N
hân
loại chấp nhận tôn giáo vì mọi tôn giáo đều hướng
tới sự cứu độ con người. Sự cứu độ là luôn luôn
cần thiết đối với những bộ phận của cộng đồng
gặp rủi ro, tai nạn hoặc do hoàn cảnh chi phối nên
chưa đủ điều kiện và khả năng tự lực giải quyết
những vấn đề thuộc quyền sống của bản thân
mình. Mọi lý thuyết mang tính chất định mệnh hoặc
quyết định luận đều vô bổ và vô nghĩa đối với
con người. Mọi nỗ lực của con người từ hàng chục
vạn năm nay nhằm khẳng định mình trong cuộc sống, tìm
mọi cách vươn tới địa vị làm chủ bản thân, thiên
nhiên và xã hội biểu hiện tính năng động, và ý thức
hướng thiện: như thế là rất xứng đáng với danh
hiệu CON NGƯỜI.
Mọi
lực lượng vật chất hoặc tinh thần nhằm làm cho con
người mất tin tưởng ở bản thân mình, sống buông
trôi trong đời, gặp chăng hay chớ đều đáng phê phán
và gạt bỏ. Con người là cao quý hơn mọi sinh vật trên
hành tinh, không đáng bị khinh khi, hạ nhục và hoàn toàn
có khả năng tự hoàn thiện.
Mọi
vĩ nhân từ xưa tới nay đều băn khoăn trước tình
trạng thiên nhiên và xã hội chưa xứng đáng với con
người, càng nhức nhối khôn nguôi trước tình trạng
con người bị áp bức, đày đọa, lăng nhục, sát hại.
Và đau xót nhất là khi thấy con người luôn luôn nhầm
lẫn, chưa thức nhận đầy đủ rằng: bản thân mình
có khả năng tự lập, tự cường, bản thân mình là tự
do với điều kiện là đừng nhẫn nhục cam tâm chấp
nhận thân phận nô lệ.
Thích-ca-mâu-ni
trở nên vĩ đại và được ngưỡng mộ vì Người đã
thương yêu con người, muốn cho con người tin rằng dù
xuất thân từ đẳng cấp nào - paria hay brahmane - mỗi
con người đều có Phật tính nghĩa là con người là
bình đẳng tự do và có khả năng tự giải thoát.
Bồ-đề-đạt-ma
trở nên vĩ đại và đáng tưởng nhớ vì Người có
thiện ý muốn thức tỉnh dân tộc Trung Hoa, thay thế
các thứ kinh tạng bằng phương pháp thiền định “trực
chỉ nhân tâm” để tự giải thoát mà thành Phật.
Huệ
Năng vừa giã gạo vừa ngẫm nghĩ về bản thân và giáo
lý nhà Phật, đã tìm ra phép “đốn ngộ” rất thích
hợp với quan điểm sống thực tiễn của tộc Bách
Việt phương Nam: hãy cứ sống, cứ làm việc, cứ suy
ngẫm và chúng sinh hỡi! Các người nhất định sẽ có
lúc ngộ đạo và thành Phật.
Và
Tuệ Trung đáng kính của chúng ta trở nên vĩ đai vì
Người đã mở rộng thêm biên giới nhận thức của con
người, đã táo bạo lật ngược một số mệnh đề
trong kinh bổn giáo lý nhà Phật cho phù hợp với thực
tiễn Việt Nam. Với toàn bộ tư tưởng và hoạt động
thực tiễn của mình, Người đã khẳng định một quan
điểm sống phù hợp với nhu cầu tồn tại và phát
triển của dân tộc ta ở thế kỷ XIII.
+
THIỀN là gì ư? Gốc của THIỀN là gì ư?
-
Hãy quay lại nhìn cái gốc của chính mình chứ không
thể theo cái gì khác!
(trả
lời Trần Nhân tông).
+
Ăn chay để thành Phật ư? - Phật là Phật, anh là anh.
Anh chẳng cần làm Phật, Phật chẳng cần làm anh. Văn
Thù cứ Văn Thù, giải thoát cứ giải thoát!
(trả
lời Nguyên Thánh Thiên Cảm).
+
Trì giới và nhẫn nhục ư? - Trì giới và nhẫn nhục
Chuốc
tội chẳng chuốc phúc
Muốn
biết không tội phúc
trì giới nhẫn nhục.
(Hiểu
dụ Trần Nhân Tông).
+
Tọa thiền ư?
Thanh
văn tọa thiền, ngã vô tọa,
Bồ
tát thuyết pháp, ngã thực thuyết
(Thanh văn ngồi
thiền, ta không ngồi Bồ Tát nói pháp, ta nói thực
tại)
Đối với ta:
diệc thiền
Tọa
diệc thiền
Nhất
đóa hồng lô hỏa lý liên.
(Sinh
tử nhàn nhi dĩ)
(Đi cũng thiền
Ngồi cũng
thiền
Trong lò lửa đỏ một bông sen)
Hình
ảnh “bông sen trong lửa đỏ” tượng trưng cho cái tâm
trong sạch, sáng suốt của Tuệ Trung cũng như của tất
cả những ai đạt đạo. Người ta lo đi từ Tâm đến
Bát nhã, đến Chân như, đến Phật... Tuệ Trung lo đi
từ Tâm đến Thực tại. Suốt đời, Người đã quan
tâm đến thực tại của đất nước và dân tộc.
Có
thể nói không nhầm lẫn rằng: đối với Tuệ Trung
“đi cũng thiền, ngồi cũng thiền” và đánh giặc
để cứu dân, cứu nước cũng vẫn là thiền. Đây là
truyền thống rất đẹp của dòng thiền Đại Việt
phát triển rực rỡ nhất dưới thời Lý-Trần và chảy
suốt trong trường kỳ lịch sử của dân tộc cho đến
tận hôm nay.
Vua
quan, quý tộc, quốc sư, thiền sư và phật tử thời Lý
không hề tách rời việc tu tập giáo lý với công việc
dựng nước và giữ nước. Phật tử Lý Thường Kiệt
trở thành anh hùng dân tộc sau võ công phá Tống bình
Chiêm. Hải Lượng đại thiền sư Ngô Thì Nhậm sau vụ
án Canh tý (1780) lánh lên tu ở Yên Tử nhưng khi phong trào
Tây Sơn bùng nổ, ông xuống núi đi theo Tây Sơn dẹp
thù trong giặc ngoài. Tư tưởng sáng suốt và hành động
đúng đắn của ông khiến ông xứng đáng được tôn
vinh là đệ tứ tổ thiền phái Trúc Lâm. Có lẽ chỉ
riêng Ngô Thì Nhậm và các đệ tử thuộc phái Trúc Lâm
mới hiểu rõ phương cách và mục đích tu thiền của
đệ nhất tổ Trần Nhân Tông.
“
Người
ta thấy Điều Ngự đệ nhất tổ đến ở chùa Hoa
Yên thì bảo là ngài xuất gia, ta biết rằng Đức Ngài
lúc bấy giờ biết xem thiên hạ là công; trong nước vô
sự, nhưng ở phía Bắc vẫn có nước láng giềng mạnh
mẽ, chưa được an tâm. Cái ý ấy là không tiện nói
ra, sợ người ta dao động cho nên nhắm được ngọn núi
Yên Tử là núi cao nhất, phía Đông nhìn về Quảng Yên,
phía Bắc liếc sang hai tỉnh Lạng, dựng nên ngôi chùa,
thường thường dạo chơi để xem động tĩnh, cốt để
ngừa cái mối lo nước ngòai xâm phạm. Thật là một vị
Vô Lượng Lực Đại Thế Chí Bồ Tát...” (Đặng Văn
Sở).
Quan
niệm tu thiền như Tuệ Trung và phái Trúc Lâm là luôn
luôn gắn bó lợi ích của bản thân mình với lợi ích
của cộng đồng dân tộc. Và các ngài đặt lợi ích
cộng đồng hơn lợi ích bản thân. Vấn đề giải
phóng cộng đồng dân tộc được đặt trước vấn dề
giải thoát cá nhân.
Đặc
biệt về mặt nhận thức luận, Tuệ Trung chủ trương
“vong nhị kiến”. Ngài chống lại lối nhìn chia cắt
sự vật, không thấy mối liên hệ nội tại giữa hai
mặt đối lập nằm trong một chỉnh thể, chúng vừa
mâu thuẫn lại vừa thống nhất với nhau. Có thể nói
“Phật Tâm ca” của Tuệ Trung là một bản tuyên ngôn
triết lý bao gồm những quan điểm cơ bản về bản
thể luận và nhận thức luận. Nhưng điều đáng quan
tâm là Tuệ Trung đã đi xa hơn các bậc tiền bối ở
điểm đã gắn lý luận với thực tiễn và đề xuất
một nhân sinh quan cũng rất thực tiễn, lại phơi phới
lạc quan tin tưởng. Ngài bàn về những vấn đề cơ
bản, cao sâu của đạo Phật với một tinh thần phê
phán có pha chút hài hước:
"Khi
Tâm sinh ấy tức Phật sinh Nếu Phật diệt cũng là
Tâm diệt Diệt Tâm còn Phật chuyện không đâu Diệt
Phật còn Tâm bao thuở hết Muốn biết Tâm-Phật, Tâm
diệt sinh Hẵng chờ về sau, Di Lặc quyết."
Di
Lặc (Maitroya) tức là Phật vị lai. Theo kinh nhà Phật,
hiện này ngài còn đang ngự ở cõi trời Đâu suất
(Tusita) và phải 8.108.000 năm nữa mới sinh hạ (nếu tính
theo Phật lịch thì cũng còn những 7.107.464 năm nữa ngài
mới xuất hiện). Như vậy là cùng với nhiều bài thơ
khác, Tuệ Trung muốn nhủ mọi người rằng cứ bàn
những chuyện Phật-Tâm, Sinh-Diệt, Sắc-Không, Mê-Ngộ...
làm chi cho mệt, đó là những chuyện vớ vẩn không đâu.
Hãy lo bàn chuyện trước mắt đây này. Và điều hết
sức hệ trọng là hãy lo giữ lấy cái “nếp tổ
tông”:
"Nay
lại xưa qua luống quẩn quanh
Đâu
chỉ chôn vùi nếp tổ tông Còn gọi yêu ma về lộng
hành."
Nói
theo ngôn từ hiện kim tức là phải giữ vững những
truyền thống tốt đẹp của Tổ Tiên Ông Bà, chớ
để mai một, chớ có dại dột rước các thứ yêu ma
quỷ quái vào làm loạn. Bỏ “nếp tổ tông” để
vọng ngoại rồi làm băng hoại bản sắc tốt đẹp của
dân tộc là tội rất nặng. Như thể là thông điệp
của Tuệ Trung thượng sĩ vượt qua 7 thế kỷ đến với
chúng ta trong “thời kỳ mở cửa” vẫn còn nguyên vẹn
giá trị. Đó là lời cảnh tỉnh nghiêm khắc. Và ngài
không quên cất tiếng kêu gọi và thúc giục mọi người:
"Tỉnh
táo lên!
Tỉnh
táo lên!
Giẫm
đất bốn bề chớ ngả nghiêng
Ấy
ai đạt tới niềm tin đó Trên chỏm Tỳ-Lư cất bước
lên!"
(Bài
ca Tâm-Phật).
(Tỳ-lư
= Tỳ-lư-xá-na (Vairocana) - Hán dịch là Đại Nhật. Theo
Mật tông, đó là vị Phật đầu tiên).
Trong
khi thiên hạ cắm cúi lo chuyện kỷ cương, tôn ti trật
tự ở mặt đất, hoặc mải ngước nhìn trời suy tư
về sắc không và bàn chuyện luân hồi giải thoát thì
Việt Nam mình lo bảo nhau bám chắc lấy thực tại hôm
nay, rồi từng bước vững tiến về tương lai. Không
ngừng tăng cường tinh thần “học tập đội bạn”
nhưng tuyệt đối không sao chép; không rập khuôn. Thuyền
mình mình lái, đường mình mình đi. Sao chép, rập khuôn
thường dẫn đến sai lầm hoặc thất hại đau đớn.
Hai thế kỷ trước Tuệ Trung, thiền sư Quảng Nghiêm
đời Lý cũng đã ca vang hành khúc này:
"Ly
tịch phương ngôn tịch diệt khứ
Vô
sinh sinh hậu thuyết vô sinh
Nam
nhi tự hữu xung thiên chí
Hưu
hướng Như Lai hành sự hành."
(Thoát
ly được lòng ham muốn đi vào Niết Bàn mới có thể
bàn tới chuyện đi vào Niết Bàn.
Sau
khi sinh vào cõi vô sinh mới nên nói về vô sinh
Làm
trai tự mình phải có cái chí tung trời Đừng đi theo
bước đi của Như Lai).
Một
thế kỷ sau Tuệ Trung có Hồ Quý Ly, người đầu tiên
cho in tiền giấy và đưa môn Toán vào các kỳ thi, là
người đã viết sách Minh Đạo, trong đó có đoạn chê
Trình Chu, Hàn Dũ... là lũ đạo nho chuyên nghề lấy cắp
văn chương của người xưa và mắng thẳng mấy vị đại
thần mê Tống Nho rằng: biết gì mà cứ mở miệng là
nói chuyện Hán, Đường.
Phải
công bằng mà đánh giá rằng các thiền sư thời Lý-Trần
so với các nho sĩ bị Tống Nho hóa sau này là cao hơn hẳn
một cái đầu.
Do
đó, cũng không đến nỗi khó khăn quá khi tìm xem hệ
tư tưởng nào đã giữ địa vị chủ đạo và khiến
cho Đại Việt chiến thắng cả Đại Tống và Đại
Nguyên.
Thế
nhưng từng có những người ngộ nhận và quy công cho tư
tưởng Nho giáo Trung Hoa.
-
Hoàn toàn không phải! Chính Khổng giáo Trung Hoa sau khi
vay mượn bản thể luận của Phật giáo Ấn Độ để
tạo ra hệ tư tưởng Tống Nho hoàn chỉnh đã không cứu
nổi Đại Tống. Đánh nhau thì hết thủ hòa với
Khiết Đan lại đến thua Tây Hạ, thua Kim, thua Đại
Việt và cuối cùng thì bị Mông Thát tiêu diệt và bị
thống trị liền 97 năm. Vả lại xét toàn bộ lịch sử
Trung Quốc cũng chưa bao giờ thấy Khổng Nho tạo ra cho
chính cái dân tộc đã sản sinh ra nó một sức mạnh nào
đáng kể.
Gần
đây có một số vị nghiên cứu lại quy công cho hệ tư
tưởng Phật giáo:
“
Tự
tin đấy là yếu tố quyết định chiến thắng quân
Nguyên xâm lược, mà sức mạnh ấy vốn là sức mạnh
của tinh thần Phật giáo”(1)
-
Vấn đề này đáng được thảo luận. Theo tôi hiểu,
bản thân tư tưởng cũng như tinh thần Phật giáo chưa
hề tạo ra ngay cho cái nước sản sinh ra nó là Ấn Độ
một sức mạnh đáng kể và trước sức ép của Ấn Độ
giáo, Phật giáo đã phải “di tản” sang các quốc gia
khác. Tư tưởng Phật giáo cũng chưa hề làm cho quốc
gia nào mạnh thêm. Điển hình là Trung Quốc, một nước
sùng đạo Phật vào bậc nhất. Cả tư tưởng Khổng
giáo và tư tưởng Phật giáo cũng đều không tạo ra một
sức mạnh nào đủ để cứu Trung Quốc thoát khỏi bại
trận.
- Còn tư tưởng Lão giáo thì khỏi phải bàn nhiều. Vậy thì phải chăng sức mạnh Đại Việt là bắt nguồn từ tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên” chăng?
- Thiết tưởng cũng không phải! Vì “Tam giáo đồng nguyên” xuất phát từ Trung Quốc và hai trong ba giáo này là sản phẩm nội địa Trung Quốc. Còn lại phần ngoại nhập thì họ cho giao phối với Lão giáo để lai tạo thành Thiền Trung Hoa thực đáng khâm phục về tinh thần cách mạng.
Rõ ràng nếu Ông Bà ta xưa kia cứ tiếp thu “trọn gói” từng giáo hoặc cả tam giáo làm hệ tư tưởng của mình, hẳn cũng chẳng làm nên công chuyện gì. Thua trận như Trung Hoa là cái chắc. Làm gì lại có chuyện thắng tới ba lần và có vinh dự là người đầu tiên dạy cho hoàng đế và các danh tướng của Đại Nguyên bài học vỡ lòng “Thế nào là đại bại?”.
Vậy hệ tư tưởng nào đã tạo ra sức mạnh Đại Việt thời Trần?
- Không còn nghi ngờ gì nữa, chỉ có thể là một hệ tư tưởng của Đại Việt mà thôi! Nhưng tư tưởng của Đại Việt cụ thể là tư tưởng gì? Bao gồm những thành tố nào?
Lâu nay nhiều nhà nghiên cứu có uy tín vẫn gọi nó là tư tưởng yêu nước.
- Đúng! Nhưng chưa đủ. Vì dân tộc nào lại không biết yêu nước. Riêng Việt Nam thì có thời nào mà dân mình vơi cạn tinh thần nồng nàn yêu nước?. Nhưng kỳ lạ thay! Cũng vẫn Việt Nam giàu tư tưởng và tinh thần yêu nước thế mà khi thì hùng mạnh tuyệt vời, khi lại hèn yếu cùng cực; lúc thì văn minh vượt bậc, lúc lại lạc hậu tột cùng; khi thì ngẩng cao đầu cười ngạo sảng, khi lại cúi mặt khóc ra máu. . .
Sẽ phải nghiên cứu sâu một loạt sự kiện tạo nên các nhân tố cấu thành hệ tư tưởng của Đại Việt trước khi chọn đặt cho nó một cái tên chính xác: tình thương yêu đồng bào, tình làng nghĩa xóm, ý thức kết chạ, tục thờ Mẫu, cuộc hôn phối giữa đạo Phật Ấn Độ với đạo Mẫu Việt Nam trong buổi đầu công nguyên, tinh thần lạc quan yêu đời và nhất là ý chí bất khuất, độc lập tự cường của dân tộc (mà sử Trung Hoa thường gọi là tư tưởng phản loạn, khó cai trị). . .
Các nhà nghiên cứu xưa nay đã chú ý đến cộng đồng làng xã và coi nó là một hằng số văn hóa Việt Nam. Nhưng có lẽ không nên bỏ qua một hằng số văn hóa khác: đó là trí tuệ Việt Nam.
Trí tuệ này nằm trong đầu hàng triệu người nhưng lại tập trung cao ở tầng lớp trí thức dân tộc, ở mỗi thời kết tinh ở các bậc nam nữ anh hùng hào kiệt và có một hệ số vô cùng quan trọng là bộ phận được trao quyền quản lý quốc gia - xã hội. Cái hệ số này là một biến số có biên độ dao động rất rộng, có thể cực kỳ cao thượng thông tuệ, cũng có thể là cực kỳ ngu xuẩn, sa đọa.
May mắn thay ở thế kỷ XIII, dân tộc ta đã có những cái đầu thông tuệ biết hấp thụ những tinh hoa của Tam giáo, nhất là tinh hoa của Phật giáo Ấn Độ và Thiền Trung Hoa để bổ sung cho tinh hoa dân tộc, biết tổ chức một xã hội theo pháp độ kỷ cương riêng của mình, tạo mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử: Kỷ nguyên Đại Việt.
Kỷ
nguyên Đại Việt là do lực lượng văn hiến Đại Việt,
tư tưởng văn hiến Đại Việt và sức mạnh văn hiến
Đại Việt tổ hợp thành.
Tuệ
Trung thượng sĩ và Thiền phái Trúc Lâm đã góp phần
xứng đáng của mình trong việc xây dựng lực lượng văn
hiến và tư tưởng văn hiến tạo ra một sức mạnh văn
hiến kỳ diệu hiếm có trong lịch sử nhân loại.
Tuệ
Trung thượng sĩ Trần Tung không chỉ là một nhà thiền
học, một nhà thơ, một dũng tướng, mà còn là một
triết gia, một nhà tư tưởng của Việt Nam ta.
Tuệ
Trung thượng sĩ chính là một đỉnh cao của tư tưởng
Việt Nam ở thế kỷ XIII. Đó không phải chỉ là niềm
tự hào riêng của Thiền tông Việt Nam và các phật tử
Việt Nam, đó là niềm tự hào chung của toàn thể dân
tộc Việt Nam.
Nghiên
cứu về Tuệ Trung, chúng ta hy vọng góp phần làm phong
phú thêm kho tàng văn hóa tư tưởng của nhân loại. Khảo
cứu về Tuệ Trung thượng sĩ, ta có thể rút ra được
một định lý sống đẹp có khả năng dùng làm chuẩn
mực cho mọi người tham khảo:
“
Sống
và hành động hết mình, tùy duyên theo lẽ trời, tùy
tục theo lẽ người, vì lợi ích của bản thân và của
cộng đồng dân tộc”.
Tôi
gọi đó là: ĐỊNH LÝ TUỆ TRUNG.
(Bản
tham luận tại Hội thảo khoa học “Tuệ Trung thượng sĩ
với Thiền tông Việt Nam” do Trung tâm NC Hán Nôm tổ
chức tại TPHCM).
(1)Thích Phước Sơn - Nhân khái quát Phật giáo đời Trần. Tạp chí Văn học tháng 4-1992 (tr. 26)
(2) Thế nào là Thượng Sĩ?
-Tu Thiền chỉ mới mang lại lợi ích cho riêng bản thân thì đạt cấp Hạ sĩ. Quên lợi ích bản thân để lo cứu độ chúng sinh thì đạt cấp Trung sĩ. Vừa mang lại lợi ích cho bản thân vừa cứu độ được chúng sinh thì đạt cấp Thượng sĩ.
(3) Đất nước văn hiến là đất nước tươi đẹp và có nhiều hiền tài.
VVM.06.01.2026.
