T
u Phật là để Thành Phật. “Thành Phật” không phải là thành một vị Thần Linh, có quyền năng để cứu độ cho bá tánh, mà chỉ là “Thành tựu công việc Giải Thoát cho bản thân người thành tựu hết Khổ”. Muốn Thành Phật thì phải “Độ tận Chúng Sinh”. Nhưng Chúng Sinh là ai ? Ở đâu ? Cứu độ như thế nào thì nhiều người hiểu nhiều cách khác nhau.
Hàng Nhị Thừa thì cho rằng con người là Chúng Sinh của Phật. Phật, Bồ tát có trách nhiệm phải cứu độ cho những ai theo Phật. Vì thế, người muốn Được Độ phải Thờ Phật, phải Quy Y, phải đi Chùa lễ Phật và Cầu xin để Chư Phật, Chư Bồ Tát Độ cho. Đó là những người đã hiểu sai về Đạo Phật.
Sở dĩ Đức Thích Ca khai mở Đạo Phật ra giữa đời là vì thấy con người kiếp sống ngắn ngủi mà luôn bị cảnh Khổ vùi dập. Đã SINH ra là phải Khổ rồi, cuộc sống lại luôn bị những nỗi Khổ vì Cầu không được, những thứ không mong cứ đến. Hết Khổ này đến nạn khác. Phật dạy “Hữu Thân hữu Khổ”. Đã vậy, do không biết, nên thay vì muốn nhanh chóng hết Khổ lại tạo thêm Nghiệp, để rồi khi hết kiếp này lại phải tái sinh vào kiếp khác với Nghiệp càng nặng hơn, càng bị đọa, bị Khổ nhiều hơn. Do vậy, Đức Thích Ca đã mở ra Con Đường Giải Thoát, gọi là Đạo Phật để chỉ cho con người cách thức hành trì để không những kiếp hiện tại không còn bị Khổ nữa, mà nhờ biết cách hành dụng, nên những kiếp về sau lại càng tốt đẹp hơn.
Trần gian được gọi là BỂ KHỔ, Chúng sinh sống trong đó luôn bị Cảnh Khổ hành hạ. Đạo Phật có cách Giải Khổ, nhưng người muốn Thoát Khổ phải nương hướng dẫn rồi hành trì theo thì mới thành công được.
Đức Thích Ca không có thần thông hay phép mầu để cứu độ cho người khác, chỉ có Giáo Pháp hướng dẫn cho con người cách thức hành trì để Tự Cứu gọi là TỰ ĐỘ. Mỗi người phải tự hành trì để cứu độ lấy chính mình.
Theo Đạo Phật, mỗi người đều có PhẬt, Bồ Tát của bản thân, nhưng khi chưa tu hành bị che chắn, nên không thể phát huy tác dụng được. Vì thế, phải vẹt lớp màn che để Phật, Bồ tát của mình được hiển lộ, được phát huy tác dụng. Phật, Bồ Tát bên ngoài là của người khác, không thể cứu độ cho ta được.
Công cuộc gọi là tu hành theo trình tự như sau : Trước hết, Đạo Phật giải thích về nguyên nhân của KHỔ. Sau đó đưa ra cách thức để Giải Khổ, người có nhu cầu Thoát Khổ phải hành trì từng bước theo đó.
Theo Đạo Phật, con người Sinh ra ở trần gian là do NGHIỆP tốt hay xấu đã gây tạo. Nếu tạo nhiều Nghiệp tốt thì sẽ được hưởng phước, có được cuộc sống tốt đẹp. Ngược lại, gây nhiều Nghiệp Xấu chừng nào thì càng đọa nặng chừng đó.
Dù đã mang lấy Cái THÂN HỮU TƯỚNG thì mọi người đều phải KHỔ. Nhưng trong cái Thân Tứ Đại giả tạm này lại có DIỆU DƯỢC ĐỂ CỨU KHỔ gọi là PHẬT TÁNH, tức là TÁNH GIẢI THOÁT. Người nào chịu hiểu, chịu tìm để Thấy thì Cái TÁNH đó sẽ hướng dẫn cho cách thức hành dụng để Giải Thoát cho bản thân, Chư vị Giác Ngộ ngày xưa gọi là “THẤY TÁNH THÀNH PHẬT” hay “KIẾN TÁNH KHỞI TU”. TÁNH này vốn sẵn có. Nó sáng suốt, thanh tịnh, không ô nhiễm. Nhưng người không tu hành thì không biết. Không tìm thì không thấy. Người không Thấy thì cả đời sống sẽ để cho Vô Minh điều khiển rồi tạo Nghiệp để rồi theo Nghiệp mà Luân Hồi. Người tạo Nghiệp, Nghiệp tạo người triền miên không dứt. Tu theo Đạo Phật là để ngưng Tạo Nghiệp, chấm dứt vòng Luân Hồi.
Cái TÁNH được Đạo Phật giải thích như sau : Trong cái Thân Tứ Đại HỮU TƯỚNG mà mỗi người đang mang, có phần VÔ TƯỚNG, Nhà Phật gọi là CÁI TÂM hay THẦN THỨC, hoặc CÁI BIẾT. Bên Thiên Chúa Giáo thì gọi là LINH HỒN. Tiên Đạo gọi là TIỂU LINH QUANG. Cái này rất linh hoạt, sáng suốt, là bộ máy điều khiển cho mọi hoạt động của cái Thân Hữu Tướng. Chính nó làm chủ của mọi hành vi mà Cái Thân thực hiện. Đưa ra nhận xét, phản ứng khi có Pháp nào đến với Cái Thân. Cái nào thấy hợp với Cái Thân thì ưa thích, muốn có nhiều thêm, nên điều khiển cho Cái Thân tìm kiếm. càng nhiều càng tốt, bao nhiêu cũng không đủ, gọi là THAM. Cái nào không hợp thì Ghét, muốn tránh, muốn xa lánh hay muốn tiêu diệt…sinh ra những phản ứng Sân, Si. Cả đời sống, Cái Thân chỉ là bộ máy hành động theo sự điều khiển của Cái Tâm hay Thần Thức đó. Nó nghĩ tốt thì xui cái Thân làm tốt. Nó nghĩ xấu thì khiến cái Thân làm điều Ác, điều xấu. Chính Nghiệp Ác sẽ làm cho cái Thân sau lãnh lấy hậu quả nặng nề. Vì thế, muốn sửa đổi, cải Nghiệp thì không phải Sửa Cái Thân mà Sửa Cái Tâm, nên gọi là TU TÂM.
Trong cái TÂM (hay Thần Thức)luôn có những tư tưởng khởi, diệt. Tư tưởng thì có tốt, có xấu, nên Đạo Phật gọi là nơi mà PHÀM THÁNH ĐỒNG CƯ. Vào tu, Đạo Phật phân ra : Những tư tưởng Ác hay xấu là PHÀM. Những tư tưởng hướng thiện, thanh cao gọi là THÁNH. Tu hành chính là học biết để “Chuyển Phàm thành Thánh”, “chuyển MÊ thành NGỘ”. “Chuyển ràng buộc thành Giải Thoát”.
Muốn vậy phải hiểu thế nào là PHÀM TÁNH.
Phàm Tánh chính là những tư tưởng bám lấy cái Thân Tứ Đại, cho đó là MÌNH. Rồi vì nhu cầu của cái Thân nên tìm mọi cách để cung phụng cho nó. Hầu hết không ra ngoài năm tội chính.
1/- SÁT, tức là Giết những loài cầm thù để ăn thịt, để thỏa mãn cho cái Khẩu.
2/- ĐẠO là tìm cách để chiếm lấy những thứ ngoài khả năng của mình mà không có sự trao đổi công bằng, gọi là TRỘM CẮP.
3/- Dâm dục không biết đủ. Vợ nhà đã có mà thấy vợ người xinh đẹp lại sinh tâm muốn chiếm đoạt, gọi là TÀ DÂM.
4/- VỌNG NGỮ tức Nói dối. Khẩu có đến Bốn tội : Nói Láo. Nói lưỡi đôi chiều. Nói để khen mình, chê người.
5/- TỬU : Uống Rượu say sưa làm mất nhân cách, đôi khi đưa đến phạm tội ác do rượu làm cho mất lý trí, để cho cái say làm chủ.
Do vậy Đạo Phật đặt ra NGŨ GIỚI CẤM để con người giữ được sự công bằng, không vi phạm những gì không thuộc về mình. Suy ra thì thấy : THÂN phạm 3 lỗi là SÁT, ĐẠO, DÂM. Khẩu phạm 4 Lỗi là nói láo, nói lưỡi đôi chiều. Nói để khen mình, chê người.
Do con người bám lấy Cái Thân nên yêu thích cảnh trần, muốn tìm DANH, LỢI, TÌNH để thỏa mãn cho Cái Thân, rồi vì cái Thân mà sinh ra những ý tưởng sai trái, muốn hại người, hại vật. Những tư tưởng sai trái này gọi là PHÀM TÁNH hay CHÚNG SINH.
Nhờ nương hướng dẫn của Đạo Phật để Quán sát, tư duy, để thấy rằng Cái THÂN Tứ Đại không phải là MÌNH, mà chỉ mà cái Thân ứng hiện ra đây để Trả những Nghiệp đã gieo, đồng thời biết rằng cái THẬT MÌNH chính là Cái CHÂN TÂM hay CHÂN TÁNH, trường tồn, vô tướng, thanh tịnh, không ô nhiễm. Nhưng cũng do khi còn Vô Minh chính nó đã điều khiển cho cái Thân tạo Nghiệp, nên khi cái Thân hiện kiếp hết nghiệp, trả về cho Tứ Đại thì phải nhận cái Thân khác để Trả Nghiệp tiếp. Do cái Thân chỉ là món tổng hợp của Tứ Đại, không biết Khổ, vui. Cái Biết mới có cảm xúc, mới vui, khổ, thích, ghét..nên nó phải chịu lấy hậu quả tốt hay xấu của những việc nó đã làm.
Khi Nhân gây tạo đã thành Quả rồi thì không thể thay đổi. Người muốn tu phải chấp nhận để Trả Quả rồi muốn Giải Thoát thì nương Cái Thân giả tạm này để tu hành.
Khi chưa biết đến con đường tu hành thì con người là nô lệ cho Cái Thân. Nhưng khi vào tu rồi, dù biết cái Thân tạo nhiều Nghiệp xấu, nhưng cũng không phải vùi dập hay hất hủi nó, mà xem nó như là phương tiện hỗ trợ để tu hành. Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN dạy người tu xem cái Thân : “Như người bị rớt giữa biển, nhờ ôm thây ma mà bơi được vô bờ”.
Khi chưa tu hành thì Lục Căn là Chủ, “Mắt nhìn thì Tâm sinh”. Thấy cái gì tốt đẹp, quý giá là khởi Tâm Tham, muốn chiếm đoạt bằng mọi cách. TAI thích nghe những lời ngọt ngào, nịnh hót, âm thanh du dương, dìu dặt. MŨI thích mùi hương. Lưỡi thích VỊ ngon. Thân thích cảm xúc va chạm, mịn màng. Ý thích vừa lòng, thỏa ý. Mỗi Căn đều muốn được phục vụ, nên nhà Phật gọi nó là LỤC TẶC, là Sáu Tên Giặc chuyên mang ngoại pháp về làm cho cái Tâm phải chao đảo, phiền muộn. Nhưng khi vào tu hành thì Lục Căn trở thành LỤC HỘ PHÁP, giúp đỡ cho việc tu hành của người tu được thành tựu. Vì cũng nhờ có Cái Thân, chúng ta mới có thể lặn lội tìm Thầy, học pháp. Nhờ có đôi Mắt mới đọc được tài kiệu, Kinh sách, học hỏi nơi các bậc đi trước. Nhờ có Tai mới nghe thuyết giảng. Cái Thân cũng theo đó mà tiến bộ lên.
Trước kia thì Cái VỌNG TÂM làm chủ con người. Con người làm mọi việc theo sự sai khiến của nó, để phục vụ cho cho Cái Thân. Từ khi biết đến con đường tu Phật, hiểu rõ về Thân, Tâm, nên không còn làm nô lệ cho cái Thân nữa, mà dùng nó để học hỏi, tu hành. Tất nhiên, không phải nói tu là nó chịu quy hàng. Người muốn thay đổi phải học hỏi, Quán soi, phải phân biệt đúng, sai, chân, giả, tội, phước, Nghiệp, Quả..Khi cái Lý đã thông suốt thì mới khuất phục được nó. Nó mới chịu sửa chữa. Muốn vậy, thì trước hết phải tìm nó. Thấy nó rồi thì phải học cách để TRỤ TÂM và HÀNG PHỤC Cái TÂM.
Trong Kinh KIM CANG, khi Trưởng Lão Tu Bồ Đề bạch Phật :
“Bạch Đức Thế Tôn ! Trang Thiện Nam, người Thiện Nữ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thời phải trụ Tâm như thế nào ? nên hàng phục Tâm mình như thế nào ?
Phật trả lời : “Các vị Đại Bồ Tát phải hàng phục Tâm mình như thế này : Bao nhiêu loài chúng sanh, hoặc là loài noãn sanh, hoặc loài thai sanh, hoặc loài thấp sanh, hoặc hoài hóa sanh, hoặc loài có hình sắc, hoặc loài không hình sắc, hoặc loài có tư tưởng, hoặc loài không tư tưởng, hoặc loài chẳng phải có tư tuởng, mà cũng chẳng phải không tư tưởng thời ta đều diệt độ đó mà làm cho vào nơi vô dư Niết Bàn.
Diệt Độ vô lượng vô số, vô biên Chúng Sanh như thế, mà thiệt ra không có Chúng Sanh là kẻ được Diệt Độ”
Tại sao vậy ? Nầy Tu Bồ Đề ! Nếu vị Bồ Tát còn có tướng Ngã, tướng Nhơn, tuớng Chúng Sanh, tướng Thọ Giả thời chẳng phải là Bồ Tát”.
Đọc câu Phật trả lời về việc hàng phục cái Tâm, tưởng chứng như người tu phải đi “độ” cho hết những loài cầm, thú, kể cả côn trùng nhỏ nhít. Nhưng chúng ta đừng quên là người tu, kể cả Phật, chỉ có nhiệm vụ cứu độ cho bản thân, không có trách nhiệm phải độ cho người ngoài. Vì vậy, những loài chúng sanh mà kinh mô tả, chỉ là những chúng sinh nơi Tâm mình mà thôi. Theo ĐẠI THỪA KIM CANG KINH LUẬN thì đó là nói về những kế hoạch, mưu mô, thủ đoạn nhằm lừa gạt người khác. Truớc mặt nói khác, sau lưng nói khác. Tóm lại là những ý tưởng không ngay thẳng, muốn hại người cách này hay cách khác.
Ngày trước, khi muốn tìm hiểu về Chúng Sinh không dễ dàng, vì nó vô tướng, ở trong cái Tâm cũng vô tướng, đến nỗi Tổ Đạt Ma có Kệ :
“Tâm Tâm Tâm
Khó nỗi tầm
Tung ra bao trùm khắp pháp giới
Thâu lại chẳng đầy mũi kim”.
Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA, Phẩm Hóa Thành Dụ tả Chúng Sinh như sau : “Lúc Đức Đại Thông Trí Thắng Phật đặng quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, trong Mười phương đều năm trăm muôn ức các cõi nước Phật sáu điệu vang động, trong các cõi nước đó chỗ tối tăm ánh sáng của nhật nguyệt không soi tới đặng đều sáng rỡ, trong đó chúng sinh đều đặng thấy nhau, đồng nói rằng : “Trong đây tại sao bỗng sanh ra chúng sanh ?” Tức là muốn thấy nó phải xuyên qua Ngũ uẩn, Lục Căn, làm sao người muốn tìm hiểu được cõi đó là ở đâu ? Nhưng nhờ Chư Tổ ngày càng khai sáng, trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ Huệ Năng tả rất rõ không chỉ là Chúng Sinh mà còn cách thức để độ :
“Chư Thiện Tri Thức. Chúng sanh trong Tâm mình tức là : Lòng tà mê, lòng giả dối, lòng bất thiện, lòng ghen ghét, lòng ác độc. Các tâm này đều gọi chung là Chúng Sanh. Mỗi người phải dùng Tánh mình mà độ lấy mình mới gọi là thiệt độ”.
Sao gọi là dùng Tánh mình mà độ lấy mình ? Nghĩa là các Chúng sanh trong Tâm là Tà kiến, Phiền não, Ngu si, phải đem Chánh kiến mà hóa độ các tánh xấu ấy. Đã có sẵn Chánh kiến thì phải dùng Trí Bát Nhã mà đánh dẹp các chúng sanh Ngu si, mê vọng. Mỗi mỗi mình phải độ lấy mình. Tà đến lấy Chánh mà độ. Mê lại dùng Ngộ mà độ. Dữ lại dùng Lành mà độ. Độ như thế mới gọi là thiệt độ”.
Lời giải thích của Lục Tổ cho ta thấy Chúng Sinh chính là những ý tưởng xấu trong Tâm của mỗi chúng ta. Để “Độ” Chúng sinh thì Kinh Kim Cang dạy : “Ta đã Diệt Độ vô lượng vô số chúng sanh, nhưng thật ra không có Chúng sinh nào bị Diệt độ”, vì chỉ Diệt những cái Xấu, cái Ác mà thôi. Giống như nước bị chất bẩn lẩn vào, người dùng nước chỉ lọc chất bẩn ra, vẫn giữ lại nước, đâu có đổ đi ? Do đó, những người hiểu lầm “Các Pháp là Không”, rồi pháp tốt hay pháp xấu cũng đưa về Không hết . Không Độ Sinh thì không thể thành lập Phật Quốc được, vì Phật Quốc được thành lập là do Chúng Sinh được đưa về đó.
Trong Kinh có tả Nước Phật đầy dẫy BẢY BÁU, nhiều người tưởng đó là vàng, ngọc, lưu ly, xa cừ, mã não … của thế gian, không biết đó là những món mà Đạo Phật gọi là Ba Nghiệp của Thân, là Tham, Sân và Si, và Bốn Nghiệp của Khẩu. Nhưng vì mỗi người ôm giữ từ kiếp này qua đời nọ, không chịu buông, nên Phật ví như là người giữ Châu Báu ! Xả Bảy thứ này thì gọi là “Cúng dường Bảy Báu cho Phật”. Đó cũng là ý nghĩa của Long Nữ cúng cho Phật “Viên Châu có giá trị liên thành. Phật nhận nên nàng lập tức thành Phật” ! “ Viên Châu có giá trị liên thành đó là THAM, SÂN và Si. Long Nữ Xả được tất nhiên là sẽ được Giải Thoát, nên Kinh viết là “Phật nhận nên Long Nữ lập tức thành Phật”. “Phật là vô tướng, do vô lượng công đức mà thành”, đâu phải là một nhân vật có thật để nhận châu báu của Long Nữ tặng rồi ban Quả vị Phật cho nàng ? Vậy mà cũng có người đọc Kinh rồi cho rằng Phật nhận hối lộ để cho Long Nữ thành Phật ! Nhiều Tà Sư cũng vin theo đó để dụ thí chủ cúng nhà, đất, tài sản cho Chùa, nhân danh cúng cho Phật ! Phật là Vô Tướng, là kết quả Giải Thoát của người tu, đâu phải là một vị Thần Linh hay nhân vật nào đó hữu tướng, mà nhận tài sản của bá tánh dâng cúng ?
Muốn tu hành cho thành công thì phải TÌM TÂM, THẤY TÂM rồi TU TÂM. Trong Tâm thì “PHÀM THÁNH ĐỒNG CƯ”, nên tu hành là thanh lọc Phàm Tánh để chỉ còn lại sự thanh tịnh gọi là Thánh. Công cuộc thanh lọc gọi là công năng tu tập. Người tu phải làm LỤC ĐỘ, gồm : BỐ THÍ, TRÌ GIỚI, NHẪN NHỤC, TINH TẤN, THIỀN ĐỊNH, TRÍ TUỆ, mục đích là để loại dần những thói quen xấu. BỐ THÍ không phải là đem tiền của, tài vật cúng cho Chùa hay cho người có hoàn cảnh khó khăn. Lục Tổ dạy : “Đạo nào do thí bạc mà thành”. Chân Bố Thí tức Xả đi những cái tính xấu là Chúng Sinh mà ta ôm giữ chúng từ nhiều đời.
Bố Thí là tập để Xả bớt những thứ đã ôm giữ nhiều đời dành cho cái Thân hưởng thụ. Nhưng nhiều ngườiđã không bình đẳng Bố Thí. Có nghĩa là lẽ ra thấy bất cứ hoàn cảnh nào đáng giúp thì giúp, không tính toán kết quả sẽ thu về, thì nhiều người chỉ thích cúng cho Chùa, cho người tu hành, vì thấy là “phước báo sẽ trả lại gấp trăm, gấp ngàn lần” ! quên là như thế là đầu tư để sinh lợi. Vì thế, có câu Kinh nhắc nhở “Vong thiết Bồ Đề Tâm, tu chư thiện nghiệp thị danh ma nghiệp” ! Có nghĩa là nếu làm thiện nghiệp mà không có tâm cầu giải thoát thì đó là tạo ma nghiệp. Vì sao làm việc tốt mà cho là tạo ma nghiệp ? Đó là vì thay vì Xả để bớt mê đắm vào cái Thân thì ta lại mong cho nó được hưởng ở kiếp tới ! Đó là con đường nối tiếp Sinh Tử. Bố Thí thật sự phải “Tam Luân Không”. Không có người cho, của cho, kẻ nhận. Đó là Thí Xả hay Độ Sinh. Bởi tự mình làm việc Thí Xả đó nên không có người làm, vật được thí xả cũng là của mình, nên không có của Bố Thí. Chính mình là người nhận, nên cũng không có người nhận. Đó là Xả những tính xấu, Tham, Sân, Si, Thương, ghét.. gọi là “Bố Thí Bảy Báu cho Phật”, là những viên ngọc, để trang hoàng cho Tây Phương Cực Lạc nơi Tâm mình.
Mỗi người cần phải tự hành Hạnh Bồ Tát, Cứu Độ Chúng Sinh của chính mình để được Giải Thoát. Vì chính những Chúng sinh làm cái Tâm vướng mắc vào Cái Thân, không dứt ra được. Do đó, nói rằng “Cứu độ Chúng Sinh”, nhưng chỉ là chỉ là tháo gỡ, là xả , là cải tạo những tư tưởng còn có khuynh hướng xấu, chưa thanh tịnh, để được nhẹ nhàng, an lạc. Như thế thì dù tuổi nào ? Giới tính nào ? ăn mặc thế nào, làm nghề gì ? ở bất cứ chỗ nào, hành bất cứ ngành nghề gì cũng Tu được, không nhất định phải ở trong Chùa, đầy đủ hình tướng mới Tu được.. Chúng sinh được đưa qua bờ Giác, không còn Mê nữa thì là Giác Ngộ, thành Phật. Sạch Phàm thì thành Thánh. Cuối cùng thì Bồ Tát cũng sẽ thành Phật, hoàn thành được Niết Bàn nơi Tâm ngay tại cảnh sống giữa trần gian gọi là Hữu Dư Y Niết Bàn.
Sở dĩ trước kia Đức Phật phải dùng nhiều phương tiện là vì con người thời đó quá mê đắm, Tham Lam không dứt, tạo nhiều tội nghiệp. Nếu bắt họ phải hành trì gian khổ, buông bỏ nhiều thứ để chỉ trở thành một con người bình thường với nội tâm an lạc thì họ đâu có chịu. Vì vậy Ngài phải tả ra Phật, Bồ Tát cao siêu như những vị Thần linh, “bay lướt mười phương để cứu độ Chúng sinh”. Bậc Giác Ngộ như những người phi phàm, xuất chúng. Nước Phật đầy dẫu châu báu. Người Chứng đắc sẽ được thành các bậc Thánh với các Quả vị, cao quý hơn những phàm phu tầm thường của thế gian, nên họ mới chịu buông bỏ những vật chất trần gian, vì thấy những thứ kia giá trị hơn, hấp dẫn hơn. Nhưng khi từng bước hành trì, cái Tham sẽ được mài mòn dần, không còn bị cảnh Khổ hành hạ, có được cuộc sống an vui, hạnh phúc, họ mới thấy giá trị của phương tiện Giải Khổ của Đạo Phật thật vi diệu, có giá trị kéo dài đến vô lượng kiếp mà tiền bạc, vật chất trần gian không thể sánh được. Cũng không dùng Quả Vị để so sánh cao thấp, hơn thua với ai, mà đó là sự Thường Lạc, được gọi là hữu Dư Y Niết Bàn mà người tu đúng theo hướng dẫn của Chánh Pháp sẽ được hưởng. Không chỉ hiện kiếp, mà vĩnh viễn, dù có tái sinh qua nhiều kiếp vẫn không bị mất đi vậy.
*-./.
Tháng 2 Năm 2026
VVM.27.02.2026.
Tháng 2 Năm 2026
