơn nửa thế kỉ.
Trước thực trạng thời thế như vậy, Nguyễn Bỉnh Khiêm – một trí thức lớn, một nhà lí học lỗi lạc, từng trăn trở nhập thế giúp đời, từng dâng sớ xin vua nhà Mạc chém đầu 18 tên lộng thần nhưng không thành – rốt cuộc đã phải đi đến một nhận thức: hiện tình của lịch sử đương thời là một tất yếu, bất khả kháng! Chính từ nhận thức đó, ông đã quyết định rút chân ra khỏi chính sự và về quê ở ẩn lúc mới 53 tuổi (mặc dù ông luôn được nhà Mạc mời gọi, ban tước cao, tận dụng uy vọng của ông để giúp triều đình này tồn tại).
Sự thông thái của Nguyễn Bỉnh Khiêm là ở chỗ: ông không cố tình làm một việc mà ông đã biết chắc là không có kết quả. Ông chọn chữ nhàn làm phương châm xử thế, để tránh phải cộng tác với những thế lực phong kiến đang tranh giành nhau đất đai và quyền lực (không hợp với lí tưởng và sở nguyện của ông), để chờ thời thế trôi qua (như quy luật vận hành của vũ trụ mà ông am tường hơn ai hết), để gìn giữ lấy sự trung chính của bản thân trước thời cuộc đảo điên, để xây dựng và củng cố nền đạo đức dân tộc, và cuối cùng để hưởng thụ tất cả những gì mà một con người ưu tú như ông có thể và xứng đáng được hưởng thụ trên cõi thế gian này.
Thế nhưng với những con người lớn lao như Nguyễn Bỉnh Khiêm, riêng một chữ nhàn ấy đã là cả một thế giới hàm súc mà cả ngàn bài thơ của ông cũng chưa diễn đạt hết. Bản chất sự nhàn của ông cũng như của Nguyễn Trãi trước kia, chỉ là sự nhàn hạ đối với công danh mà thôi. Thật vậy, gánh nặng công danh vẫn thường là mối luỵ đáng sợ nhất, khổ nhục nhất cho một con người có tài năng và phẩm cách, đúng như Nguyễn Du sau này đã mô tả: “Áo xiêm ràng buộc lấy nhau, vào luồn ra cúi…”. Vì vậy những đại cao sĩ thường có thái độ khinh thị đối với công danh, đặt mình cao hơn công danh và sẵn sàng buông bỏ nó để tâm hồn luôn cao khiết và thanh thản. Chính họ thấu hiểu được chân lí: con người là tồn tại cao quý nhất trên cõi đời.
Chỉ nhàn với công danh mà thôi nên Nguyễn Bỉnh Khiêm không để cho một ngày nào của cuộc đời ông rơi vào “hư sinh” (sống vô vị). Ở Trung Tân Quán bên bờ sông Hàn (Tuyết Giang) ông đã mở trường dạy học để đào tạo trí thức cho đất nước, đã dựng Bạch Vân Am làm trụ sở để chiêu tập anh tài, truyền bá đạo lí, trước tác văn chương và sấm kí nhằm đúc kết toàn bộ thế giới trí tuệ, chí vọng, tâm hồn, đạo đức, nhân cách, tầm vóc con người và cả cá tính của ông. Và hiệu quả là ông trở thành nhà thơ lớn và nhà đại hiền triết của thế kỉ XVI. Rõ ràng Nguyễn Bỉnh Khiêm càng nhàn với công danh bao nhiêu thì càng bận với sự nghiệp của một vĩ nhân bấy nhiêu!
Uyên thâm Hán học, thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm uẩn súc và già giặn như thơ của các nho sĩ bậc thầy. Bởi tính chất khuôn mẫu và bác học, thơ chữ Hán thích hợp cho việc diễn đạt những vấn đề thuộc phạm trù lí trí như tư tưởng chính trị và thái độ của ông trước thời cuộc…
Có những câu thơ phi lộ cái tâm sự u uẩn của ông: việc phải đi ở ẩn chỉ là một “biến pháp” xử thế của ông trong một hoàn cảnh bất thường, hơn là một nhu cầu tự thân. Bởi thế ông cũng giống hệt như Nguyễn Trãi xưa, tuy ở ẩn mà thực ra không phút nào lòng ông nguôi được nỗi lo đời:
Lão lai vị ngải tiên ưu chí,
Đắc táng cùng thông khởi ngã ưu.
(Già chẳng nguôi niềm ưu ái cũ,
Cùng thông đắc táng chỉ lo đời)
Hữu Thế dịch
Ông đau xót chứng kiến sự hoành hành của cái ác trong thời buổi đáng giận ấy:
Yếm khan nghịch tặc cửu xương cuồng,
Hỗ chiến giao tranh bán sát thương.
Liệt hoả viêm viêm phần ngọc thạch,
Cô ưng ngạc ngạc bố loan hoàng.
(Ngán nhìn nghịch tặc mãi ngông cuồng,
Chém giết nhau hoài nửa sát thương.
Lửa dữ bừng bừng thiêu ngọc đá,
Ưng hung rừng rực quật loan hoàng).
Hữu Thế dịch
Ông đau đáu khát khao một tương lai tốt đẹp cho dân tộc:
Hà thời tái đổ Đường Ngu trị,
Y cựu kiền khôn nhất thái hoà?
(Bao giờ lại thấy đời Nghiêu Thuấn,
Xoay lại kiền khôn buổi thái hoà?)
Có những câu thơ cắt nghĩa vì sao ông phải lánh đời, và lánh đời với một cốt cách, một tầm vóc như thế nào:
Yếm khan trọc thế đấu phù vinh,
Tân quán thâu nhàn ngã độc thanh.
Sơn thuỷ đô tòng nhân trí lạc,
Đồ thư hội đắc cổ kim tình.
(Ngán nhìn đời đục buổi bon chen,
Tân Quán riêng ta chuốc cảnh nhàn.
Non nước trí nhân vui thú vị,
Đồ thư kim cổ tỏ cơ duyên.)
Nguyễn Văn Bách dịch
Những câu thơ chữ Hán sau đây được truyền tụng trong đời như một danh ngôn khắc hoạ nhân cách cao cả của Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Cao khiết thùy vi thiên hạ sĩ?
An nhàn ngã thị địa trung tiên.
(Trong sạch, trên đời, ai xứng sĩ?
An nhàn, giữa đất, lão là tiên).
Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn khẳng định niềm tin sắt đá của ông vào sự tất thắng của chính nghĩa đối với gian tà:
Vạn cổ gian hùng vô địa táng,
Nhất sinh trung nghĩa hữu thiên lâm.>
(Muôn thuở gian hùng không đất táng,
Một đời trung nghĩa có trời soi.)
Là nhà tư tưởng lớn, ông thấu hiểu nguyên lí muôn đời của sự thành bại, và do đó ông phủ nhận chiến tranh thôn tính giữa các tập đoàn phong kiến:
Cổ lai nhân giả tư vô địch,
Hà tất khu khu sự chiến tranh?
(Xưa nay nhân giả là vô địch,
Lọ phải khư khư thích chiến tranh?)
Thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã hàm chứa những suy nghĩ lớn, những tâm sự của ông, đã làm nổi rõ chân tướng một bậc vĩ nhân của dân tộc ta trong thế kỉ XVI.
**
Một thành tựu lớn lao và đặc sắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm là ông đã tiếp tục xây dựng lâu đài của văn học Nôm (tiếng Việt), kế tục một cách vinh quang dòng thơ Nôm của các bậc tiền bối như Nguyễn Sĩ Cố, Hàn Thuyên, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông và Hội Tao Đàn.
Nguyễn Bỉnh Khiêm lấy thơ Nôm Nguyễn Trãi làm mẫu mực cho thơ Nôm của ông. Một mảng đáng kể là loại thơ Nôm triết lí, trước hết phản ánh “thói đời”:
- Cơm áo bỗng xui người hoá quỷ,
Oản xôi dễ khiến bụt nên ma.
- Giàu sang người trọng, khó ai nhìn?
Mấy dạ (lòng) yêu vì kẻ lỡ hèn?
- Đời nay nhân nghĩa tựa vàng mười,
Có của thì hơn hết mọi lời…
Người – của lấy cân ta thử nhắc
Mới hay rằng của nặng hơn người!
Phê phán “thói đời”, Nguyễn Bỉnh Khiêm đồng thời noi gương Nguyễn Trãi viết tiếp bộ sách giáo khoa về đạo lí cho người Việt trong lúc thời suy. Ông vạch ra cho mọi người cái nguyên lí của đạo đức: đó là đức trung chính, là sự thiện lương, là lối sống không chỉ biết đến quyền lợi của mình mà còn biết quyền lợi của người khác:
- Người hơn ta thiệt thì dầu (mặc) vậy,
Đấy thằng đây chùng chẳng đứt đâu.
- Ở thế đừng tranh đấng trượng phu,
Làm chi cho có sự đôi co?
- Làm người có dại mới nên khôn,
Chớ dại ngây si chớ quá khôn.
Khôn được ích mình, đừng rẻ (khinh) dại,
Dại thì giữ phận, chớ tranh khôn.
Khôn mà hiểm độc là khôn dại,
Dại vốn hiền lành ấy dại khôn…
Ông viết hàng loạt bài “đức dục” sâu sắc về sự tu thân như “răn tham lam”, “răn sắc dục”, “răn cờ bạc”, “răn điêu toa”, “răn tính kiêu ngạo của kẻ sang”, “răn kẻ giàu khinh kẻ nghèo”, “răn đừng cầu đất tốt theo thuật phong thuỷ”, “răn đừng quá sùng bái Phật, vô ích”… Ông nêu lên những chuẩn mực trong quan hệ giữa người với người như: con với cha mẹ, đầy tớ với chủ, anh với em, chồng với vợ, nàng dâu với mẹ chồng, bạn bè, họ hàng…
Ví dụ:
Vàng bền há lại lửa còn sợ?
Cỏ cứng chi cho gió được lay?
Một nết miễn thâu (thấu) vừng nhật nguyệt,
Biết chăng hay chẳng, mặc lòng thầy!
(Răn đầy tớ thờ chủ)
Sau ngày đã kể (coi là) vợ tao khang,
Xin xót cùng nhau hỡi thế thường!
Lỗi nhỏ thứ cho đừng sá (nên) giận,
Tình thân nghĩ đến cũng nên thương.
Chi tuồng bòn của, no liền phụ,
Mảng (chỉ tưởng) nỗi chê già, ghét lại ruồng…
(Khuyên chồng đối xử với vợ)
Những bài đức dục của Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm rất chân thật nhưng đã thần tình chạm được vào cõi sâu kín nhất của tâm hồn của con người, làm thức tỉnh lương tri và những tình cảm tốt đẹp của họ khiến họ tự nguyện sống hướng theo đạo lí. Công lao chăm sóc, vun đắp nền đạo lí dân tộc của Nguyễn Bỉnh Khiêm quả không nhỏ.
Bên cạnh thơ đạo đức là mảng thơ trữ tình khá đặc sắc cho thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ có một khối óc vĩ đại mà còn có một có một tâm hồn chứa chan tình người. Bài thơ tiêu biểu sau đây miêu tả một “pha” sống rất hồn nhiên của ông khi “tay không đến mừng bạn”:
Gượng đến mừng nhau một mặt không,
Nhiều thì chẳng có, ít chăng (không) thông.
Hươu nai, hãy đợi trên rừng Bắc,
Thu, vược còn chờ dưới biển Đông.
Nam Sách rượu nồng còn mượn cút,
Tây Chân (huyện Nam Trực) quýt ngọt mới đâm bông!
Cực mong, rắp đợi, song còn muộn,
Vậy đến mừng nhau… một mặt không!
Chiếm vị trí quan trọng là mảng thơ nói về thuật xử thế của xử sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Mặc dầu trong thâm tâm ông vẫn còn ít nhiều giằng co giữa xuất và xử (ra làm việc với đời hay lui về ở ẩn), vẫn không ngớt bị day dứt khi vận mệnh của đất nước và nhân dân ông đang chìm đắm trong cơn máu lửa, nhưng là người hiểu thấu quy luật của Đạo, ông vẫn khẳng định được tính đúng đắn của con đường mình đã chọn:
- Áng công danh sá (nên) cắp tay (bó tay),
Nhiều phen đã khỏi tiếng tai bay
- Buồn về (về ở ẩn) biếng thấy áng đao binh,
Yên phận thì lành ở một mình.
Ông ngợi ca cuộc sống hoàn toàn hợp với nhân bản, hoàn toàn tự do khi lánh xa được chốn “cửa mận tường đào”, thoát khỏi vòng hiểm nguy của những cuộc tranh bá đồ vương. Đó là một cuộc sống thần tiên nhất trên trái đất:
Một mai một cuốc một cần câu,
Thơ thẩn dù ai (mặc ai) vui thú nào.
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến cội cây ta sẽ uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
Là triết gia được chính các học giả Trung Hoa tặng danh hiệu An Nam lí học, Nguyễn Bỉnh Khiêm có những bài thơ nôm trình bày thế giới quan của ông, rất gần với quan niệm Đạo của Lão Tử và những triết lí của đạo Phật như sắc không, luật nhân quả, luật luân hồi:
- Vì danh cho phải danh làm luỵ,
Được đạo thì hay đạo có mùi (cơ mầu).
- Làm người chen chúc nhọc đua hơi,
Chẳng khác nhân sinh ở gửi chơi.
Thoi nhật nguyệt đưa thấm thoắt,
Áng phồn hoa khá lạt phai…
- Sao dời vật đổi trong nền tướng (võ tướng),
Nước chảy hoa bay áng cửa hầu (vương hầu).
Sự thế cuộc cờ đâu miễn (tránh) được?
Lòng người sông bể, cạn thì sâu!
- Nhà dột bởi đâu? Nhà dột nóc,
Nếu nhà dột nóc, thế chon von (chông chênh).
Về nghệ thuật, cho dù thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm không tài tình bằng thơ Nôm Nguyễn Trãi nhưng vì ông biết chọn Nguyễn Trãi làm bậc thầy tiền bối và ra sức theo gót bậc thầy thiên tài đó nên ông đã trở thành người kế tục xứng đáng thơ Nôm Nguyễn Trãi và thơ Nôm thế kỉ XV nói chung. Ông vẫn duy trì thể thơ Hàn luật (dựa trên thể thơ Đường luật Trung Hoa nhưng đọc bằng âm Hán – Việt hoặc âm thuần Việt – quốc âm – và tuân thủ hoàn toàn luật hài thanh của tiếng Việt). Ông tiếp tục lối thơ bát cú trong đó có những câu 6 âm tiết xen vào những câu 7 âm tiết (như Nguyễn Trãi từng viết), thậm chí hầu hết là câu 6 âm tiết – tức thể thơ 6 chữ – tạo ra một sự cách biệt rất rõ giữa thơ Nôm với thơ chữ Hán về phương diện luật thơ:
Xóm tự nhiên một cái lều,
Qua ngày tháng lọ là nhiều?
Gió cuốn rèm thay chổi quét,
Trăng cài cửa: kéo đèn treo.
Cơm ăn chẳng quản dưa muối,
Áo mặc nài chi gấm thêu!
Tựa gốc cây ngồi hóng mát,
Đìu hiu ta hãy một đìu hiu.
Nguyễn Bỉnh Khiêm cống hiến cho thơ Nôm Việt Nam những câu thơ rất mực tài tình, có thể đặt bên cạnh thơ Nguyễn Trãi, khiến những thế hệ hậu sinh như chúng ta ngày nay đọc lại cũng vẫn thấy tràn đầy ý vị:
- Hồ Tây thuyền nổi, hoa mai bạc,
Song Bắc cầm xoang, vừng nguyệt thanh.
- Đêm đợi trăng cài bóng trúc,
Ngày chờ gió thổi tin hoa.
- Năm hồ có khách thênh thuyền mọn,
Chờ nguyệt đêm thanh hé bóng mai.
- Nương song ngày tiếc mùi hương lọt,
Nối chén đêm âu (lo) bóng quế tan.
- Hương đầy tiệc khách, hoa khi rụng,
Hứng dẫy (ngập) vườn xuân, chim thuở kêu.
- Bạo hung chỉn (thật) đã gươm mài đá,
Phúc đức đành hay cỏ đượm xuân.
v.v…
***
Những khối óc lỗi lạc nhất của các thời đại đều có thiên năng nhận biết những gì có thể bỏ qua và những gì nhất thiết phải làm trong thời đại mình. Việc bắt tay xây dựng và củng cố nền thơ ca thành văn (sơ kì của nền văn học thành văn) bằng tiếng mẹ đẻ (Nôm) chính là việc cực kì cần thiết phải làm trong những thế kỉ đầu của thời đại tự chủ (bắt đầu từ triều Ngô). Công việc trọng đại ấy đã do những vĩ nhân, danh nhân Việt Nam trong các thế kỉ XIII – XVI đảm trách: Hàn Thuyên, Trần Nhân Tông, Chu Văn An, Trần Quý Khoách, Nguyễn Biểu, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông và các thi nhân thời Hậu Lê, Nguyễn Bỉnh Khiêm. Việc làm vĩ đại của họ gống hệt như việc làm của đại thi hào Nga thế kỉ XIX Pushkin – người đặt nền móng cho nền văn học thành văn của nước Nga, người cùng một lúc chế tác ra ngôn ngữ văn học Nga và sáng tạo những kiệt tác đưa văn học Nga lên ngang tầm với nền văn học của châu Âu đương thời. Sự gặp gỡ nhau của các vĩ nhân là như vậy.
Nguyễn Bỉnh Khiêm đích thực là một đại thụ của nền văn hoá Việt Nam thế kỉ XVI. Ông đã đảm đương gánh vác một trách nhiệm vô cùng to lớn mà cả dân tộc đặt lên vai ông: kế thừa và phát huy truyền thống văn hoá, trí tuệ và đạo đức được tích luỹ trong các thời đại quá khứ. Ông đã hoàn thành được trách nhiệm ấy một cách vô cùng rực rỡ. Các thế hệ hậu sinh trong hơn bốn thế kỉ qua đã không ngừng kinh ngạc và bái phục trước những kì tích phong phú của ông.
Trước hết, đó là sự minh triết tuyệt vời, là những lời vàng ngọc mà chính ông đã truyền dạy cho toàn thể đồng bào của ông ở mọi thời đại như: Khôn chết, dại chết, biết sống. Chúng tôi xin cắt nghĩa câu cách ngôn này như sau: những kẻ mang bản tính ích kỉ, quá cậy vào đầu óc khôn ngoan của mình để cướp đoạt quyền lợi của những người khác, tuy trước mắt giành được phần thắng, nhưng do phạm vào luật công bình của trời đất (thiên bất dung gian) nên rốt cuộc sẽ phải bại vong, phải chết. Những kẻ ngu dại không có đủ trí khôn để làm chủ cuộc sống của mình, khi bị dồn tới cùng đường tất phải bó tay chịu chết. Chỉ những kẻ “biết” nghĩa là có trí tuệ sáng suốt để ứng xử hợp lí với mọi hoàn cảnh, tất sẽ sống. Nguyễn Bỉnh Khiêm từng được nhà Mạc tôn là “Trình quốc công” và ra sức mời mọc ông tham gia chính quyền của mình, nhưng ông đã sáng suốt chọn con đường treo ấn từ quan trở về quê lập Trung tân quán bên bờ Tuyết Giang và trở thành một danh nhân của dân tộc ta. Nếu ông không hành động như vậy mà ở lại với triều Mạc thì làm sao ông tránh được cảnh phải rơi vào thảm hoạ khi nhà Mạc bị các chúa Trịnh dồn đến đường cùng?
Nhờ khối óc minh triết, Nguyễn Bỉnh Khiêm tinh thông về lí số, từng được giới học giả Trung Hoa tặng danh hiệu “An Nam lí học”. Ông đã trước tác một tác phẩm độc đáo “Sấm kí Trạng Trình” tiên đoán được nhiều sự việc xảy ra trong tương lai xa đến mấy trăm năm.
Nguyễn Bỉnh Khiêm còn là một nhà giáo dục hàng đầu luôn chăm lo vun trồng nhân tài cho đất nước. Ông đặc biệt quan tâm gìn giữ và phát huy nền đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phê phán gay gắt những thói đời xấu xa, những tham vọng điên cuồng của các tập đoàn phong kiến chỉ vì tham vọng tranh giành đất đai và quyền lực mà xô đẩy sinh dân đến bờ vực thẳm.
Sau hết, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà văn hoá lớn, một nhà thơ Hán, Nôm trứ danh xứng đáng là người kế tục thi hào Nguyễn Trãi và các nhà thơ thời Hồng Đức.
Chúng ta, những kẻ hậu sinh, hạnh phúc và tự hào biết bao được chiêm ngưỡng hình tượng kì vĩ của một bậc tiền bối lỗi lạc của dân tộc ta trong thế kỉ XVI, chiêm ngưỡng nhân cách cao cả, lí trí thông tuệ và đời sống tình cảm của ông thông qua những áng thơ bất hủ ông để lại. *-./.