Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
        


QUỐC GIA GREENLAND

  
      Kỳ I.

G reenland—tiếng Đan Mạch: Grønland , "vùng đất xanh"; tiếng Greenlandic: Kalaallit Nunaat, phát âm [kala-achlit nouna-at], "vùng đất của con người"—là một hòn đảo rộng lớn với diện tích hơn hai triệu km vuông (gần gấp bốn lần diện tích nước Pháp) nằm ở phía đông bắc Canada, cách Canada 26 km bởi eo biển Davis. Greenland giáp với Bắc Băng Dương ở phía bắc, biển Greenland ở phía đông, và Đại Tây Dương ở phía đông nam và phía nam ( xem Bản đồ 1 ). Các nước láng giềng gần nhất là Canada (phía đông nam), Iceland (phía đông) và Na Uy (phía đông bắc). Mặc dù về mặt địa lý nằm ở Bắc Mỹ, Greenland là một phần của phạm vi kinh tế và pháp lý châu Âu do là thành viên của Đan Mạch. Đây là một trong những quốc gia Bắc Âu thuộc Scandinavia ( xem Bản đồ ).

Hòn đảo này được cấu tạo từ một mảnh vỡ rất cổ xưa (thời kỳ Archean hoặc Tiền Cambri, 2,5 tỷ năm tuổi) của nền đá Canada. Ngày nay, 85% lãnh thổ Greenland được bao phủ bởi một lớp băng khổng lồ, được gọi là chỏm băng , tạo thành vùng băng rộng lớn nhất sau Nam Cực; chỏm băng này đạt độ sâu hơn 3.000 mét (hoặc ba ki-lômét) ở điểm sâu nhất. Không có cư dân nào trên đảo sinh sống trên chính chỏm băng; các thị trấn và làng mạc của đất nước đều nằm trên các bờ biển đá được bao phủ bởi thảm thực vật thưa thớt - lãnh nguyên - mọc lên ngay khi tuyết tan. Chỉ có các cuộc thám hiểm khoa học và thể thao thỉnh thoảng mới vượt qua chỏm băng. Nếu lượng khí thải gây ô nhiễm môi trường hiện nay không được giảm một cách đáng kể, lớp băng Greenland có thể tan chảy gần như hoàn toàn trong vài thế kỷ tới, gây ra mực nước biển dâng cao khoảng 7 mét và xóa sổ các thành phố ven biển trên toàn thế giới.

Tóm lại, phần lãnh thổ có thể sinh sống được của Greenland—chiếm 15%—tương ứng với một dải bờ biển hẹp dọc theo bờ biển phía tây và phía đông, có diện tích ước tính khoảng 88.000 km², chỉ gấp ba lần diện tích của Bỉ (30.527 km²). Thường khá hẹp (từ 30 đến 100 km), dải bờ biển này có thể dài tới 200 km ở phía tây nam của hòn đảo và có thể đi lại bằng đường thủy quanh năm nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi hơn. Việc đi lại giữa các thị trấn có thể bằng thuyền, máy bay hoặc trực thăng, vì có rất ít đường bộ nối liền chúng.

Thủ đô của Greenland, nằm ở phía tây nam, là Nuuk (trong tiếng Greenland, phát âm là [nnouk]); người Đan Mạch đặt tên cho thành phố là Godthåb (phát âm là goud-tabé), có nghĩa là "niềm hy vọng tốt lành". Trong tổng dân số 58.000 người, khoảng 45.000 người (khoảng 78%) sống ở các thành phố, thành phố lớn nhất là Nuuk, với gần 20.000 cư dân, chủ yếu là người Greenland (80%) và người Đan Mạch (14,5%). Các thị trấn khác—Qaqortoq (Julianehåb), Maniitsoq (Sukkertoppen), Sisimiut (Holsteinsborg), Paamiut (Frederikshåb), Aasiaat (Egedesminde), Ilulissat, Thule (Qaanaaq/Avanersuup), và Tasiilaq (Ammassalik)—thực tế là khu định cư duy nhất ở bờ biển phía đông cùng với ngôi làng nhỏ của Ittoqqortoormiit (Scoresbysund)—có tổng dân số trên 31.000 người. Ngoài ra còn có hơn 130 thôn, trạm và trung tâm chăn nuôi cừu có người ở, nơi cư trú của phần dân số còn lại.

Về mặt pháp lý, Greenland hiện là lãnh thổ của Vương quốc Đan Mạch (từng là thuộc địa từ năm 1721) với quyền tự trị chính trị từ năm 1979. Điều này có nghĩa là Greenland có nghị viện riêng ( Inatsisartut trong tiếng Greenland;  Lansting trong tiếng Đan Mạch), chính phủ riêng ( Naalakkersuisut ) và bộ máy hành chính riêng. Năm 2009, Đan Mạch đã chuyển giao 32 lĩnh vực quyền tài phán cho thuộc địa cũ của mình, bao gồm cả cảnh sát và tư pháp. Tuy nhiên, chính sách tiền tệ, quốc phòng và chính sách đối ngoại vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Đan Mạch. Do đó, các nghị sĩ Greenland có thể ban hành các luật cụ thể. Người đứng đầu nhà nước hiện tại là Vua Frederick X của Đan Mạch.

Theo số liệu thống kê của Greenland, chưa bao giờ có nhiều người nước ngoài sinh sống tại quốc gia này như hiện nay. Phần lớn người di cư là công dân của Vương quốc Đan Mạch di chuyển giữa Đan Mạch và Greenland. Greenland luôn cần lao động, và lượng người nước ngoài di cư ra nước ngoài cần được bù đắp liên tục bằng lượng người nhập cư. Người Philippines và Thái Lan là những người định cư thường xuyên nhất ở Greenland, nhưng cũng có người Iceland, Na Uy, Thụy Điển và Mỹ. Dữ liệu được cung cấp như sau:

Theo số liệu thống kê của Greenland, chưa bao giờ có nhiều người nước ngoài sinh sống tại quốc gia này như hiện nay. Dữ liệu được cung cấp như sau: 486 người Philippines, 249 người Thái Lan, 128 người Iceland, 80 người Trung Quốc, và 80 người Ba Lan.

Năm 2017, có 1.017 người nước ngoài sinh sống tại Greenland, trong đó 64% sống tại thủ đô Nuuk. Hiện tượng nhập cư dường như không chỉ xảy ra ở các đô thị lớn mà là trên phạm vi toàn quốc. Đến năm 2024, số lượng người nhập cư đã tăng gấp đôi. Hơn 1.800 người trong số này không phải là công dân của Vương quốc Đan Mạch.

Ngôn ngữ chính của Greenland là Kalaallisut (hay tiếng Tây Greenland) nghĩa đen là "ngôn ngữ của người dân", một ngôn ngữ Inuit được gần 90% dân số sử dụng và là ngôn ngữ chính thức duy nhất từ ​​năm 2009. Đây là một ngôn ngữ đa cấu tạo thuộc ngữ hệ Eskimo-Aleut, sử dụng hậu tố để tạo ra các từ phức tạp. Tiếng Đan Mạch vẫn được sử dụng trong hành chính.

- Khám phá Ra Greenland

Theo sử thi Iceland , một người tên Gunnbjörn Ulfsson đã phát hiện ra những tảng đá hiện mang tên ông vào khoảng năm 930 , khi con tàu của ông bị lạc hướng ra khỏi lộ trình trong chuyến đi từ Na Uy đến Iceland. Những tảng đá này, mà ông đặt tên là Gunnbjarnarsker (những tảng đá của Gunnbjörn), có lẽ nằm gần Angmagsalik . Ông không đổ bộ lên đó, nhưng đã mang tin tức trở về Iceland. Vào năm 978, Snaebjörn Galti đổ bộ lên bờ biển phía tây.

Thuộc địa do Erik the Red thành lập có khoảng 5.000 người (chỉ 3.000 người theo Régis Boyer ), sinh sống tại 250 trại tập trung quanh mười bốn nhà thờ chính, ba phần tư trong số đó nằm ở " các khu định cư phía Đông " ( Eystribyggd ) ở cực nam-tây nam của hòn đảo ( Qaqortoq ), và một phần tư nằm ở " các khu định cư phía Tây " ( Vestribyggd ), cách đó năm trăm ki-lô-mét về phía bắc ( Nuuk ).

Tất cả các thuộc địa được thành lập ở Greenland đều được mô phỏng gần như hoàn toàn theo mẫu mực của mẫu quốc Iceland. Do đó, cho đến khi maẽu quốc Iceland sụp đổ, thuộc địa này vẫn giữ nguyên bản sắc châu Âu, tiếp thu tất cả các phát triển về văn hóa, trang phục và các lĩnh vực khác của mẫu quốc . Bởi vì các khu định cư vẫn bị bỏ hoang từ thế kỷ 16 cho đến gần đây, nên tàn tích của chúng vẫn được tự bảo tồn về các khu định cư nông thôn châu Âu thời Trung cổ .

Giống như người Viking ở Na Uy và các thuộc địa khác dọc Đại Tây Dương, những người định cư chủ yếu là nông dân chăn nuôi gia súc. Trong những năm đầu, súc vật được nuôi cũng giống như ở Na Uy hay tại Iceland ( bò , heo ), nhưng cũng như ở Iceland, các loài ít có giá trị hơn nhưng khỏe mạnh hơn như cừu , dê dần dần thay thế bò, heo. Thật vậy, khí hậu Greenland đòi hỏi phải nhốt bò và lợn trong chuồng hầu hết thời gian trong năm và do đó cần phải trồng thức ăn gia súc , vốn khó phát triển kém ở vĩ độ này. Chỉ những nông dân giàu có nhất mới tiếp tục nuôi bò, chủ yếu để lấy sữa. Các trại lớn nhất, chẳng hạn như trại của Erik ở Brattahlid hoặc của giám mục ở Gardhar , có hơn một trăm con bò. Tuy nhiên, không còn dấu vết của gia cầm trong các khu định cư khác.

Theo Jared Diamond dựa trên các ghi chép khảo cổ học, những người định cư cũng săn bắn ( tuần lộc và hải cẩu , ...) vì đôi khi chiếm ba phần tư khẩu phần ăn ở những trang trại nghèo nhất. Nhưng, kỳ lạ thay, họ hoàn toàn không đánh bắt cá , ngay cả trong giai đoạn sau khi khẩu phần ăn trở nên khan hiếm. Việc thiếu cá trong chế độ ăn của những người định cư, bất chấp sự phong phú của cá trong nước ngọt và nước mặn trong lúc người Na Uy ở đất liền Na Uy có chế độ ăn gồm khoảng một nửa là cá, là một việc khó hiểu trong những bí ẩn khảo cổ học chính của thuộc địa này. Tuy nhiên, lý thuyết về chế độ ăn của người Viking Greenland không được chấp nhận rộng rãi. Ví dụ, Else Rosedahl khẳng định rằng "những người định cư cũng khai thác nguồn tài nguyên phong phú của cá và cá voi . " . Các nghiên cứu gần đây chứng minh rằng những người định cư, để đảm bảo sinh kế của họ trước sự thay đổi khí hậu và môi trường, đã dần chuyển từ tài nguyên nông nghiệp trên cạn sang tài nguyên biển (săn bắn, đánh bắt cá) .

Cư dân thực hiện một hình thức chăn thả du mục tại các khu trú ẩn nằm trên vùng cao nguyên (lên đến 400 mét) trong suốt mùa hè. Họ phải thật nhanh chóng thu hoạch một ít lương thực ở đó và chăn thả gia súc trong lúc đồng cỏ chính của trại hồi phục sau đợt chăn thả mùa xuân.

Các khu định cư, đặc biệt là những khu ở phía tây, nằm ở ngoài rìa đảo có thể canh tác nông nghiệp , mỗi năm lạnh hơn năm ngoái một chút hoặc một mùa đông kéo dài hơn một chút có thể gây nguy hiểm cho nguồn thức ăn chăn nuôi do đó, ảnh hưởng đến sự sống còn của cư dân. Thật vậy, việc nhập khẩu lương thực, ngay cả từ Iceland, là điều không thể tưởng tượng được vào thời Trung cổ: dựa trên các chuyến đi được ghi chép lại, khối lượng nhập khẩu trung bình chỉ khoảng ba kilôgam cho mỗi đầu người mỗi năm.

Các mặt hàng xuất khẩu chính của Greenland là ngà hải mã (được dùng thay thế ngà voi trước khi các cuộc Thập tự chinh khôi phục lại nguồn tài nguyên này) và lông gấu Bắc cực , cũng như, giống như Iceland, vải len vaðmal . Các mặt hàng nhập khẩu chính cũng là những mặt hàng xa xỉ, cùng với gỗ (cực kỳ hiếm có ở Greenland), sắt (việc sản xuất sắt đòi hỏi lượng gỗ khổng lồ) và nhựa đường (thu được bằng cách nung nóng gỗ có nhựa).

Những người định cư chỉ có một vài chiếc thuyền chèo nhỏ dùng để săn hải mã, chứ không có tàu thuyền nào có thể đi biển xa .

Tuy thế bất chấp sự nghèo khó, nhiều công trình kiến ​​trúc tráng lệ đã được xây dựng. Nhà thờ ở Hvalsey là một trong số ít những công trình bằng đá còn sót lại ở các thuộc địa Na Uy ven Đại Tây Dương, nhà thờ chính tòa ở Gardhar lớn bằng hai nhà thờ chính tòa ở Iceland phục vụ dân số gấp mười lần, và phần lớn hàng nhập khẩu, làm giảm lượng gỗ và sắt vận chuyển, được dùng để trang trí cho các công trình tôn giáo đó.

- Thực dân và Diệt chủng

Những cuộc xâm chiếm thuộc địa của Tây Ban Nha ở châu Mỹ đã hủy diệt các nền văn minh và sát hại các dân tộc bản địa tại đây với hơn tám triệu người bị tử vong .

Hoa Kỳ trong quá trình thuộc địa hóa và bành trướng về phía Tây cũng không thua kém Tây Ban Nha khi tiêu diệt các giống dân bản địa Da Đỏ (Cherokee, Cheyenne, Arapaho,Yuki , Lakota, Apache, ...)

Phần Bồ Đào Nhacũng không kém khi bành trướng thuộc địa ở châu Phi và Brazil dưới sự lãnh đảo của Pedro Álvares Cabral cũng tiêu diệt hơn 80 bộ lạc bản địa.

Tiếp đến là Đế quốc Nga khi chinh phục Siberia với kết qủa xóa sổ người Tungus, Yakut , Yukaghir, Aleut .

So sánh ngay cả với đế quốc Anh khiêm tốn qua con số nạn nhân bản địa khoảng 35000 người thì vương quốc Đan Mạch cũng chỉ là một cậu học trò quá kém tài năng trong việc đô hộ tại Greenland và việc thảm sát người bản địa không hề được ai nói tới.

- Mốc thời gian quan trọng trong lịch sử Greenland:

Như đã dề cập ở phần trên , năm 982 vì tội giết người Erik the Red , một địa chủ giàu có bị trục xuất khỏi Na Uy và Iceland , đã lên đường tìm ra vùng đất này; ông khám phá bờ biển phía đông và sau đó là bờ biển phía tây. Theo sử thi, ông đã đặt tên cho vùng đất này là Greenland "vì mọi người sẽ rất náo nức đến đây nếu đất này có một cái tên đẹp . " Trên thực tế, mặc dù cái tên có vẻ đáng ngạc nhiên nhưng nó vẫn được biện minh: " Vào mùa hè, Greenland có thể có những dải màu xanh lá cây thực sự khác thường dọc theo bờ biển của nó . Hơn nữa, theo các nhà sử học và nhà cổ khí hậu học , Greenland vào thời điểm đó xanh tươi và hiếu khách hơn nhiều so với ngày nay, đặc biệt là ở bờ biển phía nam và phía đông (do Thời kỳ ấm áp Trung cổ ) . Mặc dù người Scandinavia thiếu đất canh tác, việc họ định cư ở Greenland không phải do tiềm năng nông nghiệp của nó, vốn kém phát triển hơn so với nước láng giềng Iceland, mà là do sự giàu có về ngà hải mã. “Theo các ghi chép từ năm 1327, một lô hàng 520 chiếc ngà được bán ở Na Uy có giá trị tương đương với 780 con bò hoặc 66 tấn cá.” Và điều này chưa bao gồm việc sử dụng lông và mỡ của chúng. Lý thuyết này, được phát triển bởi nhà nghiên cứu người Đan Mạch Karin Frei thuộc Bảo tàng Quốc gia Đan Mạch, cũng nhấn mạnh rằng thị trường ngà voi châu Âu bị thiếu nguồn cung do cuộc chinh phục Bắc Phi của người Hồi giáo, dẫn đến tình trạng tranh giành ngà voi Greenland .

Thế kỷ 14-15 - Các khu định cư của người Norse biến mất, có lẽ vào đầu Kỷ Băng hà nhỏ khi nhiệt độ giảm đáng kể.

1721 - Một cuộc thám hiểm do nhà truyền giáo người Đan Mạch-Na Uy Hans Egede dẫn đầu đã mở ra một thuộc địa mới của Đan Mạch. Một khu định cư mới được thành lập gần thủ đô Nuuk ngày nay.

1940 - Đan Mạch bị Đức chiếm đóng trong Thế chiến thứ hai.

1941-1945 - Hoa Kỳ chiếm đóng Greenland trước nguy cơ bị Đức xâm lược.

1950 - Đan Mạch đồng ý cho phép Mỹ lấy lại quyền sử dụng Căn cứ Không quân Thule, nơi được mở rộng đáng kể từ năm 1951 đến năm 1953 như một phần của chiến lược phòng thủ thời Chiến tranh Lạnh của NATO.

1953 - Greenland trở thành một phần không thể tách rời của Vương quốc Đan Mạch.

1968 - Một máy bay ném bom B-52 của Không quân Hoa Kỳ chở vũ khí hạt nhân bị rơi gần Thule. Nhiều thập kỷ sau, một báo cáo của BBC cho biết, bất chấp những tuyên bố trước đó của Mỹ, lực lượng tìm kiếm chỉ xác định được vị trí của ba trong số bốn quả bom hydro..

1979 - Greenland giành được quyền tự trị sau một cuộc trưng cầu dân ý.

1985 - Greenland rời Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC) do bất đồng với các quy định về đánh bắt cá thương mại của EEC và lệnh cấm của EEC đối với các sản phẩm từ da hải cẩu.

1999 - Tòa án tối cao Đan Mạch phán quyết rằng người Inuit đã bị trục xuất trái phép khỏi vùng đất của họ ở phía bắc Greenland vào năm 1953 để mở rộng căn cứ không quân Hoa Kỳ tại Thule, nhưng bác bỏ quyền trở về của họ.

2008 - Người dân Greenland bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý để giành quyền tự trị lớn hơn, kiểm soát nhiều hơn đối với các nguồn năng lượng và công nhận tiếng Kalaallisut (tiếng Tây Greenland) là ngôn ngữ chính thức thay cho tiếng Đan Mạch.

2010 - Một nghiên cứu trên tạp chí Science xác nhận rằng lớp băng ở Greenland đang tan chảy nhanh hơn và góp phần lớn hơn vào mực nước biển dâng cao.

2013 - Greenland chấm dứt lệnh cấm khai thác các vật liệu phóng xạ như uranium kéo dài 25 năm, dẫn đến sự bùng nổ xuất khẩu tài nguyên khoáng sản.

2021 - Greenland cấm mọi hoạt động thăm dò dầu khí mới trên lãnh thổ của mình. Các quan chức chính phủ cho rằng "cái giá phải trả cho việc khai thác dầu khí là quá cao".

Lần đầu tiên trong lịch sử được ghi nhận, mưa đã rơi trên đỉnh chỏm băng Greenland, điều mà các nhà khoa học cho rằng là do biến đổi khí hậu.

2024 - Tổng thống đắc cử Hoa Kỳ Donald Trump nhắc lại mong muốn mua Greenland. Đan Mạch tuyên bố tăng mạnh chi tiêu quốc phòng cho Greenland. Vua Frederik thay đổi quốc huy hoàng gia để làm nổi bật hơn hình ảnh Greenland và quần đảo Faroe.

- Greenland và Đan Mạch:

Greenland được những người di cư Na Uy định cư vào khoảng năm 1000 sau Công nguyên và lúc đó không có người sinh sống; các bộ tộc Dorset trước đó đã biến mất, và người Inuit Thule chỉ đến vào khoảng năm 1250 sau Công nguyên.

Những người định cư Bắc Âu là một phần của thế giới Đan Mạch-Scandinavia, cùng chia sẻ ngôn ngữ, văn hóa, cấu trúc nhà thờ và các mối quan hệ chính trị bắt nguồn từ vương quốc Đan Mạch thời kỳ đầu (được thành lập vào thế kỷ thứ 6).

Trong thời kỳ Viking, sự bành trướng của người Scandinavia do Đan Mạch dẫn đầu đã vươn tới Greenland và trong một thời gian ngắn đã trở thành một phần của Đế chế Biển Bắc dưới thời Cnut Đại đế (khoảng năm 1016).

Greenland được cai trị thông qua Iceland và sau đó là Na Uy, nhưng việc quản lý giáo hội và quyền lực triều đại vẫn gắn bó chặt chẽ với Đan Mạch.

Từ năm 1397 (Liên minh Kalmar), Greenland chính thức là một phần của vương quốc Đan Mạch.

Mặc dù các khu định cư của người Norse đã bị bỏ hoang vào khoảng năm 1450, các vị vua Đan Mạch vẫn tiếp tục khẳng định chủ quyền và cử các đoàn thám hiểm; Greenland vẫn được công nhận là lãnh thổ của Đan Mạch.

Năm 1814, Đan Mạch mất Na Uy nhưng vẫn giữ lại Greenland và Iceland; Iceland giành được độc lập vào năm 1944, còn Greenland thì không.

Greenland giành được quyền tự trị vào năm 1979 và mở rộng quyền tự quản vào năm 2009, kiểm soát hầu hết các vấn đề nội bộ.

Chính sách đối ngoại và quốc phòng vẫn là trách nhiệm của Đan Mạch do tư cách thành viên NATO và các hiệp ước quốc phòng với Mỹ (1941/1951), vốn đã cho phép sự hiện diện quân sự của Mỹ.

Greenland không phải là thành viên của Cộng đồng Âu châu (EU) nhưng có các thỏa thuận đặc biệt; nước này là thành viên của NATO thông qua Đan Mạch.

Vương quốc Đan Mạch thời trung cổ sơ kỳ có niên đại từ thế kỷ thứ 5, khi một nhóm lính đánh thuê người Scandinavia cũ hòa trộn với người Saxon, Goth, Slav và các dân tộc khác hợp lại, lấy tên là Danir, và tiến hành chinh phục những vùng đất rộng lớn để sau này trở thành Vương quốc Đan Mạch. Vì vậy, "Vua của người Đan Mạch" được công nhận trong các nguồn tài liệu của người Frank từ thế kỷ thứ 6, trong khi các nguồn tài liệu Latinh từ Ravenna gọi đó là "Dania". Danh sách các vị vua thời kỳ đầu này trong sử thi Beowulf, được sáng tác vào khoảng thế kỷ thứ 7 và ghi chép lại vào khoảng năm 700 sau Công nguyên, cho chúng ta biết rằng vào thời điểm đó, Dania là một thực thể chính trị được công nhận ngang hàng với các vương quốc thời trung cổ sơ kỳ khác như Anglo-Saxon.

Về sau, trong thời đại Viking, người Scandinavia đã thực hiện một cuộc di cư rộng khắp, chinh phục vùng đất từ ​​Novgorod đến Kyiv ở phía đông, và xa hơn về phía tây—từ Normandy đến Danelaw ở miền tây nước Anh, sang Ireland và đến tận Greenland và Vineland. Trên khắp vùng Scandinavia này, ngôn ngữ German chung được gọi là dǫnsk tunga , nghĩa đen là “tiếng Đan Mạch”, cho thấy vai trò lãnh đạo trên thực tế trong những cuộc chinh phạt ngoạn mục mà những người này tham gia, chẳng hạn như cuộc chinh phạt Normandy và Danelaw. Ngôn ngữ này, với nhiều hình thức và phương ngữ khác nhau, và ngày nay được gộp chung dưới thuật ngữ “tiếng Na Uy cổ”, đã được nói và hiểu từ Iceland đến Kyiv vào thế kỷ thứ 10. Đây là ngôn ngữ của người Bắc Âu, một biệt danh khác được biết đến từ Ravenna vào thế kỷ thứ 6. Từ góc độ ngôn ngữ học, ngôn ngữ này được hình thành sau những biến động khí hậu và sự suy giảm dân số vào thế kỷ thứ 6 và 7.

Thời kỳ chinh phục và di cư này lên đến tột đỉnh vào thế kỷ thứ 10, khi hậu duệ của triều đại cai trị Đan Mạch định cư khắp các vùng đất rộng lớn của châu Âu và Bắc Cực, hình thành nên đế chế do Cnut Đại đế cai trị vào năm 1016. Đế chế này bao gồm Đan Mạch, Anh, Na Uy và một phần của Thụy Điển ngày nay. Vì Iceland ít nhất cũng có liên hệ với Na Uy vào thời điểm đó, nên có thể nói Iceland là một phần của Đế chế Biển Bắc này. Bao gồm cả các thuộc địa mới ở Greenland và Newfoundland.

Hai thuộc địa này được thành lập vào khoảng năm 1000. Vào thời điểm đó, Greenland hầu như không có người sinh sống, vì người Dorset đã gần như biến mất khỏi dải đất cực bắc của Greenland. Sự thật này thường bị những người kế thừa sau này của họ, người Inuit Thule, cố tình bỏ qua. Họ đến khu vực này vào khoảng năm 1250 sau Công nguyên và là những người bản địa sinh sống ở Greenland ngày nay. Theo phân tích DNA cũng như văn hóa, người Dorset và người Thule là hai quần thể hoàn toàn khác biệt. Người Inuit thích gọi người Dorset là "người Inuit cổ đại", vì những lý do hiển nhiên là muốn thu hẹp khoảng cách thời gian này. Sự bất tiện do việc họ chưa bao giờ là người "bản địa" đúng nghĩa, tất nhiên chỉ là một điều kỳ lạ. Tuy nhiên, trong nỗ lực tạo dựng một bản sắc Greenland đúng đắn, điều này đóng một vai trò nhất định. Từ góc độ học thuật, điều này chỉ càng nhấn mạnh thực tế rằng lịch sử của "các dân tộc" luôn là vấn đề về nguồn gốc dân tộc – những câu chuyện chúng ta kể, về nơi chúng ta đến và chúng ta là ai. Thật không may, những câu chuyện như vậy lại có thể được chính quyền Bạch Ốc hiện tại sử dụng cho mục đích tuyên truyền.

- Greenland thời Trung cổ

Ngai vàng Đan Mạch được chế tạo năm 1660 bằng sừng cá voi narwhal nhập khẩu từ Greenland và Iceland. Hiện đang được lưu giữ tại Rosenborg ở Copenhagen.

Có thể nói, Greenland được cai trị gián tiếp từ Iceland cho đến năm 1262, khi hòn đảo này bị sáp nhập vào Vương quốc Na Uy, được thành lập như một thực thể chính trị riêng biệt sau khi đế chế của Cnut Đại đế sụp đổ vào giữa thế kỷ 11. Xét về giáo hội ở Greenland (và Iceland)thì các giáo phận đầu tiên được giao cho Bremen (Đức) và sau đó là Lund (Thụy Điển ngày nay), tổng giáo phận Đan Mạch thời trung cổ. Lần đầu tiên vào năm 1152, hai giáo phận phía bắc được giao cho Nidaros ở Trondheim. Khoảng 250 năm từ năm 1152 đến năm 1397, Greenland được Na Uy cai trị trực tiếp .

Năm 1397, vương quốc Na Uy đã ký hiệp ước Kalmar, chính thức gia nhập liên minh toàn Scandinavia của ba vương quốc riêng biệt về mặt pháp lý, Greenland được cai trị bởi quốc vương Đan Mạch. Kể từ năm đó Greenland một lần nữa trở thành một phần của đế chế Đan Mạch, tình trạng này vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay.

Năm mươi năm sau, những người định cư Na Uy biến mất bởi nhiều nguyên cớ : chết vì dịch hạch hay phải ra đi vì việc xuất khẩu ngà hải mã suy giảm , vì khó sống được với sự biến đổi khí hậu, hoặc xung đột với người Inuit Thule, những người này cũng lần lượt di chuyển về phía nam do sự thay đổi nguồn thức ăn gây ra bởi Kỷ Băng hà nhỏ. Diễn biến chính xác của các nguyên cớ đó vẫn còn đang được nhiều người tranh luận. Trên thực tế mặc dù các khu định cư của người Na Uy bị bỏ hoang sau khoảng năm 1450, các vị vua Đan Mạch vẫn tiếp tục tổ chức các cuộc thám hiểm để tìm biết thêm về lãnh thổ rộng lớn này (và nếu có thể, sẽ khai thác nó). Các cuộc thám hiểm được ghi nhận từ năm 1473, 1579, 1581, 1585, 1605, 1619, 1636, 1652, và cuối cùng là năm 1721, khi một nỗ lực truyền giáo được khởi xướng. Nhiều cuộc thám hiểm khác đã được thực hiện bởi các công ty thương mại của Anh, Bồ Đào Nha, Đức, v.v. Một khoảng thời gian bị gián đoạn từ năm 1473 đến năm 1579 có lẽ là do các sự kiện sau cuộc Cải cách Tin lành. Tuy nhiên, Greenland tiếp tục được công nhận là của Vương quốc Đan Mạch.

Vào năm 1814, tại Đại hội Vienna, người Anh đã thành công trong việc tiêu diệt đối thủ Đan Mạch bằng cách chia cắt liên minh Đan Mạch-Na Uy, "trao" Na Uy cho người Thụy Điển quản lý nhưng Greenland và Iceland vẫn dành riêng cho Vương quốc Đan Mạch. Cho đến năm 1944, cả hai hòn đảo đều được cai trị từ Copenhagen. Năm 1918 Iceland trở thành một quốc gia độc lập trong Vương quốc Đan Mạch.

Năm 1953, chế độ thuộc địa chấm dứt, Greenland trở thành một tỉnh của Đan Mạch (Petersen, 2003). Greenland tiếp tục được Đan Mạch quản lý về chính trị, kinh tế, trí tuệ và địa lý (Nielsen, 1975). Người đứng đầu nhà nước vẫn là Quốc vương Đan Mạch ( hiện nay là Vua Frederick X ).

Từ năm 1979. Greenland có quyền tự trị chính trị điều này có nghĩa là Greenland có Thủ tướng riêng có nghị viện riêng ( Inatsisartut trong tiếng Greenland; Lansting trong tiếng Đan Mạch), chính phủ riêng ( Naalakkersuisut ) và bộ máy hành chính riêng . Kể từ năm 2025 tới nay Thủ tướng của Greenland là ông Jens-Frederik Nielsen sinh ra, lớn lên tại Nuuk Greenland , cha là người Đan Mạch và mẹ là người người Inuit Greenland .

Năm 2009, Đan Mạch đã chuyển giao 32 lĩnh vực quyền tài phán cho thuộc địa cũ của mình, bao gồm cả cảnh sát và tư pháp do đó, các nghị sĩ Greenland có thể ban hành các luật cụ thể. Tuy nhiên, chính sách tiền tệ, quốc phòng và chính sách đối ngoại vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Đan Mạch.

- Ngôn Ngữ

. Hai ngôn ngữ đồng chính thức

Đại đa số trong số khoảng 57.000 cư dân của Greenland—ít nhất 87%—nói tiếng Inuktitut , một ngôn ngữ thuộc ngữ  hệ Eskimo-Aleut . Tuy nhiên, người Greenland gọi ngôn ngữ của họ là Kalaallisut , tương ứng với tiếng Inuktitut Tây Greenland .  Do đó, họ là người Inuit , một thuật ngữ có nghĩa là "con người" hoặc "người dân", hoặc chính xác hơn hiện nay là "người dân" (số ít Inuk : "người"); trong tiếng Pháp, từ Inuit có thể được hình thành dưới dạng Inuits (số nhiều) hoặc Inuite (giống cái). Thuật ngữ Inuit đã thay thế từ Eskimo trong vài năm trở lại đây , một tên gọi có nguồn gốc từ thổ dân châu Mỹ có nghĩa là "người ăn thịt sống", một tên gọi rõ ràng được các nhà thám hiểm châu Âu sử dụng sau này. Ở Nunavut (Canada) — tại điểm gần nhất, Greenland và Nunavut chỉ cách nhau khoảng 20 km — Inuktitut là thuật ngữ được sử dụng để chỉ ngôn ngữ Inuit.

Đối với những cư dân khác của Greenland, họ nói tiếng Đan Mạch (khoảng 5.000 người), chiếm 8,5% dân số, hoặc tiếng Anh ( 3,5%), cả hai đều là ngôn ngữ German.  Điều đáng chú ý là vào năm 1975, người Đan Mạch chiếm gần 20% tổng dân số Greenland; số lượng của họ đã giảm đáng kể kể từ đó. Tại thủ đô Nuuk, họ chiếm 23,7% dân số địa phương (13.500 cư dân) vào năm 1998.

Sự cô lập về mặt địa lý của hòn đảo lớn này với đất liền Đan Mạch, việc sử dụng tiếng Inuktitut trong giáo dục , sự tham gia của người Greenland vào các vấn đề công cộng, và một số yếu tố khác đã khiến cư dân nơi đây tự coi mình là một quốc gia ngang hàng với người Đan Mạch, chứ không phải là một dân tộc thiểu số bản địa mang quốc tịch Đan Mạch. Do đó, mối quan hệ của họ với Đan Mạch mang tính hành chính, chứ không dựa trên bản sắc.

Mặc dù tiếng Greenlandic (Kalaallisut) hiện là ngôn ngữ chính thức, nhưng vẫn tồn tại những căng thẳng đáng kể giữa tiếng Greenlandic bản địa và tiếng Đan Mạch. Giới tinh hoa chính trị và hành chính chủ yếu nói tiếng Đan Mạch, trong khi đa số dân số – 70% – chỉ nói tiếng Greenlandic(Kalaallisut). Điều này đặt ra câu hỏi dân chủ về việc liệu một quốc gia có thể được cai trị bằng một ngôn ngữ chỉ được nói bởi một thiểu số hay không.

Trong khi kiến ​​thức về tiếng Đan Mạch tương đối phổ biến ở quần đảo Faroe, điều này hoàn toàn trái ngược ở Greenland, nơi nhiều người nói rất ít hoặc không nói được tiếng Đan Mạch; ước tính chỉ có khoảng 15% người Greenland có thể nói tiếng Đan Mạch hoặc tiếng Anh. Và ngay cả đối với những người nói được tiếng Đan Mạch, ngôn ngữ này cũng không hẳn là ngôn ngữ trung lập, mà đúng hơn là ngôn ngữ của cường quốc thực dân, và thậm chí đến ngày nay, vẫn là ngôn ngữ của quyền lực.

Hiện nay, vẫn tồn tại một khoảng cách rất lớn về kỹ năng ngôn ngữ giữa các thế hệ; một số người không nói được tiếng Đan Mạch và chưa từng được học tiếng Đan Mạch một cách bài bản, một số chưa từng được học tiếng Greenlandic(Kalaallisut), một số chưa từng học viết tiếng Greenlandic (Kalaallisut)dù họ nói được ngôn ngữ này, và những người khác thì hoàn toàn không nói được tiếng Greenlandic. Tình trạng tương tự cũng xảy ra với trình độ tiếng Đan Mạch. Chưa có chính sách nào được xây dựng để giải quyết sự chênh lệch đáng kể này, đặc biệt là về kỹ năng ngôn ngữ, còn thiếu kế hoạch, nghiên cứu, phân tích, cơ hội hành động và kinh phí.

Tóm lại, rất khó để đưa ra số liệu chính xác về trình độ thông thạo ngôn ngữ nói và viết ở Greenland, bởi vì cần phải tính đến không chỉ tiếng Đan Mạch và tiếng Anh, mà còn cả tiếng Greenland phương Tây (ngôn ngữ chuẩn) và tiếng Greenland phương Đông.

Ngôn ngữ Greenlandic (Kalaallisut) được nói ở Greenland bao gồm ba khu vực chính của tiếng Inuktitut, bản thân các khu vực này lại được chia nhỏ thành nhiều phương ngữ địa phương, nhưng điều này không có nghĩa là những người nói ngôn ngữ này sinh sống trên toàn bộ lãnh thổ, vì vùng băng ở trung tâm không có người ở:

1)-Kitaa Inuktitut hoặc Kalaallisut (kikalattdlissut) hoặc Tây Greenland ; 90% người dân Greenland sống trên lãnh thổ này, tức là khoảng 50.000 người; 

2)-Inuktitut của Avanersuaq hoặc avanersuarmiutut (Inuktun) hoặc Greenlandic của huyện Thule hoặc phía bắc Greenlandic ; ít hơn 1000 người Greenland sống trên lãnh thổ này;

3)-Tunu Inuktitut hoặc Tunumiutut (Tunumiisut) hoặc tiếng Greenland phía Đông (vùng Ammassalik). Tiếng Greenland phía Tây  là ngôn ngữ chính thức của Greenland; khoảng 3800 người Greenland sinh sống trên lãnh thổ này.

Các từ Avanersuaq , Kitaa và Tunu đề cập đến ba quận cũ của Greenland (bị bãi bỏ vào tháng 12 năm 2008). Thuật ngữ Greenlandic kalaallisut có thể được dịch là "ngôn ngữ của người dân" ( Grønlandsk trong tiếng Đan Mạch), nhưng nó được dùng để chỉ ngôn ngữ Tây Greenland.

- Kalaallisut

Trên thực tế, tiếng Greenlandic (Kalaallisut) được nói ở Greenland chỉ giới hạn ở ba khu vực nhỏ gần bờ biển: Inuktun (hoặc Avanersuaq) ở Kalaallisut  là ngôn ngữ Greenlandic chuẩn. Hơn nữa, các phương ngữ Inuit được nói ở Greenland có phần khác biệt so với các phương ngữ được nói bởi người Inuit ở Canada ( Yukon , Lãnh thổ Tây Bắc , Nunavut ) và Alaska ( Hoa Kỳ), mặc dù tất cả đều thuộc ngữ hệ Inuit ( xem bản đồ và mô tả ).

Điều quan trọng cần nhớ là, đặc biệt là về mặt từ vựng, Greenland không được thống nhất bởi một ngôn ngữ chung, giống như trường hợp của tiếng Inuktitut ở Canada. Do sự phân bố địa lý của dân bản địa, bị chia cắt bởi những vùng phủ đầy tuyết rộng lớn và thiếu đường sá an toàn, ngôn ngữ Greenland không thể được chuẩn hóa. Mãi đến thế kỷ 19 , các nhà truyền giáo và quan chức chính phủ mới bắt đầu sử dụng ngôn ngữ Greenland viết, dựa trên mô hình tiếng Greenland phương Tây, trong tất cả các nhà thờ, trường học và các tổ chức khác trên đảo.

- Dự án Dialekprojektet - Phương ngữ :

Nhiều dấu hiệu cho thấy các biến thể tiếng Greenland đang biến mất vì nhiều người trẻ Greenland đang muốn thích ứng ngôn ngữ của họ với tiếng Tây Greenland chuẩn. Một dự án có tên "Dialektprojektet", hợp tác với Đại học Copenhagen, đang được tiến hành để phát triển ngôn ngữ học về các biến thể tiếng Greenland đương đại và truyền thống nhằm tạo ra một kho ngữ liệu số hóa độc đáo về tiếng Greenland nói, được thu thập một cách có hệ thống với phạm vi địa lý, giới tính và độ tuổi chưa từng có trong bất kỳ bộ sưu tập nào khác.

Mục tiêu của "Dự án Phương ngữ" là thu thập các từ vựng địa phương chưa được ghi chép lại, bằng cách này, hy vọng sẽ có được bức tranh chi tiết về sự khác biệt từ vựng giữa các biến thể. Bên cạnh sự khác biệt về từ vựng, còn có sự khác biệt về ngữ âm giữa các biến thể, đặc biệt là tiếng Đông Greenland, khác biệt rất nhiều so với tiếng Tây Greenland. Hy vọng rằng điều này sẽ góp phần củng cố di sản ngôn ngữ và văn hóa của nước Greenland.

- Một ngôn ngữ chắp dính :

Trong mọi trường hợp, các ngôn ngữ Inuit đều là ngôn ngữ chắp dính , nghĩa là chúng được đặc trưng bởi sự kết hợp của các hậu tố khác nhau sau gốc từ để thể hiện các mối quan hệ ngữ pháp và xây dựng ý nghĩa của một từ hoặc cụm từ. Ví dụ, từ pisi niar fimmu kar usuk kaluar pu nga có nghĩa là "Tôi muốn đi đến cửa hàng" trong tiếng Tây Greenland. Từ này, có vẻ khá dài đối với người phương Tây, được phân tích thành gốc từ và các hậu tố như sau:

 - pisi - (mua)

- niar - (có ý định)

- fik (nơi hoặc địa điểm mà người ta dự định mua: cửa hàng)

- mut (hướng về hoặc theo hướng)

- kar - (đi)

- usup - (muốn)

- kaluar -(điều kiện)

- pu - (động từ nội động từ chỉ định)

- nga (ngôi thứ nhất số ít: tôi).

- Chữ Viết Greenland :

Hệ thống chữ viết trước năm 1973 được gọi là 'hệ thống chữ viết cũ'. Hệ thống chữ viết tiếng Greenland cũ được tạo ra vào khoảng năm 1800 bởi nhà truyền giáo người Đức Samuel Kleinschmidt, người lớn lên ở Greenland. Người ta nói rằng hầu hết người Greenland đã học đọc học viết vào cuối thế kỷ 18, và đã có một hệ thống chữ viết chung cho tiếng Greenland vào thời điểm đó. Người Greenland là những người bản địa Inuit đầu tiên sử dụng chữ viết trong vùng Bắc Cực. Mong muốn có cách viết chính tả đơn giản hơn, chính tả tiếng Greenland đã được đơn giản hóa vào năm 1973. Chính vì những khó khăn trong cách viết chính tả cũ, nhiều người không thể học cách sử dụng nó một cách chính xác hoặc không mắc lỗi khi viết bằng tiếng Greenlandic, và dựa trên điều này, một nhóm làm việc đã được thành lập vào khoảng năm 1960 để điều tra , làm rõ những khó khăn nào tồn tại trong việc viết và đọc tiếng Greenlandic và có những giải pháp nào khả thi?

Cách viết mới : Sau nhiều suy tính với những phức tạp và để làm sáng tỏ , một hệ thống chính tả mới đã được thiết kế, trong đó nhấn mạnh vào cách viết ngữ âm, tức là cách phát âm chính xác hiện đại của các từ và các âm điệu. Hệ thống này đã được đưa vào hiệu lực bằng một đạo luật cách đây 43 năm, ngày 14 tháng 5 năm 1973, nhưng cũng làm rõ rệt rằng cách viết cũ không bị vô hiệu hóa, mà cách viết mới sẽ được công chúng sử dụng và nên được sử dụng trong giáo dục.

Dưới đây là một ví dụ về chữ viết tiếng Greenland dựa trên Điều 2 của Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế :

Immikkoortoq 2. - Điều 2.

1.  Kinal uunniit pisinnaatitaaffinnik killilersugaanngitsumillu iliorsinnaatitaaffinnik nalunaarummi maani taaneqartunik tamanik atuiumasinnaavoq, sukkulluunniit assigiinngisitsinertaqanngitsumik, s. ass. inuiannut sorlernut ataneq, ammip qalipaataa, arnaaneq/angutaaneq, oqaatsit, upperisaq, naalakkersuinikkut isuma allatulluunniit isumaqarneq, inuiaassutsikkut imaluunniit innuttaaqatigiinni qanoq atugaqartuneerneq, pigisaqassuseq, inunnguutsimit imaluunniit inuiaqatigiinni allatut inissisimaneq pissutigalugit.

1. Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do được nêu trong Tuyên ngôn này, không phân biệt bất kỳ sự khác biệt nào, chẳng hạn như chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc quốc gia hoặc xã hội, tài sản, nơi sinh hoặc tình trạng khác.

2. Aammattaaq nunami imaluunniit sumiiffimmi eqqartuussisinnaanikkut pissutsit imaluunniitt naalakkersuinikkut imaluunniit nunat allamiut inuup aalajangersimasup attaveqarfigisaasa isumaat pissutiagalugit assigiinngisitsineqassanngilaq, sumiiffik naalakkersuinikkut attaveqarfeqanngikkaluarpalluunniit, allanit oqartussaaffigineqaraluarpat namminersortuunngikkaluarpalluunniit, imaluunniit imminut naalakkersorsinnaassusia arlaatigut killiliivigineqarsimagaluarpat.

2. Hơn nữa, không được phân biệt đối xử dựa trên tình trạng chính trị, pháp lý hoặc quốc tế của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ mà một người là công dân, cho dù quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đó là độc lập, ủy thác, không tự trị hoặc chịu bất kỳ hạn chế nào về chủ quyền.

- Văn Hóa Greenland :

Văn hóa Greenland là sự phản ánh tuyệt đẹp của lịch sử lâu đời của người Inuit, được định hình bởi cảnh quan khắc nghiệt của vùng Bắc Cực. Văn hóa và truyền thống của Greenland tiếp tục phát triển từ thời tổ tiên xa xưa nhất đến quốc gia hiện đại, thể hiện một lịch sử lâu dài và kiên cường về cuộc sống ở vùng Bắc Cực khó khăn.

Greenland rất coi trọng sự tôn trọng người khác và tinh thần cộng đồng. Lời chào hỏi thường nồng ấm và bao gồm những cái ôm tôn trọng, hôn lên má và bắt tay. Theo phong tục, người ta thường xưng hô với người khác bằng chức danh hoặc họ của họ, sau đó là cách xưng hô lịch sự “ Aap ” (thưa ông) hoặc “ Amaq ” (thưa bà).

Lòng hiếu khách là một khía cạnh được đánh giá cao khác trong xã hội Greenland, với việc chủ nhà làm mọi thứ có thể để đảm bảo khách của họ cảm thấy thoải mái và được chào đón. Khách thường được chào đón bằng thức ăn và đồ uống.

Mặc dù ban đầu có vẻ dè dặt, người Greenland coi trọng lòng tốt, sự hài hước và tình cảm gia đình bền chặt. Du khách thường nhận thấy rằng một khi đã tạo được mối liên hệ, người địa phương rất sẵn lòng chia sẻ những câu chuyện, văn hóa và truyền thống của họ.

Những phong tục truyền thống của Greenland gắn bó mật thiết với thiên nhiên và cộng đồng. Trượt tuyết bằng chó kéo, chèo thuyền kayak và săn hải cẩu là những tập tục cổ xưa vẫn được tôn vinh cho đến ngày nay. Các lễ hội như Ngày Quốc khánh 21 tháng 6 có trang phục truyền thống, âm nhạc và điệu nhảy. Kể chuyện, múa trống và xăm mình của người Inuit cũng phản ánh cội nguồn văn hóa bản địa sâu sắc của Greenland.

- Ẩm Thực:

Ẩm thực Greenland chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Nông nghiệp và chăn nuôi hạn chế, thay vào đó là đánh bắt cá và săn bắn các loài thú đặc thù – những loài có khả năng sống sót trong điều kiện lạnh quanh năm.

Hải sản bao gồm cá hồi, cá capelin, cá bơn, cá whiting, cá hồi vân, cá turbot, cá bống, cua, nhím biển và tôm. Ít phổ biến hơn, nhưng cũng là một phần của ẩm thực truyền thống của đất nước là cá voi. Do số lượng cá voi giảm sút, thịt cá voi không được bán rộng rãi; chỉ những bộ lạc có truyền thống tiêu thụ thịt cá voi mới được phép săn bắt.

Món ăn nổi tiếng nhất từ ​​cá voi là mattak hoặc mutktuk , được làm từ mỡ và da cá voi, có thể ăn sống hoặc nấu chín.

Bò xạ hương, tuần lộc, gà gô trắng (một loài chim), hải cẩu, thỏ tuyết và thịt cừu thường là những loại thịt được tiêu thụ phổ biến nhất ở nước này. Suaasat là một món súp truyền thống được làm từ thịt hải cẩu và được coi là một trong những món ăn lâu đời nhất của đất nước.

Trái cây và rau củ thường được dùng làm món ăn kèm. Ngược lại, cây bạch chỉ thường được dùng để nêm gia vị cho các món ăn. Gạo, hành tây và khoai tây là những thực phẩm có nguồn gốc thực vật phổ biến nhất.

Một đặc điểm khác của đất nước này là nhiều loại thực phẩm được tiêu thụ ở dạng lạnh, phương pháp bảo quản này dễ sử dụng nhất nhờ khí hậu vùng cực, vì vậy các sản phẩm được đông lạnh tự nhiên, đôi khi được sấy khô hoặc ướp muối.

Mattak hay Muktuk: Một món ăn truyền thống của người Inuit được làm từ da và mỡ cá voi lưng gù, có thể ăn sống, nhưng đôi khi cũng được chiên hoặc ăn kèm với nước tương.

Suaasat : Món súp được làm từ hải cẩu, khoai tây, gạo và hành tây.

Trong tình hình sôi xục hiện tại trên thế giới với chủ nghĩa DonRoe của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump bài viết này chúng tôi chỉ có tham vọng đề cập đến Greenland về Đất, Người và Văn Hóa. Bài viết thứ hai trong những ngày sắp tới chúng tôi sẽ được trình bầy về những diễn biến đã, đang và sẽ có thể diễn ra rất nghiêm trọng nhưng cũng đầy lý thú tại Greenland nói riêng và Bắc Cực nói chung.     -./.

Theo nhiều tài liệu trên Internet và một số cơ quan truyền thông.
Viết tại La Sérénité Troyes-Pháp 8.59'-18.01.2026.




VVM.19.01.2026.