Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
        


QUỐC GIA GREENLAND

  
      KỲ II - BẮC CỰC VÀ GREENLAND

V iết Greenland mà không đề cập tới Bắc Cực là một thiếu sót nghiêm trọng.

Vùng Bắc Cực trải rộng trên diện tích khoảng 20 triệu km vuông, nằm giữa Bắc Cực và vĩ độ 66° 33' Bắc. Đất liền và các đảo ngoài khơi chiếm khoảng một nửa diện tích; nửa còn lại là Bắc Băng Dương, được bao quanh bởi năm quốc gia ven biển Bắc Cực: Na Uy (với Spitzbergen), Liên bang Nga (với Siberia), Hoa Kỳ (với Alaska), Canada và Đan Mạch (với Greenland và quần đảo Faroe). Iceland được coi là một quốc gia cận Bắc Cực. Khoảng bốn triệu người sinh sống ở vùng Bắc Cực, trong đó có khoảng 500.000 người thuộc các dân tộc bản địa.

8 quốc gia có quan hệ trực tiếp tới quyền lợi địa lý, quân sự, chính trị, tài nguyên thiên nhiên ... trong vùng gồm có Nga , Canada, Na Uy, Đan Mạch trong đó có Greenland , Iceland, Thuỵ Điển, Phần Lan và Hoa Kỳ. Gần đây nhất là sự hiện diện của Trung Quốc một đồng minh của Nga với những quan hệ gián tiếp càng ngày càng gia tăng.

Trong phạm vi giới hạn của bài viết này chúng tôi xin chỉ được đề cập những điểm thiết yếu cần phải biết của 2 quốc gia có ảnh hưởng lớn là Nga và Hoa Kỳ.

BẮC CỰC - NGA VÀ NHỮNG NƯỚC TRONG VÙNG :

Vùng Bắc Cực, thường được liên tưởng đến với những phong cảnh thanh bình và động vật hoang dã tuy nhin Bắc Cực không chỉ là một khu vực đẹp như tranh vẽ mà còn là một khu vực có tầm rất quan trọng chiến lược được định hình bởi các yếu tố từ môi trường, chính trị, kinh tế tới quân sự.

Bắc Cực (nói chung) tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong các chiến lược quốc gia cho đến thế kỷ thứ XX. Vào thời điểm Chiến tranh Thế giới thứ hai bắt đầu năm 1939, Đức phụ thuộc vào Thụy Điển hơn 50% lượng quặng sắt – một yếu tố quan trọng đối với khả năng quân sự và kinh tế của Đức – và còn phụ thuộc vào Na Uy để vận chuyển khoáng sản của Thụy Điển đến Đức. Trong bài báo " Kiến thức là sức mạnh: Greenland, các cường quốc và những bài học từ Thế chiến thứ hai" , hai học giả người Na Uy phân tích vai trò chiến lược mà Greenland đóng góp trong việc cung cấp một loại nguồn lực khác cho các lực lượng đồng minh trong Thế chiến thứ hai: thông tin, được sử dụng vào việc lập kế hoạch cho các hoạt động quân sự trên lục địa châu Âu.

Cũng phải cần nhớ lại lúc này Hoa Kỳ đã viện trợ thông qua Đạo luật "Cho vay và Cho thuê" cho Liên Sô của Joseph Staline : Tính đến cuối chiến tranh, khoảng 41 đoàn tàu vận tải, với sự tham gia của khoảng 1.400 tàu buôn, đã vận chuyển hàng triệu tấn hàng tiếp tế, trong đó đáng kể nhất là 1.388 xe tăng được sản xuất tại tại nhà máy Montreal Locomotive Works Canada sang Liên Sô . Các đoàn tàu vận tải Bắc Cực thường xuyên phải đối mặt với tàu ngầm, máy bay và chiến hạm của Đức Quốc Xã. Một đoàn tàu vận tải Bắc Cực giữa Vương quốc Anh và Nga mất trung bình từ sáu đến tám ngày trong các điều kiện khí hậu rất khắc nghiệt ở Bắc Cực (tài liệu của Bộ Quốc Phòng Canada).

Trong Chiến tranh Lạnh (1945-1989), Nga Mỹ hết còn là bạn nữa. Bắc Cực biến thành đấu trường một bên là Hoa Kỳ (Mỹ) với các quốc gia đồng minh trong Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) một bên là Liên Xô (Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết).

Suốt giai đoạn Chiến tranh Lạnh Bắc Cực là địa điểm có mức độ quân sự hóa cao, bao gồm việc bố trí các tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM), máy bay ném bom tầm xa, vũ khí nguyên tử ...và hàng loạt các nguồn lực quân sự khác trong khu vực.

Sau Chiến tranh Lạnh (sau tháng 11.1989), các quốc gia vùng Bắc Cực đã tìm cách hoà hoãn với nhau để biến nơi đây thành một khu vực hợp tác hữu nghị.  8 quốc gia sẽ chia chác nguồn tài nguyên thiên nhiên trực tiếp ở Bắc Cực khi tuyết tan : Phần Lan, Thuỵ Điẻn, Na Uy, Canada, Iceland, Đan Mạch, Mỹ và Nga cộng thêm sự tham gia của một cường quốc mới bạn nước Nga: Trung quốc .

Những năm gần đây cuộc cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ, Nga và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) đã thêm một lần nữa lại biến Bắc Cực thành một điểm trọng yếu về mặt an ninh, tiếp cận tài nguyên và kiểm soát các tuyến đường vận chuyển mới khi băng tuyết bị tan loãng trong bối cảnh: một bên là Nga và Trung quốc (PRC) với sự tiến bộ cực kỳ nhanh chóng về mặt quân sự , một bên là những nỗ lực chậm chạp của Mỹ và những quốc gia Đồng Minh Mỹ trong khối NATO: Trong một báo cáo tình báo của nước Nga năm 2007 Nga đã dự đoán rằng xung đột với các quốc gia Bắc Cực khác là điều hoàn toàn có thể xảy ra kể cả những hành động quân sự.

Sự quan tâm của Hoa Kỳ vào Bắc cực bỗng tăng vọt vào năm 2009 dưới thời 2 vị Tổng thống George W. Bush và Barack Obama khi Cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ ước tính Bắc Cực chứa 13% lượng dầu mỏ chưa được phát hiện và 30% lượng khí đốt tự nhiên của thế giới. 

Để tìm cách tạo được sự hoà hoãn, hợp tác khai thác trong vùng người ta bèn đẻ ra :

Một loạt tổ chức hợp tác khu vực Bắc Cực, không thể kể hết được, như Hội đồng Bắc Cực, Hội nghị các nghị sĩ vùng Bắc Cực, Hiệp hội Thị trưởng các Thành phố Mùa đông Thế giới, Hội đồng Bắc Âu, Hội đồng Bắc-Bắc Cực Barents .... cộng thêm một chuỗi, cũng lại không thể kể hết được, Công ước, Thoả thuận, Nghị định đã được ký kết song phương như trường hợp Canada và Nga với hơn 40 Hiệp ước Hòa hợp và Hợp tác giữa Canada và Liên bang Nga (Thỏa thuận giữa Chính phủ Canada và Chính phủ Liên Xô về hợp tác ở Bắc Cực và vùng phía Bắc ngày 20 tháng 11 năm 1989, Hiệp ước Hợp tác và Hòa hợp giữa Canada và Liên bang Nga ngày 19 tháng 6 năm 1992,...) , đa phương khởi đầu vào năm 1920 với Hiệp ước Svalbard (hiệp ước này Nga không còn công nhận nữa) tại Paris Pháp và thỏa thuận sau cùng ký tại Ilulissat, Greenland ngày 3 tháng 10 năm 2018.

Ký thì ký, kết thì kết trên giấy còn thực hành lại là chuyện khác !.

Hội nghị Bộ trưởng Hội đồng Bắc Cực (Arctic Council Ministerial thành lập ngày 19 tháng 9 năm 1996 tại Ottawa) - lần thứ 12 đã diễn ra vào ngày 20 tháng 5 năm 2021 tại Reykjavik, Iceland để các nước trong vùng (Canada, Denmark, Norway, Nga và Hoa Kỳ ... ) tái (lại vẫn tái đi tái lại!) khẳng định sự hợp tác của các nước trong vùng .

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken hòa hoãn phát biểu trong một cuộc họp báo rằng: "Hoa Kỳ hình dung khu vực Bắc Cực là một khu vực không có xung đột, nơi các quốc gia hành động có trách nhiệm và nơi các nguồn tài nguyên kinh tế và năng lượng được phát triển một cách bền vững và minh bạch, tôn trọng môi trường và cũng ghi nhớ lợi ích và văn hóa của người dân bản địa ở đó". Trong khi Đại sứ Nga Nikolay Korchunov nói : “Khi băng tan và khả năng tiếp cận khu vực tăng lên, sự hiện diện và hoạt động quân sự trong khu vực cũng gia tăng, cả ở các quốc gia Bắc Cực và các quốc gia thành viên NATO không thuộc Bắc Cực. Kết quả là, nguy cơ xung đột ở Bắc Cực tăng lên. Trong năm năm qua, người ta thấy rằng các nước NATO đã tăng gấp đôi các cuộc tập trận và những hoạt động huấn luyện chiến đấu khác ở Bắc Cực. Lực lượng vũ trang của các quốc gia thành viên NATO không thuộc Bắc Cực, cũng như các quốc gia không phải là thành viên NATO, ngày càng tham gia nhiều hơn vào các hoạt động này”, ông Korchunov nói thêm: “Chuyện xâm phạm vùng Biển Barents Nga hồi đầu tháng 5 năm 2020 của Liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO) trong cuộc tập trận gồm các tàu của Mỹ và Anh với lý do "đảm bảo an ninh và tự do hàng hải thương mại" rõ ràng là một hành động khiêu khích.” Phần Đại sứ tại Na Uy Kenneth J. Braithwaite lại nhấn mạnh rằng: “Người Trung Quốc và người Nga có mặt ở khắp mọi nơi, đặc biệt là người Trung Quốc. Người ta sẽ phải lo ngại về mức độ hoạt động của Trung Quốc ngoài khơi bờ biển Na Uy ở vùng cực Bắc. Và chúng ta cần phải cảnh giác với điều đó. Chúng ta cần phải hiểu tại sao.” Braithwaite giải thích.

Và ... ngày 2 tháng 8 năm 2007, một tàu ngầm của Nga đã cắm cờ ở độ sâu 4.261 mét tại Cực Bắc và Tổng thống Vladirmir Poutine tuyên bố: “Bắc Cực là của Nga”.

                                 - (xin hẹn qúy vị trong một bài viết đặc biệt về chuyện cắm cờ Nga ở Bắc Cực)

Năm 2014, Đan Mạch và Greenland đã tuyên bố chủ quyền đối với một khu vực rộng 895.000 km2 nằm ngoài Vòng Bắc Cực và kéo dài đến biên giới vùng đặc quyền kinh tế của Nga. Đan Mạch cũng có tuyên bố chủ quyền đối với dãy núi Lomonosov , một dãy núi ngầm Lomonosov dài 1.800 km là việc tranh chấp giữa Nga, Canada và Đan Mạch (thông qua Greenland) vì cả ba quốc gia đều tuyên bố dải núi ngầm này là phần mở rộng tự nhiên của thềm lục địa của lãnh thổ nước họ. Khu vực này được đánh giá cao vì tiềm năng to lớn, với nguồn tài nguyên dầu khí chưa được khai thác.

Về phần mình, Nga tuyên bố chủ quyền lãnh thổ mở rộng thềm lục địa của Nga bao gồm Biển Barents, Bắc Cực và Biển Na Uy. Nga tuyên bố chủ quyền đối với một thềm lục địa rộng lớn trải dài ở Bắc Cực, bao phủ khoảng 2,1 triệu km vuông và kéo dài đến Bắc Cực, dãy núi ngầm Lomonosov, và gần các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Canada và Greenland. Sau khi đệ trình lên Ủy ban Liên Hiệp quốc về giới hạn thềm lục địa (CLCS) năm 2001, dựa trên bằng chứng khoa học về sự mở rộng của dãy núi ngầm dưới nước, và thường xuyên cập nhật tuyên bố này, Nga tiếp tục khẳng định chủ quyền của mình và Nga tìm cách củng cố quyền sở hữu đối với tài nguyên dưới đáy biển.

Vào ngày 15 tháng 9 năm 2010, các bộ trưởng ngoại giao của Na Uy và Nga đã ký một hiệp ước về phân định ranh giới biển và hợp tác ở Biển Barents và Bắc Cực (Hiệp định năm 2010). Hiệp định năm 2010, sẽ có hiệu lực khi được Quốc hội Na Uy (Storting) và Duma Nga (Duma) phê chuẩn, để chấm dứt gần bốn thập kỷ đàm phán rộng rãi, gián đoạn. Hiệp định này xác định một ranh giới biển duy nhất phân chia thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế (“EEZ”) của các quốc gia thành viên ở Biển Barents và Bắc Cực; buộc các quốc gia thành viên phải tiếp tục hợp tác trong lĩnh vực nghề cá; và chứa các điều khoản về việc khai thác phối hợp các nguồn tài nguyên hydrocarbon xuyên biên giới. Hiệp định năm 2010 đã dẫn tới việc ký kết vào ngày 5 tháng 5 năm 2012 của hai công ty khai thác dầu khí Statoil (Na Uy) và Rosneft (Nga) và công ty Rosneft (Nga) được công nhận đủ điều kiện là nhà khai thác trên thềm lục địa Na Uy.

Phần Lan, Na Uy, Nga và Thụy Điển đã thỏa thuận thành lập Ban Thư ký quốc tế Barents để hợp tác trong khu vực Barents thuộc Liên minh châu Âu-Bắc Cực được ký kết ngày 15-11-2007 tại Rovaniemi Tuy nhiên phân tích chiến lược Bắc Cực của Thụy Điển cho thấy cơ hội mở rộng hợp tác song phương Nga-Thụy Điển ở Bắc Cực khá hạn chế.

Màn kịch mới của Na Uy và Phần Lan : Bộ trưởng Ngoại giao Thụy Điển và Phần Lan đã cùng nhau kêu gọi Liên minh châu Âu tăng mạnh các biện pháp trừng phạt đối với hoạt động vận tải biển của Nga, đồng thời thúc giục cấm toàn diện các tàu vận chuyển dầu, khí đốt và than đá đến các hải cảng của Cộng Đồng Âu châu (EU).

Ngày 25 tháng 11 năm 2025, Bộ trưởng Ngoại giao Phần Lan Elina Valtonen đã trình bày một văn kiện chính sách phác thảo chính sách đối ngoại và an ninh của Phần Lan đối với khu vực Bắc Cực. Văn kiện chính sách của Bộ trưởng Ngoại giao bổ sung cho Chiến lược Chính sách Bắc Cực của Phần Lan (2021) và Báo cáo của Chính phủ về Chính sách Đối ngoại và An ninh của Phần Lan (2024). Bà Bộ trưởng Ngoại giao Valtonen nêu rõ chính sách đối ngoại và an ninh của Phần Lan tại khu vực Bắc Cực: Phần Lan là đối tác đáng tin cậy trong lĩnh vực an ninh và chuyên môn tại Bắc Cực.

Ngày 26 tháng 11 năm 2025 , Bộ Ngoại giao Moscow thông báo chính thức chấm dứt thỏa thuận đã ký kết với Na Uy, Phần Lan và Thụy Điển về việc cùng ứng phó với các tình huống khẩn cấp ở phía bắc.

. Canada tăng cường sự hiện diện của mình ở Bắc Cực :

Vùng Bắc Cực của Canada là các phần của Bắc Băng Dương, Biển Barents, Biển Greenland, Biển Chukchi và các biển khác. Gần 40% diện tích đất liền của Canada được coi là vùng Bắc Cực và phía Bắc như Lãnh thổ Tây Bắc, Nunavut, Yukon và các phần phía bắc của một số tỉnh. Vùng này trải rộng hơn 4,4 triệu km² (1,7 triệu m²). Nơi sinh sống của khoảng 150.000 cư dân, trong đó hơn một nửa là người bản địa. Mặc dù vùng Bắc Cực của Canada rất lớn, nhưng chưa có đến 1% dân số Canada sống tại đó

Canada đẩy mạnh chiến lược Bắc Cực trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị gia tăng và sự biến đổi của khu vực do biến đổi khí hậu : Canada công bố một chính sách an ninh dài 37 trang ngày 06 tháng 12 năm 2024, nêu chi tiết về các kế hoạch tăng cường sự hiện diện quân sự và ngoại giao của nước này ở Bắc Cực, viện dẫn các mối đe dọa ngày càng gia tăng từ hoạt động của Nga và Trung Quốc.

Canada cho biết việc tăng cường hiện diện quân sự ở Bắc Cực của mình nhằm đối phó với những thách thức an ninh trong khu vực. Chiến lược Bắc Cực mới của Canada nhấn mạnh sự gia tăng hoạt động gần đây của Nga dọc theo rìa không phận Bắc Mỹ. Báo cáo này gọi việc Nga thử nghiệm vũ khí và triển khai các hệ thống tên lửa ở Bắc Cực, có khả năng tấn công Bắc Mỹ và châu Âu, là điều "vô cùng đáng lo ngại".

Ottawa đã nhiều năm tìm cách quản lý khu vực Bắc Cực một cách hợp tác với các quốc gia khác và giữ cho khu vực này không bị cạnh tranh quân sự. "Tuy nhiên, các rào cản ngăn ngừa xung đột đang ngày càng chịu áp lực rất lớn", Bộ trưởng Ngoại giao Melanie Joly phát biểu trong một cuộc họp báo. "Vùng Bắc Cực không còn là khu vực có căng thẳng thấp nữa", bà nói. Chi tiêu quốc phòng của Canada sẽ tăng gần gấp ba lần so với năm 2015.

Việc tăng cường sức mạnh quân sự có thể bao gồm triển khai các tàu tuần tra và tàu khu trục hải quân mới, tàu phá băng và tàu ngầm có khả năng hoạt động dưới các tảng băng, cũng như nhiều máy bay và máy bay không người lái hơn.

Theo chính sách này, Canada sẽ bổ nhiệm một đại sứ Bắc Cực, mở lãnh sự quán mới tại Anchorage Alaska, mở lãnh sự quán mới tại Nuuk Greenland, khởi xướng cuộc đối thoại an ninh Bắc Cực với các bộ trưởng ngoại giao của các quốc gia cùng chí hướng trong khu vực Bắc Cực, ... và khởi động các cuộc đàm phán về ranh giới với Hoa Kỳ liên quan đến Biển Beaufort và hoàn tất việc thực hiện thỏa thuận biên giới giữa Canada và Vương quốc Đan Mạch liên quan đến Tartupaluk (Đảo Hans).

Canada vẫn giữ nguyên yêu sách của mình đối với đáy biển Bắc Cực. Yêu sách hiện nay của Canada trải dài đến nhiều khu vực, thậm chí đến tận vùng đặc quyền kinh tế của Nga.

Hiện tại có tám căn cứ quân sự có quân đóng ở vùng Bắc Cực của Canada, lớn nhất là ở Yellowknife. Ngoài ra còn có các cơ sở ở Whitehorse, Iqaluit, Inuvik và một vài cộng đồng khác. Alert, nằm ở cực bắc của đảo Ellesmere, là căn cứ quân sự cực bắc nhất trên thế giới. Có khoảng 55 người ở đó vào bất kỳ thời điểm nào. Canada cũng có 47 trạm radar tạo nên Hệ thống Cảnh báo phía Bắc, nhưng các trạm này không có nhân viên thường trực.

  Tổng thống Hoa Kỳ Obama cho công bố Chiến lược Quốc gia về Khu vực Bắc Cực năm 2013. Chiến lược Quốc Gia này có rất nhiều thiếu sót và trước hết thiếu tính cách cụ thể hoặc không phân công nhiệm vụ và trách nhiệm cho các cơ quan và ban ngành cụ thể nào của liên bang . Có chính sách nhưng không ngân sách ... đã tạo tiền đề cho bối cảnh lập lờ ngày nay.

Năm 2022, chủ nghĩa quân phiệt Nga của Vladimir Poutine tại Ukraine cùng tham vọng "Con đường Tơ lụa Bắc Cực" của Trung Quốc đã thúc đẩy Hoa Kỳ vội vã duyệt lại chiến lược Bắc Cực của mình, nhấn mạnh vào sự sẵn sàng về quân sự, cơ sở hạ tầng và hợp tác với khối NATO. 

Chính quyền của Tổng thống Hoa Kỳ Biden ưu tiên đầu tư vào việc sản xuất tàu phá băng, hành động chống biến đổi khí hậu và chủ trương mời gọi sự tham gia của người bản địa, nhằm tạo ra sự cân bằng tinh tế giữa an ninh quốc gia và phát triển bền vững trong khu vực ngày càng tranh chấp này.

Tuy nhiên ưu tiên sản xuất tầu phá băng của Hoa Kỳ lại vô cùng "khiêm tốn" so với Nga. Hoa Kỳ không có khả năng sản xuất tầu phá băng để ngày nay phải thương thuyết mua tầu phá băng do Phần Lan sản xuất dù rằng ông Donald Trump vừa mở miệng chỉ trích Phần Lan vì Phần Lan cực lực phản đối việc mua bán hay dọa nạt xâm chiến Greenland của ông ta.

Hoa Kỳ sở hữu duy nhất 03 (một chiếc đã quá cũ nát đến mức hầu như không thể sử dụng được) trong số 240 tàu phá băng của thế giới - một công cụ vận tải biển quan trọng cần thiết để mở ra cánh cửa đến Bắc cực hay Greenland .

Nga sở hữu hạm đội phá băng lớn nhất thế giới với khoảng 100 tàu, bao gồm cả những con tàu khổng lồ chạy bằng năng lượng nguyên tử.

Đứng thứ hai là Canada, quốc gia dự kiến ​​sẽ tăng gấp đôi hạm đội của mình lên khoảng 50 tàu phá băng, theo một báo cáo năm 2024 của Aker Arctic, một công ty thiết kế tàu phá băng có trụ sở tại Helsinki.

Trung Quốc hiện có 5 so với 3-1 = 2 của Hoa Kỳ.

Chúng ta có thể hiểu mối quan hệ của Nga với Bắc Cực ở hai cấp độ:

. Một mặt, xét đến tầm quan trọng của quốc gia lớn nhất thế giới này trong khu vực Bắc cực với nhiều đường biên giới được xác định trên cơ sở khí hậu sinh học hoặc chính trị, có thể so sánh với các quốc gia giáp biển Bắc Cực (nhóm Arctic-5: Nga, Canada, Hoa Kỳ, Na Uy và Đan Mạch thông qua Greenland) hoặc các quốc gia nằm ngay sát Bắc Cực (nhóm Arctic-5 cộng thêm Phần Lan, Thụy Điển và Iceland, tám quốc gia thành viên của Hội đồng Bắc Cực). Hội đồng Bắc Cực không chỉ bao gồm các quốc gia mà còn cả các hiệp hội của các dân tộc bản địa, trong đó có một hiệp hội từ Nga (Raipon), và các tổ chức phi chính phủ.

. Mặt khác, xét đến vị trí của các vùng Bắc Cực trong lãnh thổ Nga, đó là vùng ngoại vi cung cấp các nguồn tài nguyên thiết yếu, chịu sự chi phối của quá trình hội nhập lãnh thổ chưa hoàn chỉnh, hoặc thậm chí là (tái) chinh phục theo logic của một mặt trận tiên phong.

Hai quy mô này không thể tách rời, bởi vì trong khi Nga không thể phủ nhận vị trí trung tâm trong khu vực Bắc Cực, thì vùng Bắc Cực của Nga lại vô cùng quan trọng đối với Nga, không chỉ về mặt kinh tế mà còn cả địa hạt chính trị. Nga coi đây là yếu tố then chốt trong chiến lược quyền lực của mình, điều mà nhà nước Nga đã tìm cách khẳng định lại kể từ những năm 2000.

Cuộc chiến giành quyền kiểm soát một trong những nơi lạnh nhất thế giới này ngày càng nóng lên, cán cân an ninh vốn đã mong manh có thể đang bị phá vỡ, dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang leo thang.

Sự cạnh tranh ngày càng gia tăng ở Vùng Bắc Cực đang đẩy Greenland vào một cơn bão lốc lịch sử quan trọng. Hòn đảo Bắc Cực này, thuộc chủ quyền của Đan Mạch, nhưng lại có tầm mức sống còn đối với Hoa Kỳ do sự hiện diện của Nga và Trung Quốc cũng như các tuyến đường vận chuyển gần đó vì vậy giải thích một phần lý do Donald Trump nằng nặc đòi chiếm, đòi mua ...Greenland.

Trong số các quốc gia ven biển Bắc Cực, Nga sở hữu 53% đường bờ biển Bắc Cực, với vô số quần đảo, và một nửa diện tích đất liền của khu vực. Một nửa lãnh thổ Nga nằm ngoài vĩ tuyến 60 độ Bắc, và một phần ba nằm ngoài Vòng Bắc Cực (66°33'N). Hơn một nửa dân số sống trong Vòng Bắc Cực cư trú tại Nga, chiếm hơn 2,5 triệu trong số 4 triệu dân trên toàn vùng Bắc Cực . Trong số 12 thành phố thuộc Bắc Cực và cận Bắc Cực có dân số trên 100.000 người, 8 thành phố nằm ở Nga . Phần Bắc Cực thuộc Nga cũng tự hào có dân số bản địa đông nhất và nguồn tài nguyên phong phú nhất.

Phải thực sự nhìn nhận rằng Nga là cường quốc quân sự mạnh nhất trong khu vực Bắc Cực, và nước này coi việc duy trì ưu thế tương đối, cũng như khả năng chủ động chiến lược và thống trị leo thang xung đột trong khu vực là vô cùng quan trọng. Bán đảo Kola là cửa ngõ của Nga ra cả Bắc Băng Dương và Đại Tây Dương, và cơ sở hạ tầng của khu vực này mang lại những khả năng tốt nhất để triển khai lực lượng đến Bắc Cực hoặc xa hơn nữa.

Từ lâu không bị ảnh hưởng bởi căng thẳng địa chính trị toàn cầu, khu vực Bắc cực đã là nơi diễn ra sự hợp tác rộng rãi và đối thoại chặt chẽ giữa Nga và các quốc gia Tây Bắc Cực trong những thập kỷ gần đây việc Nga sáp nhập Crimea Ukraine năm 2014 nhất là từ khi Vladimir Poutine đổ quân xâm lăng Ukraine (2022) đã phá vỡ niềm tin của các nước đồng minh Hoa Kỳ trong vùng vốn từng được xây dựng trên sự trao đổi khoa học, kinh tế và văn hóa cũng như trên cách tiếp cận dựa trên sự đồng thuận đối với các thách thức chung, chẳng hạn như các vấn đề liên quan đến môi trường, thông qua các cơ cấu thể chế trong khu vực Bắc Cực.

Mặc dù các "đối thoại" trong khu vực vẫn tiếp tục nhưng không có sáng kiến ​​ngoại giao hay chiến lược mới nào được khởi xướng từ năm 2014, 2022 tới nay. Thậm chí, số lượng các cuộc tập trận quân sự trong vùng của cả Nga lẫn NATO còn ngày càng gia tăng hơn đã gây ra một cuộc đối đầu mới, gợi nhớ đến thời Chiến tranh Lạnh.

Cuộc chiến Ukraine đã làm gia tăng xu hướng nghi hoặc , điều đó được chứng minh bởi việc Phần Lan và Thụy Điển từ bỏ chính sách trung lập để gia nhập NATO. Hậu qủa của cuộc xâm lăng của Nga vào Ukraine cũng lây sang khu vực Bắc Cực: Các lệnh trừng phạt cấm vận , một trong những công cụ chính mà phương Tây sử dụng để đối phó ngày càng siết chặt hơn đối với các dự án khai thác dầu khí ngoài khơi Bắc Cực của Nga . Phương Tây đã quyết định cấm xuất khẩu hàng hóa, đầu tư dịch vụ và công nghệ phương Tây trong việc phát triển các mỏ dầu khí khí ngoài khơi Bắc Cực của Nga, đồng thời hạn chế hẳn nguồn vốn phương Tây cho các dự án quy mô lớn và tốn kém ở khu vực này. Hơn 1.000 công ty và các nhà đầu tư ngoại quốc đã thu hẹp hoặc đình chỉ hoạt động tại Nga.

Các cuộc đầu tư khai thác các mỏ dầu khí của các công ty TotalEnergies , ExxonMobil ... của Tây phương hiện đã đình chỉ hoạt động .

Nga là nước sản xuất dầu khí lớn nhất ở Bắc Cực, chiếm hơn 91% tổng sản lượng dầu khí có nguồn gốc từ Bắc Cực vào năm 2022. Nhìn chung, 80% lượng khí đốt và 60% lượng dầu mỏ sản xuất tại Nga được khai thác ở khu vực Bắc Cực Xuất khẩu hydrocarbon là điều thiết yếu đối với Nga vì lợi nhuận chiếm 50% doanh thu ngân sách quốc gia Nga. Nhưng Nga muốn khai thác, nhất là tại các địa điểm với những điều kiện cực kỳ khó khăn ở Bắc Cực phải có sự đầu tư lớn cùng với một trình độ kỹ thuật khai thác thật cao nhưng Nga lại không thể có những khá năng này được.

Bị cô lập về mặt ngoại giao ở cấp khu vực và bị phong toả kinh tế, Nga đã đẩy mạnh các sáng kiến ​​nhằm hình thành các quan hệ đối tác thay thế mới như Trung quốc hoặc Ấn Độ Thổ, Nhĩ Kỳ cùng với kế hoạch phát triển phía bắc lãnh thổ của mình, bao gồm cả Tuyến đường biển Đông Bắc, hay còn gọi là Tuyến đường biển phía Bắc (NSR). Sự chuyển hướng dài hạn này của Nga đã tạo ra khoảng cách về cấu trúc giữa Bắc Cực của Nga với phần còn lại của khu vực cực, kéo Nga gần hơn với châu Á. Hơn nữa, sự rạn nứt trong khu vực cũng thúc đẩy những thay đổi địa lý chính trị toàn cầu được đánh dấu bằng sự cạnh tranh giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ ở vùng Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.

. Quân Sự Nga tại Bắc Cực

Khai thác tiềm năng chiến lược của Bắc Cực từ lâu đã là tham vọng của các nhà lãnh đạo Liên Xô ngày trước và Nga hiện tại. Dựa trên những cuộc thăm dò ban đầu của Nga và tuyên truyền "Bắc Cực Đỏ" của Staline, Tổng thống Nga Vladimir Putine có tham vọng ở Bắc Cực và tìm cách khai thác câu chuyện về con người chinh phục thiên nhiên ở Bắc Cực như một đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa dân tộc Nga hiện đại. Bắc Cực là trụ cột trong sự trở lại vị thế cường quốc của Nga. Muốn thực hiện tham vọng này Vladimir Poutine phải củng cố sức mạnh quân sự Nga ở trong vùng .

Theo tài liệu công khai và nghiên cứu của Quỹ Simons, có 30 căn cứ ở Nga và 36 căn cứ ở các quốc gia NATO có lãnh thổ Bắc Cực: 15 căn cứ ở Na Uy – bao gồm một căn cứ của Anh – 8 căn cứ ở Hoa Kỳ, 9 căn cứ ở Canada, 3 căn cứ ở Greenland và 1 căn cứ ở Iceland.

Cũng theo tài liệu do Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS) và Reuters tổng hợp, số lượng căn cứ của Nga bên trong Vòng Bắc Cực nhiều hơn của NATO khoảng một phần ba.

Phương Tây sẽ cần ít nhất cần phải cố sức chạy suốt 10 năm để bắt kịp sức mạnh quân sự của Nga trong khu vực với điều kiện Nga đình chỉ phát triển ngay ngày hôm nay (theo The Economist và Newsweek). Trước đây, phương châm của những người có chủ trương không can thiệp vào Bắc Cực để vùng này là: “Vùng cực Bắc, có căng thẳng thấp”. Nhưng kỷ nguyên đó đã đi qua vì sự kết hợp của các yếu tố : băng tan, bất ổn và những quyết đoán của những nhà cầm quyền tại các nước có liên quan trực tiếp hay gián tiếp. Việc quân sự hóa khu vực không có lợi cho bất kỳ ai, nhưng đó chính xác là điều trái ngược đang xảy ra.

Sự hiện diện quân sự của Nga ở Bắc Cực nhằm đạt được ba mục tiêu:

1. Tăng cường phòng thủ trong nước, đặc biệt là tuyến phòng thủ tiền tuyến chống lại sự xâm nhập của nước ngoài khi khu vực Bắc Cực thu hút ngày càng nhiều đầu tư quốc tế;

2. Đảm bảo tương lai kinh tế của Nga và

3. Tạo ra một căn cứ để triển khai sức mạnh, chủ yếu ở Bắc Đại Tây Dương. Khu vực đóng vai trò thiết yếu đối với sức sống kinh tế và quân sự trong tương lai của Nga. Do đó, việc tăng ngân sách đáng kể đã thúc đẩy hoạt động quân sự và kinh tế của Nga ở Bắc Cực trong thập kỷ qua. Các dự án và cơ sở hạ tầng lớn tập trung vào phát triển tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ tuyến đường hàng hải, tức là Tuyến đường biển phía Bắc (NSR).

Tuyến đường biển phía Bắc (NSR), chạy dọc theo bờ biển phía bắc Nga, và tuyến đường biển Tây Bắc, ôm sát bờ biển phía bắc của Bắc Mỹ, đều hầu như không bị đóng băng trong thời điểm cao điểm mùa hè kể từ cuối những năm 2000. Tuyến đường biển phía Bắc rút ngắn thời gian đi biển giữa châu Á và châu Âu xuống còn khoảng hai tuần, bằng khoảng 1/2 thời gian so với tuyến đường kênh đào Suez thường xuyên được xử dụng. Mặc dù một phần tuyến đường này đã được Nga sử dụng trong thời Liên Xô để tiếp cận và cung cấp hàng hóa cho các địa điểm xa xôi, nhưng những khó khăn mà nó đặt ra đã khiến tuyến đường này phần lớn bị bỏ qua như một lựa chọn cho vận tải biển quốc tế.

Tuyến đường biển Bắc (NSR) trải dài từ eo biển Bering ở phía đông đến cửa ngõ Kara ở phía tây, với chiều dài khoảng 5.600 km. Trong những tháng gần đây, Nga đã thực hiện một số thay đổi quan trọng liên quan đến việc sử dụng NSR. Những thay đổi này bao gồm việc trao quyền kiểm soát hành chính cho Rosatom, cơ quan hạt nhân của Nga, đối với tuyến đường này và hạn chế giao thông của các tàu chiến nước ngoài nếu không có thông báo và sự cho phép trước 45 ngày từ chính phủ Nga.

Nga coi Tuyến đường biển Bắc (NSR) là tuyến đường thủy nội địa trong khi phần lớn cộng đồng quốc tế coi nó là tuyến đường thủy quốc tế. Việc Nga leo thang kiểm soát NSR gần đây cho thấy tham vọng của nước này ở Bắc Cực và là dấu hiệu cảnh báo về mong muốn giám sát và kiểm soát sự phát triển kinh tế trong khu vực.

Tình hình đã thay đổi vào đầu những năm 2010 khi con đường trở nên dễ tiếp cận hơn, và kể từ đó số lượng chuyến đi qua đây đã tăng từ chỉ vài chuyến mỗi năm lên khoảng 100 chuyến.

Từ năm 2022, Nga đã tăng cường sử dụng tuyến đường này để vận chuyển dầu khí đến Trung Quốc sau khi các lệnh cấm vận trừng phạt cắt đứt nguồn cung cho các khách hàng châu Âu trước đây (ví dụ bán dầu khí sang Âu châu).

Tương tự như thế , tuyến đường biển Tây Bắc cũng trở nên khả thi hơn, với số lượng chuyến tàu đi xuyên suốt tăng từ chỉ vài chuyến mỗi năm vào đầu những năm 2000 lên tới 41 chuyến vào năm 2023.

Mùa vận tải biển hè-thu năm 2025 trên Tuyến đường biển phía Bắc của Nga đã kết thúc với 103 chuyến vận chuyển ước tính 3,2 triệu tấn hàng hóa.

. “Hai vùng Bắc Cực” của Nga - Hai lục địa và chín múi giờ !

Trải dài gần như nửa vòng trái đất, vùng Bắc Cực của Nga trải rộng trên hai lục địa và chín múi giờ ( Bản đồ Bắc Cực ).

Vùng Bắc Cực của Nga giáp biên giới với Na Uy và Phần Lan ở phía tây, và kéo dài về phía đông qua Siberia đến Biển Bering . Bán đảo Chukotka gần như tiếp giáp với Alaska (một thuộc địa cũ của Nga được bán cho Mỹ năm 1867) qua eo biển Bering . Năng lực quân sự của Nga được phân bổ theo khu vực giữa hai nửa phía đông và phía tây lãnh thổ Bắc Cực của nước này. Tại khu vực Bắc Cực phía đông của Nga, các tàu quốc tế di chuyển từ khu vực châu Á - Thái Bình Dương qua eo biển Bering hẹp để vào Tuyến đường biển Bắc (NSR). Nga đã tân trang các sân bay, đầu tư vào hoạt động tìm kiếm cứu nạn và xây dựng các trạm radar để nâng cao khả năng giám sát trên không và trên biển. Việc triển khai hệ thống radar Sopka-2 trên đảo Wrangel (cách Alaska 300 dặm) và mũi Schmidt là rất cần thiết để nâng cao khả năng giám sát hoạt động.

Các hệ thống ở phía đông Bắc Cực tạo ra một “vòm bảo vệ”, bảo đảm an ninh cho đường bờ biển rộng lớn của Nga ở Bắc Cực và nâng cao khả năng phát hiện và theo dõi tàu thuyền và máy bay. Radar Sopka-2 cũng kiểm soát giao thông hàng không dân sự và cung cấp dữ liệu khí tượng để hỗ trợ tốt hơn cho các thủy thủ đi lại trên Tuyến đường biển phía Bắc (NSR). Các hệ thống này đáp ứng tham vọng của Tổng thống Putin về việc tăng cường đáng kể giao thông hàng hải dọc theo NSR đồng thời tăng cường sự hiện diện quân sự của Nga trong khu vực.

Dấu ấn quân sự của Nga thay đổi khi tiến sâu vào khu vực trung tâm Bắc Cực. Tại đây, Nga đã triển khai nhiều trang thiết bị tinh vi hơn để bảo vệ không phận và lãnh hải của mình. Ví dụ, đảo Kotelny và Novaya Zemlya được trang bị các hệ thống phòng không, như hệ thống Bastion-P và Pantsir-S1. Các hệ thống này tạo ra một cấu trúc phòng thủ bờ biển phức tạp, nhiều lớp, bảo vệ lãnh thổ sâu hơn vào trung tâm Bắc Cực. Khả năng này củng cố năng lực của Nga trong việc ngăn chặn lực lượng NATO hoặc Mỹ tiếp cận bằng đường không, đường biển hoặc đường bộ.

Vùng Bắc Cực phía tây của Nga là nơi đặt các năng lực phòng thủ tiên tiến nhất cũng như các năng lực tấn công tiềm tàng của nước này. Các địa điểm xa xôi như vùng đất Alexandra được trang bị các năng lực trên không, trên biển và trên bộ, củng cố sức mạnh phòng thủ trên biển và trên không đa tầng của Nga. Trọng tâm của các hệ thống phòng thủ này là bảo vệ kho vũ khí hạt nhân của Nga và khả năng phản công trả đũa do Hạm đội phương Bắc hùng mạnh chỉ huy.

Hạm đội phương Bắc đóng tại Severomorsk trên bán đảo Kola ở phía tây Bắc Cực. Từ đó, hạm đội có quyền tài phán đối với khu vực tây bắc của đất nước cũng như Bắc Băng Dương và có nhiệm vụ bảo đảm an ninh cho bờ biển phía bắc của Nga. Hạm đội sở hữu các khí tài trên bộ, trên không và trên biển tiên tiến nhất của Nga tại Bắc Cực.

Lập trường quân sự của Nga ở Bắc Cực nhấn mạnh vào báo động sớm và phòng thủ trên không trên biển, thể hiện rõ qua việc Nga mở cửa trở lại 50 tiền đồn quân sự thời Liên Xô đã đóng cửa trước đây bao gồm việc tân trang 13 căn cứ không quân, 10 trạm radar, 20 tiền đồn biên giới và 10 trạm cứu trợ khẩn cấp . Các đơn vị đặc nhiệm Nga cũng là một phần của Lữ đoàn Bắc Cực và đã được triển khai đến khu vực này để tập trận và huấn luyện.

Điều đáng lo ngại nhất là Nga đã thử nghiệm các năng lực quân sự mới đặt tại Bắc Cực, chẳng hạn như phóng tên lửa hành trình siêu thanh và máy bay không người lái dưới nước chạy bằng năng lượng nguyên tử. Các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ đã bày tỏ mối lo ngại ngày càng tăng về việc thiết lập các căn cứ phóng tên lửa liên lục địa Nga ở Bắc Cực và "con đường tiếp cận trực tiếp" của tới lãnh thổ Hoa Kỳ.

Lực lượng hải quân Nga đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lãnh thổ Bắc Cực của Nga và bảo vệ các dự án kinh tế trọng yếu. Hạm đội phương Bắc là lực lượng bảo đảm an ninh Bắc Cực của Nga. Được thành lập năm 2014 với tên gọi Bộ Tư lệnh Chiến lược Bắc Cực, các phương tiện nổi và ngầm của Hạm đội phương Bắc đảm bảo sự hiện diện mạnh mẽ ở phía tây Bắc Cực, bảo vệ bờ biển phía bắc của Nga và thể hiện sức mạnh vượt ra ngoài bán đảo Kola. Năm 2017, Nga đã cập nhật chiến lược hải quân của mình , thể hiện rõ tham vọng ở Bắc Cực và nhấn mạnh tầm quan trọng của Hạm đội phương Bắc.

Hạm đội phương Bắc đó bảo vệ các tài sản quân sự của Nga trên bán đảo Kola. Nhờ vậy, Nga có thể tự do hơn trong việc tiến hành các hoạt động chiến lược và bảo đảm an toàn cho lực lượng nguyên tử trên biển của mình. Bán đảo Kola sở hữu những yếu tố vừa để bảo vệ lãnh thổ vừa để triển khai sức mạnh đến khu vực GIUK-N chiến lược (Greenland, Iceland và Anh-Na Uy) GIUK là một đường tưởng tượng ở Bắc Đại Tây Dương, tạo thành một tuyến đường chiến lược cho các tàu quân sự . Tên viết tắt của "Greenland , Iceland , United Kingdom" (Greenland, Iceland , Anh quốc ), cho phép Nga cắc đứt các tuyến đường biển liên lạc quan trọng của NATO giữa Bắc Mỹ và châu Âu. Hạm đội phương Bắc không chỉ đảm bảo quyền tiếp cận của Nga đến Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và khu vực GIUK-N mà còn giám sát các hoạt động dọc theo Tuyến đường biển phía Bắc (NSR).

Hạm đội phương Bắc bao gồm các tàu ngầm mang tên lửa và ngư lôi chạy bằng năng lượng hạt nhân; máy bay mang tên lửa và chống tàu ngầm; tàu nổi có khả năng mang tên lửa, máy bay và chống tàu ngầm; lực lượng ven biển; lực lượng độc lập hỗn hợp; Không quân và Phòng không Nga; và các quân đoàn của Lực lượng Mặt đất.

Bổ sung cho Hạm đội phương Bắc là hạm đội tàu phá băng hạt nhân và phi hạt nhân lớn nhất thế giới, với hơn 40 tàu. Tàu phá băng đóng vai trò quan trọng không chỉ trong việc bảo vệ bờ biển của Nga mà còn thúc đẩy và giám sát thương mại hàng hải thông qua Tuyến đường biển phía Bắc. Việc phát triển hạm đội tàu phá băng của Nga, với quy mô lớn hơn nhiều so với các quốc gia Bắc Cực khác, bao gồm cả Hoa Kỳ (hai tàu), là điều cần thiết cho cả tư thế quân sự và kế hoạch phát triển kinh tế của Nga. Hạm đội tàu phá băng thể hiện tính hai mặt trong sự hiện diện quân sự của Nga, vừa dọn đường cho tàu quân sự và thương mại, vừa đóng vai trò là nền tảng khoa học di động khi cần thiết. Một số tàu phá băng của Nga cũng được trang bị tên lửa hành trình Kalibr và hệ thống tác chiến điện tử.

Lực lượng không quân cũng đóng vai trò quan trọng không kém trong việc đảm bảo quyền kiểm soát của Nga đối với lãnh thổ Bắc Cực. Trong những năm gần đây, Nga đã tân trang lại các căn cứ không quân thời Liên Xô và xây dựng các căn cứ mới dọc theo Tuyến đường biển Bắc (NSR). Ví dụ như căn cứ không quân Rogachevo trên đảo Novaya Zemlya, căn cứ không quân Nagurskoye trên đảo Alexandra Land và căn cứ không quân Temp trên đảo Kotelny. Lực lượng phòng không và hệ thống phòng không được ưu tiên trong số các cơ sở hạ tầng quân sự mới ở vùng Bắc Cực của Nga, cả trên đất liền và trong Vùng Bắc Cực của Liên bang Nga (AZRF) . Điều này bao gồm đầu tư vào các hệ thống phòng không và phòng thủ bờ biển nhiều lớp, năng lực tác chiến điện tử và hệ thống radar.

Nga cũng đang quay trở lại với các chiến thuật thời Chiến tranh Lạnh, đặc biệt là khái niệm phòng thủ kiểu pháo đài, trong đó Nga bảo vệ các lãnh thổ chiến lược để đảm bảo quyền tự do hoạt động của mình. Khi thực hiện phòng thủ kiểu pháo đài, Nga ngày càng mở rộng phạm vi hoạt động, tìm cách thiết lập quyền kiểm soát vùng biển sâu giữa Svalbard và Na Uy và bảo vệ không phận hướng tới eo biển GIUK-N. Nga thực hiện điều này thông qua việc triển khai các tàu ngầm có khả năng cao, bao gồm cả lớp Sierra II - một trong những tàu ngầm tấn công nhanh có khả năng nhất của Nga.

. Các cuộc tập trận ở Bắc Cực

Việc gia tăng cường độ, quy mô và thử nghiệm vũ khí hạt nhân là những đặc điểm nổi bật của các cuộc tập trận quân sự của Nga ở Bắc Cực trong bốn năm qua. Trọng tâm được đặt vào thời gian cảnh báo ngắn và khả năng cơ động chiến lược và chiến thuật. Gần đây nhất, Nga đã thể hiện khả năng phòng thủ kiên cố của mình trong cuộc tập trận Ocean Shield tháng 8 năm 2019. Trong khi tập trận ở Biển Baltic, Hạm đội phương Bắc đã tiến vào Biển Bắc và tiến hành các cuộc trình diễn bắn đạn thật ở Biển Na Uy. Những nỗ lực này thể hiện một tuyến phòng thủ tiền tuyến rõ ràng để bảo vệ khe hở GIUK-N và phong tỏa eo biển Anh. Mục đích của các cuộc tập trận này là để phô trương khả năng của Nga trong việc triển khai sức mạnh vượt ra ngoài vùng biển Bắc Cực và khẳng định quyền kiểm soát hàng hải.

Điều quan trọng cần lưu ý là một chiến thuật tương tự của Nga đã xảy ra gần 10 tháng trước đó khi Nga chiếm eo biển Kerch , một tuyến đường thủy hẹp nối Biển Đen và Biển Azov, điều này đã khiến Biển Azov bị phong tỏa hiệu quả.

Cuộc tập trận Ocean Shield của Hạm đội phương Bắc diễn ra vào tháng 8 năm 2019 trước hoặc đồng thời với các cuộc tập trận Vostok-18, Tsentr-19 và Grom-19 ở những nơi khác trong khu vực Bắc Cực. Cuộc tập trận Vostok-18 được tiến hành vào tháng 9 năm 2018 ở miền đông nước Nga và một phần ở Biển Bering. Nó có sự tham gia của tổng cộng 300.000 binh sĩ và là cuộc tập trận quân sự lớn nhất do Nga tiến hành kể từ năm 1981, trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

Cuộc tập trận Tsentr-19 diễn ra ở miền trung nước Nga vào tháng 9 năm 2019. Hạm đội phương Bắc đã tiến hành một số cuộc tập trận ở Bắc Cực, sử dụng các thiết bị quân sự mới được thiết kế cho vùng biển này. Các cuộc tập trận quân sự quan trọng cũng diễn ra giữa quần đảo Novaya Zemlya và quần đảo Tân Siberia ở Bắc Cực.

Grom-19 là một cuộc tập trận quan trọng diễn ra vào tháng 10 năm 2019, huy động lực lượng hạt nhân chiến lược của Nga. Cuộc tập trận bao gồm 10 tàu ngầm Nga — trong đó có 8 tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân — tuần tra eo biển GIUK. Grom huy động toàn bộ bốn hạm đội hải quân của Nga, 12.000 binh sĩ, và phóng hai đầu đạn hạt nhân xuống biển Barents cùng một số tên lửa đạn đạo khác.

. Đảo Wrangel

Đảo Wrangel cách bờ biển Alaska gần 300 dặm và là nơi đặt radar Sopka-2. Đây là trạm radar đặt ở vị trí cực đông trong "vòm bảo vệ", một mạng lưới các radar hiện đại bao phủ bờ biển phía bắc Nga, bảo vệ lãnh thổ Bắc Cực của Nga. Tuy nhiên, hệ thống radar cảnh báo sớm và định vị này có giá trị chiến lược hạn chế khi hoạt động độc lập.

. Đảo Kotelny

Đảo Kotelny, một trong những hòn đảo lớn nhất thuộc quần đảo Tân Siberia, nằm ngoài khơi bờ biển phía bắc Siberia, là nơi đặt căn cứ không quân Temp. Căn cứ được trang bị một khu phức hợp quân sự Trefoil hiện đại vời các cơ sở thông tin liên lạc và radar Sopka-2 với các bệ phóng cho radar, trung tâm chỉ huy và kiểm soát cùng các phương tiện phóng tên lửa.

Hệ thống phòng thủ bờ biển Bastion-P và Pantsir-S1 tạo nên một cấu trúc phòng thủ bờ biển phức tạp, nhiều lớp trên đảo Kotelny. Các hệ thống này cho phép Nga bảo vệ lãnh thổ tốt đẹp hơn để ngăn chặn lực lượng NATO hoặc Mỹ tiếp cận bằng đường hàng không, đường biển hoặc đường bộ. Cùng với các tàu ngầm hoạt động thường trực , khả năng phòng không và chống tàu mới trên đảo Kotelny là những thành phần cốt lõi của một vùng phòng thủ chống tiếp cận/chống xâm nhập (A2/AD) ở vùng Bắc Cực của Nga.

. Tiksi

Chính phủ Nga đã nhiều lần công bố các kế hoạch đầy tham vọng nhằm mở rộng căn cứ không quân Tiksi ở miền trung-đông nước Nga. Việc mở rộng dự trù ​​bao gồm khu nhà ở và các tòa nhà hành chính, một nhà máy điện chạy bằng dầu diesel, và các bể chứa nước và nhiên liệu – tổng cộng 11 công trình mới. Căn cứ được thiết lập để tiếp nhận và vận hành một trung đoàn tên lửa phòng không S-400 hiện đại nhằm tăng cường phòng không, sau này sẽ được bổ sung bởi các trung đoàn kỹ thuật vô tuyến giám sát không phận được bảo vệ. Việc hoàn thành Tiksi thể hiện sự kết hợp giữa nhu cầu quân sự của Nga và các kế hoạch kinh tế đầy tham vọng của nước này. Các tính năng lưỡng dụng kết hợp sự hiện diện quân sự của Nga để phòng thủ lãnh thổ và phô trương sức mạnh với khả năng đáp ứng các nhu cầu an ninh dân sự như tìm kiếm và cứu nạn. Tuy nhiên, hình ảnh vệ tinh gần đây không cho thấy bằng chứng về hệ thống S-400 hoặc sự mở rộng nào đáng kể. Nga dường như cũng đang chậm trễ nhiều trong các kế hoạch đối với Tiksi hoặc không thể gửi thiết bị thường trực vì các căn cứ khác ở Bắc Cực được ưu tiên cao hơn.

. Alexandra Land

Vào tháng 4 năm 2017, Nga đã khánh thành căn cứ quân sự Arctic Trefoil trên đảo Alexandra Land ở phía đông bắc Biển Barents. Đây là tiền đồn quân sự cực bắc của Nga và là tiền đồn thứ hai thuộc loại này, sau căn cứ Northern Clover hoàn thành trên đảo Kotelny. Alexandra Land cũng là nơi đặt căn cứ không quân Nagurskoye đã được nâng cấp. Alexandra Land cung cấp khả năng không-biển-đất liền, củng cố sức mạnh hàng hải và phòng không đa tầng của Nga, bảo vệ bán đảo Kola và trụ sở Hạm đội phương Bắc, đồng thời khẳng định quyền kiểm soát của Nga đối với Tuyến đường biển Bắc (NSR). Vị trí gần các eo biển Greenland-Iceland-Na Uy (GIN) và GIUK của Alexandra Land có thể làm gián đoạn các tuyến đường biển liên lạc quan trọng của NATO giữa Bắc Mỹ và châu Âu, cản trở việc tăng cường quân sự của Mỹ cho châu Âu nếu có.

. Novaya Zemlya

Novaya Zemlya là nơi đặt căn cứ không quân Rogachevo của Nga. Việc nâng cấp đã diễn ra trong giai đoạn 2018-2019 và bao gồm việc triển khai thêm lực lượng radar, tác chiến điện tử và tình báo tín hiệu cùng các thiết bị liên quan. Đặc biệt, trong 2 tháng 7 và 8 năm 2019, hệ thống S-400 đã được triển khai đến Rogachevo.

Hệ thống S-400 cung cấp các khả năng hệ thống radar và tác chiến điện tử tiên tiến hơn, mở rộng tầm bắn của hệ thống phòng không Novaya Zemlya. Việc Nga triển khai hệ thống S-400 tại căn cứ không quân Rogachevo báo hiệu ý định của Điện Kremlin nhằm bảo đảm an ninh lãnh thổ Tây Bắc Bắc Cực thông qua phòng thủ kiên cố, bảo vệ các tài sản quân sự quan trọng nhất trên bán đảo Kola, và lấp đầy những khoảng trống tiềm tàng giữa căn cứ không quân Nagurskoye trên đảo Alexandra và các trạm radar trên bán đảo Kola. Hệ thống S-400 đặt ra thách thức cho NATO trong khu vực, có khả năng làm phức tạp hoạt động tự do ở Bắc Đại Tây Dương, biển Na Uy và biển Barents bằng cách mở rộng khả năng phòng thủ của Nga.

. Bán đảo Kola

Là viên ngọc quý của Nga ở Bắc Cực, bán đảo Kola là trung tâm năng lực quân sự phía tây Bắc Cực của Nga. Nơi đây có mật độ cao các khí tài phòng thủ và tiềm năng tấn công. Bán đảo Kola đã được nâng cấp cơ sở hạ tầng đáng kể trong vài năm qua, bao gồm việc mở rộng căn cứ tàu ngầm Gadzhiyevo, các hầm chứa vũ khí lớn mới tại vịnh Okolnaya, công trình xây dựng tại Bolshoye và nâng cấp căn cứ không quân Severomorsk-1.

Các cơ sở này mở rộng và tăng cường chiều sâu cho khả năng phòng thủ của Nga tại lãnh thổ Bắc Cực chiến lược nhất của nước này, đồng thời đảm bảo quyền tự do di chuyển của Nga trên biển và trên không. Các địa điểm lân cận, chẳng hạn như Trung tâm Vũ trụ Plesetsk, nơi diễn ra cuộc thử nghiệm tên lửa đạn đạo liên lục địa RS-24 Yars gần đây, bổ sung thêm một yếu tố nữa cho năng lực quân sự của Nga ở Bắc Cực. Bán đảo Kola và khu vực xung quanh thường là trung tâm của các cuộc tập trận quân sự quy mô lớn, diễn tập phòng thủ cứ điểm cũng như thử nghiệm tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) của Nga, đôi khi diễn ra mà không có cảnh báo trước.


Nga tăng cường hiện diện quân sự ở Bắc Cực tại các địa điểm như thế giúp bảo vệ lãnh thổ và đảm bảo quyền tự do hoạt động của nước này. Việc gia tăng đầu tư và năng lực cũng hạn chế sự di chuyển và tiếp cận của NATO và có lợi ích cả cho nước anh em Trung Quốc thông qua khả năng ngăn chặn trên không phận và hàng hải. Quan trọng hơn nữa, Nga đang phát tín hiệu về khả năng quân sự để có thể triển khai sức mạnh trên các "tuyến đường tiếp cận" của Hoa Kỳ ở Bắc Cực và định hình tương lai của khu vực ngày càng quan trọng gây nhiều tranh cãi (bằng miệng) và có thể còn dẫn tới (thượng cẳng chân hạ cẳng tay) tranh chấp quân sự nữa.  -./.

Theo rất nhiều tài liệu trên Internet và các cơ quan truyền thông.
Viết tại La Sérénité Troyes-Pháp 20.19'-25.01.2026.

... ĐÓN ĐỌC TIẾP TRONG LOẠI BÀI GREENLAND : KỲ III - BẮC CỰC TRUNG QUỐC VÀ HOA KỲ




VVM.27.01.2026.