Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
        


PHƯƠNG TIỆN CỦA ĐẠO PHẬT

NHỮNG TÔN GIÁO CHÂN CHÍNH

  


t hẳn chúng ta đều phải nhìn nhận, trong tất cả các sinh vật đang tồn tại trên trái đất, thì mạnh mẽ và hung dữ là những loài thú trên rừng như trăn, rắn, cọp, beo, voi, gấu, sư tử. Dưới nước thì có cá sấu, cá voi, cá mập…Chúng có sức vóc rất lớn, có nanh, vuốt, và tính cách rất là hung hăng, sẵn sàng tấn công và xé nát, ăn thịt con mồi dễ dàng. Trong khi con người rất nhỏ bé, yếu ớt, nếu phải đối đầu thì không thể nào thắng được. Nhưng bù lại,con người rất là thông minh, khéo léo, giỏi giang. Họ không dùng sức để đối đầu được thì dùng cơ mưu. Tất cả loài thú, dù trên bờ hay dưới nước, dù sức mạnh bao nhiêu, hung dữ cỡ nào cũng không thể thắng nổi con người. Nếu không, thì hẳn ngày nay con người đã bị tiêu diệt hết rồi. Con người tuy yếu đuối, nhưng với trí óc, họ có thể chế ra lưới, bẫy rập, ná, cung tên, súng, đạn, thuốc mê, ngày một tinh xảo và đa dạng hơn.. một khi đã muốn khống chế bất cứ loài nào, dù dữ như sư tử, cọp, hay mạnh như voi, gấu cũng đừng hòng thoát !

Con người đã chinh phục sông sâu, biển lớn bằng tàu, thuyền. Chinh phục không gian bằng máy bay. Với tiến bộ của khoa học. họ vận chuyển vừa con người, vừa hàng hóa vượt qua đại dương, qua không gian cả nửa vòng trái đất. Ngày càng cải tiến để nhanh hơn, xa hơn, chuyên chở được nhiều hơn. Thậm chí họ còn có thể chinh phục cả một số vì sao ở cách xa hàng bao nhiêu năm ánh sáng ! Từ những vũ khí thô sơ, mục đích để tự vệ buổi đầu, họ tiến sang tấn công, có thể chế tạo vũ khí để tiêu diệt hàng loạt mục tiêu cách xa hàng mấy ngàn cây số mà không cần có người điều khiển, cho ta thấy sức mạnh về tài trí và sự tính toán của của con người. Càng nghiên cứu thì càng được phát huy ! Khoa học về việc nâng cao tuổi thọ và sức khỏe của con người cũng được đã tiến bộ vượt bậc. Nếu hồi xa xưa con người chỉ biết đầu hàng số phận. Một khi đã phát bệnh là chỉ có nước chờ chết ! Nhưng dần dà con người đã có thể mổ óc, thay tim, gan, phổi, thận. Cắt bỏ một phần bộ phận bị hư hỏng, nông lòng mạch cho máu lưu thông, lọc máu để tách những mảng bám dơ cản trở đường huyết lưu thông. Phòng thí nghiệm lúc nào cũng có những thành tựu mới để cải thiện sức khỏe, nâng cao tuổi thọ cho con người là điều rất đáng mừng.

Nhưng lần hồi con người đã không dừng ở mức tự vệ, mà chuyển sang tấn công. Thay vì trước kia chỉ đối phó khi bị tấn công thì càng về sau con người chủ động tấn công trước để giành ưu thế. Thú dữ càng lúc càng bị đuổi đi xa, những người chung quanh cũng bị ảnh hưởng. Người mạnh ăn hiếp người yếu. Người giàu chèn ép người nghèo. Nước mạnh thôn tính nước yếu. Tất cả đều do lòng Tham mà ra.

Nhưng dù con người có thể chiến thắng nhiều thứ, nhưng cuối cùng cũng không chiến thắng được Tử Thần. Những nước hùng mạnh đã xâm lăng nhiều nước chư hầu rồi cuối cùng cũng chẳng giữ được. Những danh tướng bách chiến bách thắng rồi cũng tới tuổi già yếu, không chống được số phận. Đó là quy luật không thể tránh khỏi. Điều đáng tiếc là lúc sức khỏe còn dồi dào con người ít ai chịu nghĩ đến điều đó.

Nhưng không phải ai cũng chấp nhận số phận định sẵn. Trước thời có Đức Phật thì Ấn Độ đã phát triển mạnh về tư tưởng Tôn Giáo, triết học. Đặc biệt là Bà La Môn Giáo (Hindu) và các học thuyết tu Khổ Hạnh. Đạo Bà La Môn cũng đặt vấn đề về kiếp sống của con người. Cũng nói về Vô minh, Nghiệp và Giải Thoát cũng như đặt ra mục đích cho kiếp sống là phải hoàn thành các nghĩa vụ về luân lý, luật pháp và tôn giáo. Khuyên con người phải tiết chế và điều độ, muốn giải thoát khỏi luân hồi thì phải trừ hết Nghiệp. Cũng nói về 3 Ơn mà con người phải trả, đó là ơn trời, ơn Thầy và ơn tổ tiên. Họ cũng có 10 Giới phải giữ. Nhưng họ đặt ra những giai cấp mà những người đã lỡ sinh ra trong giai cấp thấp thì làm gì cũng không thể vượt qua :

1/- Bà La môn (Tăng lữ).

2/- Quý tộc Sát Đế Lỵ (Vua chúa).

3/- Phệ Xá (Thương gia, nông dân).

4/- Thủ Đà La(Để phục vụ cho 3 hạng trên). Ngoài ra còn có Chiên Đà La là những người cùng khổ nhất.

Từ xếp hạng đó, Bà La Môn được cho là sinh ra từ Miệng của Phạm Thiên. Sát Đế Lỵ từ Tay của Phạm Thiên. (Đó là lý do mà Kinh viết là Thái Tử Sĩ Đạt Ta sinh ra từ Nách của Hoàng Hậu Ma Gia). Phệ Xá thì sinh ra từ Bấp vế. Thủ Đà La thì sinh ra từ Chân.

Đạo Bà La Môn sắp xếp thứ tự của Tăng Lữ còn cao hơn cả Vua chúa và họ cho mình đặc quyền được nhận của cúng kiến do tín đồ, nhân danh tu hành, thanh tịnh. Rõ ràng là họ nhân danh Thượng Đế để họ là những trung gian giữa con người và Thượng đế rồi hưởng tất cả lợi lạc từ những người tin tưởng Thượng Đế. Trong khi đó, Đạo Phật thì khác hẳn. Không nói về Thượng Đế nhưng giải quyết cách sống cho con người, hướng dẫn cách thức để cải Nghiệp và làm cho cuộc sống được hạnh phúc hơn.

Hẳn thời gian đầu, khi mò mẫm đi tìm chân lý, Đức Thích Ca cũng đã từng học qua, nhưng sau đó nhờ quán sát, tư duy mà tuy cũng có một số dựa vào nền tảng của Bà La Môn, nhưng cải thiện cho hợp lý hơn.

Đọc Kinh VỊ TẰNG HỮU THUYẾT NHÂN DUYÊN ta thấy nói về một nữ nhân giòng Bà La Môn, nhà rất giàu nhưng không con cái, không cha mẹ nên rất buồn khổ. Theo phép Bà La Môn thì nếu có việc gì không vừa ý thì sinh ra thiêu thân.

Các thầy Bà La Môn thường đến giáo hóa cho bà, nói rằng các nghiệp khổ đời nay là do tội nghiệp đời trước. Ngày trước không cung kỉnh các thầy Bà La Môn, không hiếu thuận với cha mẹ, chồng con, lại không có từ tâm nuôi dưỡng con cái. Nếu không tu phước cho hết tội thì đời sau chịu khổ vào địa ngục. Muốn hết tội thì có hai cách : Một là nếu tội nhẹ thì tự tay gội đầu, lấy nước thơm tắm gội rồi vào trong Thiên Miếu sám hối từ tạ với trời Na La Diên; thỉnh đủ một trăm thầy Bà La Môn thiết đãi ăn uống, xong rồi dùng 100 con bò cái mới đẻ con mà dâng cúng cho họ thì mới hết tội. Vì các Thầy bà La Môn là người tịnh tu phạm hạnh, không ăn tửu nhục, hành tỏi, ngũ vị tân, chỉ dùng sữa bò để làm thức ăn nên khiến các nhà đàn việt hết tội, sanh phước, đời đời sanh ra sở nguyện tùng tâm. Như bà tội nặng quá thì phải lấy tất cả đồ vật quý báu trong nhà mà cúng thí cho năm trăm thầy Bà La Môn. Các thầy nhận rồi sẽ chú nguyện cho đời sau đặng giàu to.

Hai là, người nào muốn hết tội nặng thì nên đến bên sông Hằng chất củi tự thiêu. Các thầy Bà La Môn sẽ chú nguyện khiến cho tội nặng tội nhẹ đời trước đồng thời tiêu hết, đời sau sinh ra khộng còn khổ, sống lâu cùng cha mẹ, anh em, vợ chồng con cái sum vầy.

Lúc đó Bà Đề Vi đồng ý, quyết định sẽ tự thiêu. Bà sai tôi tớ trong nhà đem 10 cổ xe vô núi đốn củi để làm phép thiêu thân.

Lúc bấy giờ trong nước có vị Đạo Nhân tên là Bát Đề Bà, tinh tấn Trì Giới, đa văn, trí huệ, thường đem từ tâm giáo hóa thiên hạ khiến ai cũng cải tà, quy chánh, bỏ dữ, làm lành. Nghe đồn Bà Đề Vi sắp tự thiêu nên sinh lòng thương xót, đến chỗ bà hỏi : “Sắm sẵn củi lửa muốn làm việc gì ?”.

Bà Đề Vi trả lời là “Muốn tự thiêu để diệt hết tội khổ”. Biện Tài nói : “Tội nghiệp đời trước tùy theo tinh thần, không theo với thân, thiêu thân chịu khổ nào được hết tội”. Biện Tài lại giải thích : Họa phúc từ Tâm mà có. Tâm niệm thiện thì sẽ hưởng quả báo thiện. Tâm niệm ác thì chịu cái quả báo ác. Tâm niệm khổ vui thì chịu quả báo khổ vui. Ví như người chết đói thời làm quỷ đói, người chết hoan hỷ thì được quả báo hoan hỷ khoái lạc. Người nay cũng vậy, vì tội đời trước nên chịu quả báo quạnh hiu , thuờng ôm lòng lo buồn lại muốn đốt thân để lìa khỏi sự buồn thì đâu thể được ? Ví như người bệnh khổ, bị người mắng nhiếc càng thêm khổ vạn bội. Huống chi là khi thiêu thân, lửa dữ bốc cháy, thân thể cháy tiêu. Trong khi hơi thở chưa dứt, tâm chưa hư hoại, đương khi thân tâm bị đốt đó, thần thức chưa lìa, cho nên chịu khổ não, phiền muộn, từ đó mạng chung, sanh trong Địa Ngục, chịu cái khổ trong Địa Ngục, càng thêm thảm kịch gấp trăm vạn phần, cầu ra không được, huống chi là muốn thiêu thân để cầu hết khổ ?

Lại nữa. Ví như con trâu kéo xe nhàm chán sự mệt nhọc, muốn phá cho hư xe, nhưng xe trước nếu hoại thì xe sau đó lại tròng vô cổ, vì tội trâu chưa hết. Ngươi nay cũng vậy. Dù cho thiêu hoại trăm ngàn muôn thân, song tội, nghiêp, nhân duyên tiếp nhau không dứt. Ví như người ở trong địa ngục A Tỳ bị thiêu đốt, trong một ngày tám muôn lần chết, tám muôn lần sống, trải qua một kiếp rồi tội kia mới hết. Ngươi nay đốt thân một lần mà muốn cầu hết tội sao được ?

Biện Tài mỗi món nhân duyên vì nói Chánh Pháp. Đề Vi tâm ý mở tỏ liền thôi không thiêu thân nữa, thưa với Biện Tài rằng : “Vậy con phải làm phương pháp gì mới hết tội” ? Biện Tài đáp : “Tâm trước tạo ác như đám mây che phủ mặt trăng. Tâm sau khởi thiện thì cũng như cây đuốc sáng làm cho tiêu hết bóng tối. Nay có phương tiện khiến cho người không tốn một đồng tiền, nhẫn đến không bị một chút khổ, diệt hết tội khổ, hiện đời được yên ổn, đời sau sanh ra chỗ nào thì thiện nguyện tùng tâm”.

Bà Đề Vi sai người nhà dọn một tòa cao thỉnh ông Biện Tài lên thuyết pháp. Xin chỉ cho pháp trừ tội để y pháp tu hành.

Ông Biện Tài nói : Nguyên do tạo tội là ở nơi Thân, Khẩu, Ý. Thân có ba nghiệp không lành là Sát, Đạo, Dâm. Miệng có bốn nghiệp không lành là Vọng ngữ, ỷ ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu. Ý có ba nghiệp không lành là : Tật đố, Sân nhuể, kiêu mạn, tà kiến. Ấy là mười nghiệp ác phải chịu cái quả báo ác. Nay ngươi phải nhất tâm thành thật sám hối, dù cho đời nay có những tội như vậy, nay đều sám hối tất cả thì được khỏi tội và hết tội”.

Ngươi phải lập lại lời thề từ đây về sau không dám tái phạm và vì tiền nhân, cha mẹ, anh em với chồng của chúng con, chỗ có tội lỗi, con nay nhất tâm sám hối thế cho tất cả. “Đệ tử Đề Vi con nay sám hối, bỏ dữ, làm lành, chỗ có phước đức nhân duyên đều thí cho tất cả chúng sanh chịu khổ khiến được yên vui. Nếu chúng sanh có tội con xin chịu thay”.

Lại lập lời thệ rằng : “Ngày nay con nhờ cải tà về chánh, hối tội tu phước, do nhân duyên đây, bỏ thân này, thọ thân khác cho đến khi thành Phật thường gặp Minh Sư, gặp Thiện Tri Thức thọ mạng không lường, thường cùng cha mẹ, chồng vợ, con cái, sáu thân quyến thuộc thường giúp đỡ nhau, không bị khổ hoạn nạn như ngày hôm nay vậy. Đó là pháp “Hối quá diệt tội”.

Bà Đề Vi và cả quyến thuộc xin Biện Tài dạy cho pháp lành khác để tăng thêm công đức. Ông Biện Tài dạy cho Quy Y Phật, Quy Y pháp, Quy y Tỳ Kheo Tăng và dạy cho pháp Thập Thiện. Bà và quyến thuộc phụng hành và xin lập cung xá để phụng sự thầy suốt đời để đền ơn. Nhưng Biện Tài không nhận. Nói rằng bà và quyến thuộc nên đem pháp đó truyền lại cho nhiều người là đã đền ơn Thầy rồi. Bà lại cho xe chở của báu trong kho dâng lên thầy, nhưng Biện Tài cũng không nhận mà từ tạ ra đi.

Sau đó, bà Đề Vi cùng quyến thuộc đem pháp Thập Thiện lần lượt cùng nhau giáo hóa.

Qua đó, chúng ta thấy cách giải quyết Nghiệp của Thầy bên Bà La Môn và đệ tử Phật. Bên Bà La môn thì giải Nghiêp bằng cách cúng dường cho các Thầy Bà La Môn. Bên đệ tử Phật thì phải Sám Hối. Tội do Thân, Khẩu và Ý đã tạo thì phải sám hối ở đó, không tái phạm nữa và dùng Pháp Thập Thiện để giải Nghiệp. Thập Thiện gồm có :

-3 Nghiệp thuộc về Thân : Không Sát Sinh, Không trộm cắp, không tà dâm.

-4 Nghiệp thuộc về Khẩu : Không nói dối, không thêu dệt, không hai lưỡi, không ác khẩu.

-3 Nghiệp thuộc về Ý : Không Tham Lam, không Sân hận, không Si mê.

Làm ngược với 10 điều Thiện này gọi là Thập Ác.

Tất cả những điều trên cũng chỉ là giữ đạo đức của một con người. Trong Thập Thiện đã có Ngũ Giới. Nếu cộng thêm Bát Chánh Đạo là CHÁNH KIẾN, CHÁNH TƯ DUY, CHÁNH NGỮ, CHÁNH NGHIỆP, CHÁNH MẠNG, CHÁNH TINH TẤN, CHÁNH TRÍ, CHÁNH NIỆM cũng là để giữ cho Thân, Khẩu, Ý được tịnh Ba Nghiệp mà thôi.

Cách giải quyết Nghiệp của Đạo Phật cũng hợp lý hơn bên Bà La Môn. Nghiệp cũng từ Thân, Tâm mà khởi. Muốn Trừ Nghiệp cũng phải trừ ở hai nơi đó. Giả sử như có Thượng Đế hay Thần Linh cầm cân nẩy mực thì cũng đâu thể do cúng kiến, cầu xin, trao đổi mà hết Nghiệp được.

Không chỉ tu sửa bản thân, người tu Phật còn phải hành Lục Độ là Bố thí, Trì Giới, Tinh Tấn, Nhẫn nhục, Thiền Định, Trí Huệ, rồi còn phải hành Tứ Vô Lượng Tâm là Từ, Bi, Hỉ, Xả. Tức là một mặt lo tu sửa bản thân, mặt khác không chỉ không xâm phạm của người khác mà còn phải đối tốt với mọi người, để tất cả đều được hạnh phúc, an vui trong kiếp sống. Đó là mục đích tối hậu của Đạo Phật.

Biết bản chất con người vốn ích kỹ, tham lam, ham danh, muốn hơn người, muốn có nhiều thứ quý báu nên Phật đặt ra Tứ Quả Thánh. Nói : “Sạch Phàm thì thành Thánh”. Hành được cấp độ nào thì được Quả Thánh cấp độ đó, làm cho con người ham thích làm Thánh mà tinh tấn hơn để hơn người. Tả Phật Quốc, Tây Phương Cực lạc đầy dẫy châu báu để dụ cho con người vì ham thích đển đó mà chấp nhận tu sửa. Người mong đến Tây Phương Cực Lạc thì càng phải cố gắng nhiều hơn, để được ở trong một nước mà toàn châu báu vàng bạc, thậm chí đến hoa nở hay chim kêu cũng thỏa mắt, vừa tai ! . Tả Bồ Tát chuyên làm nhiệm vụ đi cứu độ chúng sinh, ai muốn làm Bồ Tát thì phải có lòng Từ, Bi. Phải “độ sinh”, tức là kiểm soát từng ý tưởng, mệnh danh là “Quán Thế Âm Bồ Tát”, chuyên lắng nghe tiếng kêu của Chúng Sinh để cứu độ, để người muốn làm Hạnh Bồ Tát phải cố gắng thực hành bằng cách ngưng đeo bám trần cảnh, ngưng tạo Nghiệp để giữ Thân Tâm được thanh tịnh.

Người kiểm soát từng ý tuởng, ngay khi nó vừa móng khởi niệm Ác đã điều phục nó, đưa nó về Phật Quốc thì làm sao nó còn có thể thúc đẩy Lục Căn tạo nghiệp Ác được ? Tả Phật như là một vị Thần Linh đầy đủ hảo tướng, rồi khi chuyển hóa được một tư tưởng thì cho là “Cúng dường một vị Phật” . Cả đời tu hành sẽ ”Cúng dường vô số ức Đức Phật” để rồi cuối cùng bản thân người Cúng Dường cũng Thành Phật làm cho không ít người hiểu lầm, tưởng như thành một vị Thần Linh, không biết rằng mục đích của Đạo Phật là để đưa con người đến kết quả cuối cùng là được Giải Thoát, hết Khổ mà thôi. Sau đó còn phải tu để có 32 Tướng Tốt của Phật mà nếu xem kỹ thì cũng chỉ là giữ Giới, làm những Hạnh như đạo đức cần có của một con người đối với ông bà, cha mẹ, thầy, bạn và mọi người chung quanh, và đền TỨ ÂN, gồm Ân Phụ Mẫu, ơn Đất Nước, Ân Phật, ân Thầy và Chúng Sinh, là những người đã có công sinh ra, giáo dục, giữ gìn và cung cấp mọi thứ cho kiếp sống của mình. Người tu xong vẫn tiếp tục cuộc sống như trước, đâu có phải là thànhThần Linh hay thành một vị Phật, Bồ Tát cao cả rồi bay về cõi trời nào ? Tất cả sự tu hành, sửa đổi cũng chỉ để trở thành một con người, nhưng hoàn hảo hơn, vì bỏ được những tính xấu là Tham Sân Si, ích kỷ, nhỏ nhen, ganh tỵ, đố kỵ, và sau đó là biết yêu thương, giúp đỡ mọi người để tất cả đều được sống an lành cho đến hết kiếp, gọi là đạt Hữu Dư Y Niết Bàn.

Tóm lại là Đạo Phật tả việc Tu Phật như lớn lao, cao quý. Người tu được hướng dẫn chê cuộc đời là ô trược, là phiền não, cho là đi tu thì sẽ “thoát phàm”, “ly trần”, “thành Thánh”. Lúc sống thì được Niết Bàn tại thế. Khi qua đời được về Đông Phương hay Tây Phương Cực Lạc. Nhưng tất cả chỉ là phương tiện để con người chịu bỏ những tính xấu, sống đạo đức, lương thiện, không tham lam, lừa gạt, chèn ép ai, mà còn yêu thương, nhường nhịn, giúp đỡ nhau. Mọi người sẽ giúp đỡ nhau, không còn làm khổ nhau để không còn bị cuộc đời vùi dập, làm cho đau khổ nữa mà thôi. Bởi cảnh trần vốn đã đẹp, cộng thêm sự cải tiến của con người nên càng tốt đẹp hơn. Vật chất ngày càng hấp dẫn hơn, nếu không được nhắc nhở, giáo hóa thì con người vì không biết rằng nếu làm Ác thì sau khi hết kiếp sẽ phải chịu đọa để trả Nghiệp, nên sẽ vì Tham Lam muốn hưởng dụng nhiều mà đấu tranh, giành giật với nhau, gây xáo trộn cho cuộc đời, đợi đến khi trả nghiệp mới ăn năn thì đã muộn.

Mọi người có thể tin hay không tin có Thượng Đế sáng tạo và cầm nắm mọi thứ. Nhưng thay vì chỉ tin rồi ca tụng Ngài, và tiếp tục sống một cách ích kỷ, nhỏ nhen, tham lam, đố kỵ, thì con người chỉ cần sống thiện lành, biết yêu thương nhau, giúp đỡ nhau thì chắc chắn không ra ngoài ý muốn của Thượng Đế, vì theo Giáo Pháp của các Tôn Giáo Thần Quyền thì tất cả đều là con của Thượng Đế, được Ngài tạo dựng, yêu thương đồng như nhau. Vì vậy, không thể nào Ngài có thể vui khi nhìn đứa giàu bóc lột đứa nghèo. Đứa mạnh bức hiếp đứa yếu. Do vậy, theo tôi, bất cứ Tôn Giáo nào, nếu vì để làm lợi ích cho con người, bằng phương tiện nào đó để hướng con người về đường Thiện. Dạy làm lành, lánh dữ. Dạy yêu thương nhau, thì đều là Tôn Giáo chân chính. Bên Thiên Chúa Giáo cũng dạy Kính Chúa, yêu người, đâu có dạy hận thù chia rẻ ? Bên Đạo Phật cũng nói “Tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành”, dạy hành Hạnh “Thường Bất Khinh Bồ Tát”, xem mọi người như “những vị Phật sẽ thành” để yêu thương và giúp đỡ nhau cho qua kiếp sống tạm. Kết quả của tình yêu thương là hiện kiếp được hạnh phúc, an vui. Cảnh trần vốn đã đẹp lại càng đẹp hơn. Con người sống trong đó mà không còn thù hận, tranh giành, bắn giết nhau, lại yêu thương, giúp đỡ nhau, chẳng phải như là sống trong cảnh Địa Đàng đó sao ? Tại sao cả đời phải sống khổ sống sở rồi đợi chết rồi mới được hưởng sự an vui ? Cũng là kiếp sống. Dài hay ngắn. Giàu hay nghèo, tùy theo Duyên Nghiệp mỗi người đã gây tạo. Nhưng không còn nước mắt rơi vì khổ đau, mà nụ cười hạnh phúc nở trên môi mọi người. Kiếp sau nếu có, lại càng tốt đẹp hơn. Đó là Phương Tiện của Đạo Phật cũng như các Tôn Giáo chân chính vậy.  -./.

Tháng 1 Năm 2026




VVM.19.01.2026.