Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
        


CÓ PHẢI ĐẠO PHẬT MUỐN CON NGƯỜI BỎ ĐỜI ĐI TU

CẤT CÀNG NHIỀU CHÙA, DỰNG TƯỢNG CÀNG CAO CÀNG TỐT ?

  


K hông biết từ bao giờ, Phật Tử đã quen với hình ảnh Chùa chiền bao la, trần thiết bằng những vật liệu quý nhất, đẹp nhất, giá trị nhất. Tu sĩ từ lúc xuất gia không động đến móng tay. Họ chỉ làm công việc quảng bá Phật để Phật tử Quy Y càng nhiều càng tốt, rồi sau đó, nhân danh tôn vinh Phật, từ việc cất Chùa cho tới mọi chi phí điện nước, bông hoa, nhang đèn trang trí cho Chùa, thậm chí cơm áo, xe cộ di chuyển, thuốc men khi có bệnh của Tu Sĩ đều do Phật Tử cung cấp, nên lúc nào các Tu sĩ cũng thảnh thơi, thong dong, nhàn hạ, và thấy đó là điều đương nhiên, cho đó là phước báo của người tu. Theo quan điểm được lớp đi trước truyền lại, người dám hy sinh bỏ nhà đi tu, là những bậc trí, vì vậy, thì lúc sống thì mọi thứ có Phật Tử lo cho trọn gói. Khi qua đời thì Phật A Di Đà và Thánh chúng sẽ rước về Tây Phương Cực Lạc ! Hình ảnh đó thật tương phản với những người đời : Ngày tới tối phải vật lộn với miếng cơm manh áo. Phải chạy sắp chạy ngửa để lo cho vợ con, vậy mà nhiều người còn thiếu trước, hụt sau ! Nhiều người đã dùng hình ảnh tương phản này để chứng minh : Trần gian là tục tụy, người mê đắm trần gian là phải Khổ đủ đường, để xui mọi người bỏ thế gian, vô Chùa mà tu để không còn vương mùi tục lụy vì thế gian chỉ đầy phiền não !

Khi đã chấp nhận cuộc sống tu hành rồi thì cuộc đời có xáo trộn cỡ nào ? hay xã hội có mở mang, khoa học có phát triển, kinh tế có phồn thịnh hay suy sụp, người dân có phấn đấu giàu lên hay lụn bại họ cũng không cần quan tâm, cho rằng như vậy là đã “ly trần”, “thoát trần” ! Chính vì vậy mà từ nhiều đời, mọi người có quan niệm là những có học thức, địa vị, có những nghề nghiệp mà xã hội cần, như Bác sĩ, kỹ sư, kiến trúc sư, những doanh nhân đang phát đạt mà bỏ hết để đi tu là sự hy sinh lớn lao cho Chánh pháp, không biết là mình đã tán dương cho việc hủy hoại công sức học hành cả nửa đời của nhiều người mà lẽ ra với kiến thức đã học họ có thể làm lợi ích rất nhiều cho xã hội ! Có Hòa Thượng còn khuyến tu bằng cách dùng hình ảnh Đức Phật Thích Ca. Cho rằng “Đức Phật Thích Ca nhờ bỏ đất nước nhỏ bé nên được cả thế giới tôn thờ” làm cho nhiều hiểu lầm, không biết cái phát tâm đi tu như thế là để được cái danh, không phải là vì Con Đường Giải Thoát !

Ai cũng đều biết Đạo Phật cho rằng “Đời là bể Khổ”, “Hữu thân hữu Khổ” , Vạn Pháp là Vô Thường, kiếp sống cũng Vô Thường, và dạy rằng chỉ có Xuất Gia tu hành mới là chân hạnh phúc, rồi từ sau khi Y Bát không còn truyền nữa thì mạnh ai ấy dùng hình ảnh của Đức Thích Ca để rao giảng cho nhiều người khác sự hiểu biết của mình về Đạo Phật, cho đó là giảng Đạo Phật. Họ cũng dựa theo những gì được viết trong Kinh sách, rồi “Y KINH GIẢI NGHĨA” để biến Phật thành Thần Linh, tả những đức tính của Phật, nào là “Từ, Bi, Hỉ, Xả”, “Cứu độ Tam Thiên Đại Thiên thế giới”. Chư Bồ Tát lúc nào cũng “tầm thinh cứu nạn”. Phật Quốc ở Tây Phương Cực Lạc thì đầy dẫy ngọc ngà châu báu, dây vàng giăng khắp, thậm chí cát cũng bằng vàng ròng.. làm cho nhiều người mến mộ Phật nên phát tâm Quy y để được phù hộ, độ trì.

Mọi người đâu có thì giờ để tra cứu Kinh sách, làm sao biết được những điều họ giảng là thực hay không ? cho nên, cứ thế mà tin, mà tôn thờ Phật, và làm theo hướng dẫn. Do vậy mà từ rất lâu đã hình thành trong Đạo Phật hai nhóm : Một nhóm là Tu Sĩ, chuyên quảng bá hình ảnh Phật. Đi tới đâu thì cũng xây Chùa, dựng tượng, rồi ở giữa làm trung gian chuyển lời cầu xin của bá tánh đến Phật ! Phật Tử thì Sống thì Cầu An, cầu phát tài phát lộc, làm ăn hanh thông, thăng quan tiến chức, con cái học giỏi, gia đạo thuận hòa, mua may bán đắt. Khi có người thân qua đời thì rước Sư đến Cầu Siêu, để Phật rước về Tây Phương Cực Lạc, và có nhiệm vu chu cấp từ A đến Z cho Tu Sĩ , với danh nghĩa Cung Dưỡng để họ yên tâm mà tu tập. Một phần Phật tử được tuyên truyền là “Bố thí cho Chùa chiền, cho người tu hành thì phước báo sẽ trả lại gấp trăm, gấp ngàn lần”, nên họ “công đức” bao nhiêu cũng không tiếc, nghĩ là để dành phước báo !

Có bao giờ chúng ta thắc mắc :

1/- Liệu có phải việc tu hành, Đắc Đạo của Đức Thích Ca có làm cho Ngài trở thành Thần Linh, có quyền cứu độ, phù hộ cho bá tánh khi sống cũng như sau khi qua đời ? Khi gia đình có người thân sắp mất thì chỉ cần các Sư đến tụng kinh là Phật và thánh chúng sẽ đến rước vong linh người chết về Tây Phương Cực Lạc như các Pháp Sư vẫn rao giảng không ?

2/- Việc tu học có gì quá khó khăn đến độ các Tu Sĩ phải dành toàn bộ thì giờ để tu mà không tự kiếm sống lo cho bản thân được ? Việc tu hành thì “Ai tu nấy đắc” sao Phật Tử phải cung dưỡng mọi thứ để các Tu Sĩ tu hành rồi có chứng đắc cũng chỉ bản thân họ nhờ ?

3/- Phật có cần ta cất những Chùa chiền to lớn, dựng tượng ngày càng cao để tôn vinh hay không ?

4/- Con người sẽ được gì khi tu hành theo Đạo Phật ?

Để trả lời cho câu hỏi thứ nhất, thì ai có theo dõi quá trình tu học của Đức Thích Ca thì đều thấy : Mục đích của Thái Tử Sĩ Đạt ta khi rời bỏ cung vàng điện ngọc để đi tu học chỉ là để tìm con đường để Thoát cảnh Khổ SINH, LÃO, BỆNH, TỬ của kiếp sống, điều đã làm Ngài trăn trở đến độ phải rời bỏ ngai vàng, vợ đẹp, con thơ để đi tìm câu trả lời. Sáu năm Ngài tu học với Lục Sư ngoại đạo chỉ học được một số phép Thần Thông “Nách bên tả phun lửa, bên hữu phun khói” . Sau khi thấy những phương pháp đó, kể cả, Lõa Thể, Khổ Hạnh, mỗi ngày ăn có một hột mè đến thân thể suy kiệt, suýt chết mà vẫn không tìm ra câu trả lời cho điều Ngài trăn trở. Cuối cùng, Ngài thấy rằng “Tinh thần không thể minh mẫn trong một thể xác yếu đuối”, nên đã nhận bát cháo sữa của cô gái chăn bò, rồi trải tòa cỏ NGỒI THIỀN ĐỊNH dưới cội cây Bồ Đề suốt 49 ngày đêm. Rạng sáng đêm cuối cùng thì Ngài tìm được câu trả lời cho điều mình muốn biết, nên gọi là “Đắc Đạo”.

“ĐẠO” mà Đức Thích Ca “ĐẮC” chỉ là THẤY ĐƯỢC, TÌM ĐƯỢC THỦ PHẠM ĐÃ GÂY RA CẢNH SINH, LÃO BỆNH TỬ TRÊN CÁI THÂN CỦA CON NGƯỜI. Không có phép mầu nào để biến Ngài thành Thần Linh có quyền cứu độ hay ban ân, giáng phúc cho ai hết. Sau đó Ngài trở về Vườn Lộc Uyển để độ cho năm người bạn trước đó cùng tu Khổ Hạnh chung với Ngài. Kế đến là tập họp một số Đệ tử để truyền lại những điều Ngài vừa khám phá ra.

Pháp của Ngài truyền chỉ là CON ĐƯỜNG, hay CÁCH THỨC để THOÁT KHỔ. Người tin theo phải TỰ MÌNH HÀNH TRÌ để đạt được, gọi là TỰ ĐỘ. Ngài không có độ hay làm giúp gì cho ai được. Do đó, những lời tuyên truyền là Phật cứu độ, ban ân, giáng phúc không phải từ Đạo Phật chân chính, mà của những người không hiểu rõ về Đạo Phật đã “Y Kinh giải nghĩa”.

Nhưng tại sao trong Kinh có viết “Phật cứu độ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới”, Quán Thế Âm Bồ Tát luôn tầm thinh cứu nạn” ?

Muốn hiểu những điều này ta phải hiểu về quy trình tu hành theo Đạo Phật do Đức Thích Ca truyền dạy.

Theo Đức Thích Ca, con người gồm có hai phần. Một phần là cái Thân hữu tướng do Tứ Đại (Đất, Nước, Gió, Lửa) hợp thành. Nó được cha mẹ sinh ra, do ăn uống mà lớn lên, rồi ngày càng Già, bệnh, cuối cùng là Chết. Nó không thật, không bền nên Đạo Phật gọi đó là cái TA GIẢ (Giả Ngã).

Trong Thân hữu tướng này, có một phần VÔ TƯỚNG, rất linh hoạt, bất sinh, bất tử. Chính nó điều khiển cho mọi hoạt động của Cái Thân Tứ Đại trong kiếp sống. Nếu làm một cuộc so sánh thì cái Thân Tứ Đại giống như con rối, và cái bộ phận điều khiển con rối Phật gọi là CÁI TÂM hay THẦN THỨC. Phía Thiên Chúa Giáo thì gọi là LINH HỒN. Phía Đạo gia thì gọi là TIỂU LINH QUANG. Dù xuất phát từ nhiều nguồn gốc khác nhau, nhưng hầu hết các Tôn Giáo đều nhìn nhận ngoài cái Thân Hữu Tướng, mỗi người còn có một cái Thân Vô Tướng, dù gọi bằng những cái tên khác nhau.

Các Tôn giáo đều cho rằng cái Thân Vô Tướng đó mới là chính cái TA THẬT (Chân Ngã) của mỗi người. Nó trường tồn, bất sinh, bất điệt, và là chủ nhân, điều khiển cho mọi hoạt động của cái Thân Hữu Tướng. Vì thế, khi cái Thân hữu tướng hết Duyên, hết Nghiệp mà chết đi, thì nó sẽ tùy theo tội hay phước đã xui Cái Thân làm, mà bị đọa hoặc được thưởng. Với bên Đạo Thiên Chúa thì chỉ có ba nơi : Một là Thiên Đàng, hai là Địa Ngục, hoặc tội nhẹ thì sẽ vào nơi để Luyện tội, bao giờ sạch tội sẽ lên Thiên Đàng. Không có Luân Hồi. Chỉ tái sinh một lần duy nhất khi có cuộc Phán Xét Chung.

Đạo Phật cho rằng trong vũ trụ có Sáu Con đường (Lục Đạo) là Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sinh, Nhân, Thiên, A Tu La. Lúc còn sống, mỗi người tạo nghiệp tương ưng với đường nào, thì khi cái Thân Tứ Đại chết, Thần Thức sẽ phải nhận một cái Thân khác trong đường đó để tiếp tục kiếp sống mới, gọi là LUÂN HỒI.

Do vậy mà Đạo Phật được mở ra để hướng dẫn cho con người cách thức thế nào để Thoát cảnh SINH TỬ LUÂN HỒI. Người muốn được giải thoát phải theo hướng dẫn của Đạo Phật để TÌM cho ra THỦ PHẠM ĐÃ GÂY RA CẢNH SINH TỬ LUÂN HỒI nơi TÂM của mình, RỒI CHUYỂN HÓA NÓ ĐỂ NÓ KHÔNG TIẾP TỤC XÂY NHÀ SINH TỬ ĐƯỢC NỮA. Thủ phạm đó Đức Thích Ca gọi là cái VỌNG TÂM.

Nhưng cũng do thời Đức Thích Ca khai đạo cách đây đã gần 3.000 năm. Ngôn ngữ chưa phong phú. Sự hiểu biết của con người còn hạn chế, không thể diễn tả phần vô tướng không thể nhìn thấy được, Ngài đã phải dùng nhiều phương tiện, hoặc nói cảnh giới ở Đông Phương, Tây Phương để diễn tả, nên dễ gây hiểu lầm là những cảnh đó, Nước Phật đó là thật có, và ở đâu đó bên ngoài vũ trụ.

May cho chúng ta là qua nhiều đời Tổ, mỗi vị tiếp tục khai sáng. Ngôn ngữ cũng gần với thời chúng ta, nên ai cũng có thể hiểu dễ dàng nếu chịu khó tìm hiểu. Tới giờ này, nói về cái Tâm thì ai cũng hiểu : đó là Ý thức hay suy nghĩ của mỗi người, và cũng phải nhìn nhận là chính nó mới là chỉ huy, điều động cái Thân làm mọi việc, tốt cũng như xấu. Cũng vì vậy mà Đạo Phật chủ trương muốn chiếm thành phải khống chế chủ thành. Muốn điều động cái Thân thì phải khống chế Cái Tâm. Nhưng không phải Diệt Tận Độ nó, mà chỉ cần chuyển hóa nó, thì nó không còn điều khiển cho cái Thân làm quấy nữa. Còn nếu chỉ nhắm vào cái Thân để ngăn cấm thì dù cho 250 Giới hay 500 Giới cũng không có hiệu quả bằng. Do vậy mà TU PHẬT là phải TU TÂM, và cũng do vậy mà Hạnh ĐẦU ĐÀ không còn được dùng trong Đạo Phật, vì đày đọa cái Thân bằng cả 13 Hạnh gian khổ như vậy mà kết quả không đáng, vì chỉ hạn chế được cái tham về Ăn, Mặc, Ở, của cái Thân. Trong khi đó, nếu không khống chế được cái Tâm, thì cái Tham đâu chỉ dừng ở ba việc Ăn, Mặc, Ở ?

1- Vì sao cần TU TÂM ?.

Cái Tâm được Phật ví như là một quốc độ. Trong đó những tư tưởng luôn lao xao, khởi, diệt. Có những tư tưởng thiên hướng tốt lành, mà cũng có những tư tưởng thiên hướng xấu, do vậy mà Chư Tổ gọi đó là nơi PHÀM THÁNH ĐỒNG CƯ.

Một ý tưởng tốt, nếu không tiếp tục nuôi dưỡng thì nó cũng sẽ tàn rụi. Một ý tưởng xấu, nếu không dẹp bỏ thì nó sẽ tiếp tục thôi thúc rồi thực hiện. Tâm không thể tự hướng thiện. Do vậy mà người tu Phật được dạy cho quán sát Cái Tâm để thấy đó chính là nơi xuất sanh những tư tưởng, đồng thời quán sát Các Pháp, phân biệt xấu, tốt, thiện, ác rồi giáo hóa cái Tâm, để nó hiểu hậu quả của việc làm Ác sẽ đem lại, để Cải Ác, hành Thiện, không để cho cái Ác tiếp tục. Vì tiếp tục hành Ác là Tạo Ác Nghiệp, sẽ phải trả. Nếu biết chính mình phải Trả cho những gì đã gây ra thì chắc chắn không ai dám làm.

Trong công cuộc chuyển hóa cái Tâm, cũng gọi là ĐỘ SINH, Đức Thích Ca đã nhân cách hóa tư tưởng và phân nó ra làm 3 loại.

a/- Loại đã thanh tịnh, an ổn, không còn phiền não, thì gọi là đã giải thoát hay thành Phật.

b/- Loại có nhiệm vụ giải thích, khuyên nhủ, can ngăn khi có một tư tưởng loạn động, muốn thực hiện cái Ác, cái bất thiện nổi lên. Loại này Ngài đặt tên là Bồ Tát.

c/- Loại không biết phân biệt thiện, ác, tốt, xấu. Lúc nào cũng muốn thỏa mãn những gì nó ưa thích, bất chấp đúng, sai, hậu quả. Ngài gọi đó là Chúng Sinh.

Khi Bồ Tát khuyên giải được một chúng sinh, cho nó chịu bỏ đi khuynh hướng xấu, thôi không thực hiện ý đồ xấu, được thanh tịnh thì gọi là “Độ” được một chúng sinh”, hay “Đưa được một chúng sinh thành Phật”.

Trong Tâm của phàm phu khi chưa tu hành thì lúc nào cũng khởi đầy những tư tưởng Tham, Sân, Si. Từng sát na nó khởi lên nhiều như số chúng sinh trên thế giới. Có 3 loại là Tham, Sân, và Si nên Phật gọi là “Tam thiên Đại thiên thế giới”. Phật, Bồ Tát của mỗi người sẽ làm công việc cứu độ 3 loại chúng sinh đó trong Tâm của mình, gọi là “cứu độ chúng sinh trong Tam Thiên Đại Thiên Thế giới”. Không phải là thế giới bên ngoài. Quán Thế Âm Bồ Tát cũng thế. Là tư tưởng đã giải thoát, đã được thanh tịnh, nhưng không ở cõi tịnh, mà luôn lắng nghe, theo dõi những cái khởi của chúng sinh để hóa giải những phiền não, dính mắc cho chúng được giải thoát, hết khổ. Phật, Bồ Tát mà kinh đề cập là của mỗi người, ở trong tâm của mỗi một, cứu độ cho những chúng sinh cũng ở nơi Tâm của mỗi người, không phải bên ngoài. Nếu ở bên ngoài là Phật, Bồ Tát của người khác.

Chúng ta đừng quên Đạo Phật là đạo TỰ ĐỘ, cho nên mọi việc cứu độ của người tu đều hướng vô Bản Thể Tâm mà làm. Không có làm với thể giới bên ngoài, vì nếu làm với bên ngoài thì gọi là ĐỘ THA, không còn là TỰ ĐỘ nữa.

2/- Về việc Cúng dường cho Tu Sĩ.

Theo tôi, việc đó chỉ đúng vào thời Đức Thích Ca mới tập trung Đệ tử để giảng dạy. Lúc đó Giáo pháp chưa hoàn chỉnh và chưa được ghi chép lại thành văn bản. Vì thế, chư Đệ tử phải chia nhau học thuộc lòng lời Phật giảng để tương lai truyền lại. Sợ rằng nếu để cho họ có vợ con rồi phải bận làm việc nuôi họ, thì phân tâm, nên Phật bắt tất cả Đệ Tử phải độc thân, phải gác bỏ hết mọi việc đời, để dành toàn bộ thời gian tập trung học và ghi nhớ lời Phật dạy. Về ăn uống thì Phật nhờ các thí chủ cung cấp cho họ. Cứ tới giờ là mọi người theo thứ tự xếp hàng tới nhà các thí chủ để nhận phần cơm của mình. Không phân biết chay, mặn. Nhà nào ăn thức gì thì sớt ra một bát để cung dưỡng cho Tu Sĩ, và họ chỉ ăn một bữa trưa mà thôi. Y của các Tỳ Kheo thời đó cũng hết sức giản dị : Đi lượm vải liệm thi người ta quăng bỏ rồi giặt sạch để mặc, mục đích chỉ để che thân và ngăn nóng, lạnh, côn trùng mà thôi. Họ không có gì để tích lũy. Thậm chí muối cũng không được để qua đêm.

Sau khi Phật nhập diệt khoảng 200 năm thì đã có văn bản đầy đủ. Tu sĩ cần thì lấy đó mà tham khảo, và cho đến thời này thì đã tràn lan. Từ tiếng Phạn được dịch ra đủ thứ tiếng. Chùa nào cũng có in. Thậm chí trên mạng cũng phổ biến rộng rãi. Muốn đọc Kinh gì ? Muốn nghe bài giảng nào ? Của ai ? đều không thiếu. Như vậy thì Tu Sĩ đâu có lý do gì để không thể tự mình làm ăn kiếm sống mà chỉ ngồi không đọc tụng Kinh sách, mọi thứ bắt thí chủ phải lo cho, mình chỉ lo tu hành thôi ?

Tu sĩ ngày xưa thật là thong dong, thanh thản :

Bình bát cơm ngàn nhà.

Thân chơi muôn dặm xa

Mắt xanh xem người thế.

May trắng hỏi đường qua.

Tới thời của Mã Tổ Bách Trượng, thì dù cai quản cả một Thiền Viện, nhưng ngày nào Tổ cũng lao động như các đệ tử thì mới chịu ăn cơm. Các đệ tử thương Tổ, dấu cuốc đi, Tổ không lao động được thì nhịn ăn, đến độ có câu : “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”, một ngày không làm thì một ngày không ăn, khác với Tu sĩ thời này, mới Xuất gia, cạo đầu, đắp Y, đã thấy mình làm thầy mọi người !

Cuộc sống nhàn hạ như thế đã lôi kéo một số lười nhác, muốn nhàn hạ lại được làm thầy mọi người đã tham gia vô lực lượng Tu sĩ. Chính những người này làm ô danh Đạo không ít. Bởi họ đâu có thật tâm tu hành, nên khi có điều kiện là phàm tánh nổi lên. Họ trở thành những người mượn danh tu hành, lợi dụng danh nghĩa Phật để kêu gọi bá tánh cúng dường rồi hưởng của thường trụ, mà ta đã thấy thời gian gần đây báo chí đưa tin : Hòa Thượng mà xài bằng giả. Tích lũy tiền bạc, đất đai. Dùng điện thoại đời mới, đồng hồ, xe hơi đắt tiền. Người tu hành mà mở Phòng thuốc tại Chùa, có toa thuốc trị bệnh mà mỗi toa dùng cả mấy chục con Địa Long mà không hay mình đã phạm Giới Sát ! Công khai xin tiền bá tánh, nói rằng mình chỉ giữ cho Phật ! Phật đã nhập diệt mấy ngàn năm rồi, không biết Sư gặp cách nào để Phật nhờ giữ tiền ? Giữ rồi chừng nào trả lại ? Trả lại cách nào ? Chỉ có Năm Giới trọng đã phạm hết Hai ! Điều đáng nói là chính GHPG cũng không thấy để nhắc nhở !

Thượng Tọa (TNT) thì một mình kiêm nhiều chức lớn trong Giáo Hội Phật Giáo : Phó trưởng Ban Trị Sư kiêm Trưởng Ban Phật Giáo Quốc tế GHPGVN. Phó Viện Trưởng Học Viện PGVN. Phó Viện Trưởng Viện Nghiêm Cứu Phật Học PGVN. Có nhiều bằng Tiến Sĩ danh dự của nước ngoài. Một mình Trụ Trì những Bốn Chùa ở bốn nơi. Là chức sắc cấp cao trong GHPG, mà hình như T.T. còn chưa hiểu Đạo Phật là Đạo Nhân Quả nên học phép ở đâu mà làm phép trên bút cho sĩ tử đi thi được Phật phù hộ ? Công khai ra giá cho ai muốn Phật phù hộ, một ngày là 20.000đ. Ai muốn được Phật phù hộ bao nhiêu ngày thì cứ thế nhân lên ! Không biết Sư là đệ tử của Phật, hay Phật là nhân viên của Sư để Sư nhận tiền rồi Phật phải vất vả đi phù hộ cho người đóng tiền ? Nếu Phật phù hộ cho người đóng tiền thì Phật là tai sai của Thượng Tọa. Ngược lại, nếu Phật không phù hộ là Thượng Tọa lừa dối bá tánh, mà Phật đâu có phải là Thần Linh, thì làm sao phù hộ cho ai ?. Không biết Phật Tử nghĩ sao ?

Cũng do Đạo Phật bị những người không thật tâm tu hành mà lại có thế lực thao túng, họ ngang nhiên phá Giới nhưng không ai dám cử tội. Gần đây có người dám viết thẳng đơn tố cáo một vị Sư, nhưng cuối cùng cũng bị dập tắt mà người tố cáo còn mang tiếng, được yêu cầu Sám hối !

Việc tu hành thì chỉ là tự Tu Sửa nơi Tâm của người tu gọi là TU TÂM, không cần thiết phải có hình tướng. Hơn nữa, “ai tu nấy đắc”, dù có đắc cũng đâu có độ được cho ai ? Do đó, theo tôi, tốt nhất là người Phát Tâm tu hành tự mình làm việc nuôi sống bản thân mà tu tập để chứng tỏ quyết tâm của mình. Không lẽ không ai cung dưỡng thì ta không tu được ? Như thế vừa không mắc nợ Nhân Quả vừa tránh được cảnh những kẻ lười lao động, muốn có ăn mà nhàn thân cũng gia nhập vô đoàn tu để ăn bám, rồi “sống lâu lên lão làng”. Biến cửa Chùa thành nhà riêng. Biến Phật thành Thần Linh để cho họ”buôn thần, bán thánh”, Truyền bá mê tín, dị đoan, cầu xin, trao đổi là những điều không có trong Đạo Phật chân chính !

3/- Việc tập trung một lực lượng thanh niên khá đông, tuổi còn đang khỏe mạnh, không những đủ sức để tự làm ăn sinh sống mà còn có thể góp sức để xây dựng đất nước, lại bỏ hết mọi việc để vô Chùa tu ! Sống ở trần gian mà chỉ mơ màng đến Tây Phương Cực Lạc ! Không củng cố cảnh trần, để trả Ân đất nước như lời Phật dặn dò mà chỉ lo tôn vinh Phật, còn cho là nhờ họ tu hành mà “quốc thái dân an, đất nước hòa bình” ! Việc xây những ngôi Chùa lộng lẫy, ngày càng đồ sộ, chỉ để trưng bày một số Tượng Phật, mà đèn đóm sáng choang ngày đêm. Chi phí điện thắp sáng cho mỗi Chùa hàng tháng cả trăm triệu thật phí phạm, mà cả nước có gần 20.000 ngôi Chùa. Tượng Phật thì ngày càng đúc thêm to, tốn kém không biết bao nhiêu tiền bạc của Phật Tử ? Số tiền đó có thể cấp vốn cho biết bao nhiêu gia đình nghèo có cơ hội vươn lên, thoát nghèo, hay cấp học bỗng cho những học sinh, sinh viên nghèo hiếu học, tương lai xây dựng đất nước. Sao cứ tập trung để tôn vinh Phật quá khứ ? Người nghèo không phải là những vị “Phật sẽ thành” sao ? Chùa to, Tượng lớn có phải là mong mỏi của Đức Thích Ca khi mang Đạo Phật rao giảng giữa cuộc đời ? Phật có cần những điều đó hay không ? .

Tổ Đạt Ma nói về việc xây dựng Chùa, đúc Tượng như sau :

“Nói Già Lam” ấy là người Tây Thiên Trúc nói. Ở đây dịch là “Thanh Tịnh Địa:”, tức đất trong sạch, Chùa Chiền vậy.

Nếu vĩnh viễn trừ Ba Độc, tịnh Sáu Căn, Thân Tâm vắng không, trong ngoài ngưng lặng, đó gọi là Xây Dựng Già Lam.

Nói “Đúc hình tạc tượng”, tức đó là tất cả chúng sanh cầu Phật Đạo cần tu các Giác Hạnh phỏng theo chân dung diệu tướng của Như Lai, há đâu chỉ là việc đúc vàng đúc đồng tầm thường vậy thôi sao ! Bởi vậy người cầu đạo Giải Thoát phải lấy Thân mình làm lò, lấy Pháp làm lửa, Lấy Trí Huệ làm tay thợ khéo, lấy Ba Giới tu tịnh, Sáu Ba La Mật làm khuôn phép, nấu chảy và rèn đúc chất Chân Như Phật Tánh ở trong thân cho thâm nhập khắp tất cả hình thức, Giới Luật, y lời dạy đó mà vâng làm, mỗi mỗi không hở sót, thì tự nhiên thành tựu hình tướng của chân dung. Hình tướng đó đích thực là Pháp Thân Thường Trụ vi diệu cùng tột, há đây phải là pháp hữu vi hư đốn sao ?

Phật đã bỏ ngai vàng, điện ngọc để đi tu thì ham gì Chùa cất bằng gạch, xi măng, cát của trần gian ? Thời tại thế Phật còn ngụ ở cội cây hay trong rừng, đâu có cần Chùa chiền ? Tượng Phật to thì làm gì được cho bá tánh, vì Phật chỉ là nghĩa của Giải Thoát, đâu có phải là Thần Linh, có quyền, phép ? Thực tế đã chứng minh : Nếu Phật phù hộ được cho mọi người, thì Népal là quê hương của Phật đã không bị những trận động đất kinh hoàng năm 2015 với con số người chết hơn 7.347 người và bị thương là 14.000 người ! Népal đến thời này vẫn thuộc nhóm nước nghèo ở Châu Á và 80% dân số theo Đạo Hindu (Ấn Độ Giáo). Con số theo Đạo Phật rất ít, chưa đến 10% dân số ! Rõ ràng những nhà truyền giáo của Đạo Phật đã không thành công ngay chính tại quê hương của Phật.

Cuối cùng là người tu hành theo Đạo Phật sẽ đạt được những gì ?

Người tu theo hướng dẫn của Đạo Phật không phải để có phép mầu, thần thông, được Phật, Bồ Tát phù hộ khi còn sống, sau khi qua đời thì rước về Tây Phương Cực Lac, hay đắc Quả vị cao, thấp, mà được hướng dẫn để hiểu rõ về THÂN, TÂM, PHÁP để không còn bị Lục Căn sai khiến rồi tạo Nghiệp mà phải Khổ trong hiện kiếp, khi hết kiếp phải theo Nghiệp mà Luân hồi, gọi là được Giải Thoát hay Thành Phật.

Muốn đạt mục đích Giải Thoát họ phải Phát Tâm, sau đó được hướng dẫn để hành các Pháp GIỚI, ĐỊNH, HUỆ - VĂN, TƯ, TU. Phải học hiểu rõ Giáo Pháp, sau đó mang ra thực hành cho tới đạt kết quả là không còn bị Các Pháp khảo đả nữa, được hạnh phúc, an vui trong kiếp sống gọi là đạt Hữu Dư Y Niết Bàn.

Người tu phải tự mình học, hiểu, hành, gọi là TỰ ĐỘ. Việc Xuất Gia, Cạo Tóc, Đáp Y, kể cả Cất Chùa, Tạc Tượng là nói về những việc cần làm nơi nội Tâm của hành giả. Những người chỉ rập khuôn theo hình ảnh được mô tả trong Kinh chứng tỏ họ chỉ Y NGỮ, chưa rõ ý Nghĩa, vì thế, có tu cả đời cũng không thể nào đạt kết quả được.

Không chỉ tu cho bản thân. Đạo Phật dạy người tu phải ĐỀN TỨ TRỌNG ÂN,trong đó có Ân Cha mẹ,Ân Đất Nước,Ân Phật,Ân Thầy.Như vậy pháp môn nào xui người tu ly gia, bỏ mặc cha mẹ già yếu không chăm sóc. Không làm ăn gì để lo cho bản thân và trả nợ cuộc đời. Ngày tháng sống bên lề cuộc đời, chỉ tụng Kinh, Niệm Phật là không thực hiện đúng theo lời Phật dặn dò sao có thể xưng là đang ‘Hoằng dương Chánh Pháp” ?

Do thấy kiếp sống của con người không dài, không quá một trăm năm mà bị quá nhiều pháp khảo đả, nên Đạo Phật ra đời, hướng dẫn cho con người phân tích các Pháp : Khổ, vui, bền chắc hay tạm bợ, đúng, sai, Nhân Quả, để con người Cải Ác, hành Thiện, đưa đến kết quả là có được cuộc sống an lạc giữa đời, không còn bị cảnh đời vùi dập nữa, được ví như Hoa Sen, sinh ra, lớn lên trong bùn mà không bị bùn làm ô nhiễm. Đó là lý do Đạo Phật dùng Hoa Sen làm biểu tượng. cũng như hình tượng Phật thường được tạc ngồi trên Đài Sen là để diễn tả ý nghĩa Giải Thoát đó.

Người không hiểu hết những điều Đạo Phật muốn nói thường bắt chước Kinh sách chê đời là “ô trược”, là “phiền não”, nên cần phải “thoát tục, ly trần”. Thực ra, cái “trần”, cái “tục” mà con người cần ly không phải là cuộc đời, mà chính là những tính xấu Tham, Sân Si, ích kỷ, đố kỵ, nhỏ nhen, ganh tỵ trong mỗi chúng ta. Cuộc đời đâu có ác, đâu có xấu, mà chính con người đã làm vẩn đục cuộc đời bởi những cái ác cái xấu của mình !

Phải chăng cuộc đời vẫn tốt đẹp, mưa nắng điều hòa, vẫn cung cấp mọi thứ cho con người từ hạt gạo, ngọn rau cho đến phong cảnh thiên nhiên tuyệt vời. Nào là biển rộng bao la, núi non hung vĩ, thác ghềnh uốn lượn, rừng xanh bát ngát. Sông cung cấp nước tưới cho cây cối xanh tốt. Mỗi ngày bình minh lên, mang ánh nắng sưởi ấm vạn vật, đêm xuống để tất cả dưỡng sức sau một ngày mệt mỏi. Hoa trái bốn mùa vừa cung cấp thức ăn, vừa là cảnh đẹp để con người thư giãn thì cuộc đời có tội tình chi? Chính con người quá Tham Lam, ích kỷ, xấu xa, tranh giành với nhau rồi bắn, giết, hại nhau, áp bức nhau. Đã vậy còn tàn phá thiên nhiên, nên mỗi mùa mưa tới là lũ lụt kéo về làm người dân khốn đốn vì nhà cửa mùa màng, gia súc bị cuốn sạch ! Do đó, cái cần bỏ là bỏ những tính xấu nơi mỗi người, đâu có phải bỏ đời ? Chính vì vậy, Đạo Phật kêu gọi con người dùng GIỚI để dừng lại.THIỀN QUÁN để phân tích cho rõ ràng nguồn gốc : Ta từ đâu đến đây ? để làm gì ? sẽ ở được bao lâu ? Sau khi Chết sẽ về đâu ? Sống Thiện sẽ được gì ? Ở Ác sẽ về đâu ? Chết là hết hay còn Luân Hồi, Nhân Quả ? để thay đổi cách sống.

Con người được thiên nhiên ưu đãi cho sống giữa trái đất đầy màu sắc. Vạn vật muôn màu, muôn vẻ. Vật chất hấp dẫn, đáng yêu. Nhưng mỗi người phải tự suy nghĩ: nếu dính mắc nó, tranh giành nó dù có có tranh giành thành công thì chết cũng không mang theo được mà chỉ mang theo Nhân Quả, để tự ý thức mà thôi tranh giành. Xử dụng các pháp vừa đủ, nhường nhau, san sẻ với nhau để tất cả đều được ấm no, hạnh phúc trong kiếp sống. Phụ nữ trang điểm, ăn mặc lịch sự là để tô điểm thêm cho cảnh sống, tại sao cấm ? Cái cần Trừ, cần Cấm là những cái Tâm Phàm. Cứ thấy Cảnh là động Tâm. “Mắt thấy, Tâm Sinh”. Do đó, Đạo Phật mới dạy TU TÂM. Sửa cái Tâm, không Sửa các Pháp để vừa ý hay đừng quyến rũ mình !

Chỉ cần con người hiểu rõ về cái VỌNG TÂM để điều chỉnh nó thì cảnh vật đâu có làm xao động được. ”Thấy cũng như không thấy”, gọi là NHƯ THỊ, vì các pháp đều bình đẳng, đều NHƯ. Do đó mà Phật xưng là NHƯ LAI, vì có đến, đi, cũng không bị động tâm vì các pháp. Người Tu sửa cái TÂM thi không cần lên non cao động vắng, xa lánh thế nhân, mà ở bất cứ đâu cũng tu được.

Nếu trong một gia đình mà mọi người đều tu sửa. Nhân rộng ra thì xóm làng, đất nước, từ vua quan tới toàn dân, ai cũng ý thức để Cải Ác hành Thiện thì trái đất trở thành Niết Bàn, cần tìm ở đâu cho xa vời ? Đó mới chính là mong mỏi của Đức Thích Ca, vì thế Ngài đã dặn dò các Bồ Tát phải mồi ngọn Vô Tận Đăng để ánh sáng Chân Lý không bao giờ dứt.

Mỗi người quay vô Tâm để mà xây Chùa, mà Tạc Tượng ở đó thì vừa không tốn tiền của bá tánh, vừa để tiền làm những việc khác có ích cho đời hơn. Những người chê đời là tục lụy, là bể khổ, rồi bỏ hết, đi tu, lại bắt người đang ngụp lặn trong bể khổ vừa phải lo cho gia đình vừa phải lo cho mình để mình nhàn thân mà tu hành, thoát tục, là một nghịch lý, “vì ai tu nấy đắc”. Người nào tu thì bản thân người đó nhờ. Tu hành là cả một quá trình khổ luyện. Do đó, muốn tu hành thì tại sao không làm việc bình thường, tự kiếm tiền nuôi thân để tu ? Làm ăn,tiếp xúc, giao dịch với mọi người cũng là cơ hội để điều chỉnh, rèn giũa cái Tâm, coi mình đã bớt Tham ? Bớt gian dối, bớt vì lợi mình bất chấp hại người chưa ?

Lục Tổ Huệ Năng có Kệ :

“ Phật pháp tại thế gian

Bất ly thế gian giác

Ly thế mịch Bồ Đề,

Cáp như cầm thố giác”.

Có nghĩa là : “Phật pháp ở tại thế gian, không rời trần gian mà giác ngộ. Rời thế gian mà mong tìm Giải Thoát thì như tìm sừng thỏ”. Vô Chùa, núp sau cửa Chùa để các Pháp không động tới mình được thì đó là né pháp, tránh pháp, lại cứ tưởng là mình đã Thoát Pháp ! TU PHẬT là TU TÂM”. Đầu tròn, áo vuông chỉ là hình tướng để người ngoài đánh giá. Ta tu cho ta thì cần gì mọi người phải biết ?

Phải chăng đã đến lúc người muốn tu Phật nên xét cho kỹ để thực hiện cho đúng lời Phật dạy để vừa không mang nợ Nhân Quả mà vừa thực hành đúng theo Chánh Pháp của Đạo Phật, không để ngoại đạo nhìn vào trách Phật ưu ái cho đệ tử. Bởi Lẽ ra người tu thì phải :

Ăn ít, biết đủ

Như chim bay không

Dấu không thể tìm”, thì Tu sĩ ngày nay, nói là tu hành, bỏ đời, mà Chùa chiền trang hoàng toàn những vật quý của đời ! Bản thân tu sĩ không đơn sơ, thanh tịnh, một y, một nạp, mà dùng những phương tiện đắt tiền ! Ra đường thì dập dìu xe cộ. Nhân danh Cúng dường Tam bảo để thu gom của bá tánh, nên không làm ăn mà lại có đất đai, tiền bạc, tích lũy ! Trong khi bá tánh đã lầm than, ngụp lặn trong bể khổ còn phải cung phụng cho Tu sĩ, đã vậy còn bị mọi người thương hại, cho là vì mê trần nên phải khổ là đáng đời ! Thoạt nhìn qua thì thấy cuộc sống Tu sĩ hiện nay giống như người đời chế nhạo : “Ai bảo đi tu là khổ. Đi tu sướng lắm chứ”, vì nhờ mang danh tu hành mà họ được hưởng dụng những thứ mà người đời có khi vất vả một đời cũng không có nổi. Nhưng có điều họ không nên quên, là Nhân Quả không mất, nếu chịu khó đọc Kinh VỊ TẰNG HỮU THUYẾT NHÂN DUYÊN ắt không dám tiếp tục lợi dụng của Thường Trụ, vì cái Quả trả lại không hề nhẹ vậy !.     -./.

Tháng 12/2025




VVM.27.01.2026.