Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
        


GIÁO PHÁP CỦA ĐẠI THỪA CÓ MÂU THUẪN KHÔNG ?

  


C húng ta vẫn thường nghe nói Đạo Phật là Đạo Nhân Quả, Đạo Tự Độ. Mỗi người phải tự tu hành để cứu lấy bản thân. Đức Thích Ca cũng đã phải tự tu hành để thành Phật và Thành Phật chỉ là Thoát Khổ, không phải để trở thành Thần Linh. Vì thế Phật không có quyền năng để cứu độ cho ai. Nhưng sao đọc trong Kinh vẫn thấy tả là Phật “cứu độ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới”. Quán Thế Âm Bồ Tát luôn “tầm thinh cứu nạn”. Người tu Phật có thể “cứu độ cho bảy đời quyến thuộc”. Vậy ta nên hiểu những vấn đề này ra sao ?

Đọc lịch sử Đạo Phật thì chúng ta cũng thấy, với thời gian thì Đạo Phật đã bị nhiều người ham làm Thầy chia ra nhiều Phái, nhiều Tông. Đầu tiên từ một Tăng Đoàn duy nhất, sau khi Phật nhập diệt khoảng 100 năm thì các Trưởng Lão đã tách ra để lập TIỂU THỪA. Nhóm còn lại theo Tổ thì gọi là ĐẠI THỪA để phân biệt, để rồi cho đến thời này thì chúng ta không còn phân biệt cách thức tu hành của hai bên, vì bên nào cũng Thờ Phật, cũng cầu xin, không còn giống như ĐẠI THỪA được viết lại trong Kinh sách nữa. Cái hiểu về Phật, Bồ Tát, Quả vị, cũng rất khác.

Tôi không có nghiên cứu kỹ bên TIỂU THỪA, nhưng riêng bên ĐẠI THỪA thì chắc chắn có lối hiểu và cách thức tu hành riêng. Bằng chứng là Quả Vị bên ĐẠI THỪA là Thành Phật, nhưng bên TIỂU THỪA là A La Hán. Người Đắc Quả này do ‘Thấy các pháp là KHÔNG”.

Bên ĐẠI THỪA khi quán sát các pháp, thời gian đầu cũng thấy nó từ CÓ rồi sẽ đi về KHÔNG, theo Quy Luật Vũ Trụ : “Thành, trụ, hoại, Không”. Và cũng theo ĐẠI THỪA, mọi người hiện đang sống. Đang CÓ cái Thân. Có LỤC CĂN, tức Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân và Ý, lúc nào cũng tiếp xúc với Lục Trần là Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Vì CÓ cái Thân, nên lúc nào cũng phải Có nhà cửa để che mưa nắng, CÓ quần áo để chống lạnh, nóng. CÓ thức ăn để khỏi đói. Lúc đau bệnh thì phải CÓ thuốc men để điều trị, gai đâm, lửa đốt, va vấp thì đau thấu trời.. thì sao nói là KHÔNG ?

MẮT lúc nào cũng Nhìn thấy vạn vật. TAI lúc nào cũng nghe âm thanh. MŨI lúc nào cũng nghe mùi hương. THÂN thì tiếp xúc, va chạm. Ý thì thích hay ghét khi thấy các pháp hợp hay không hợp với mình, thì sao nói là KHÔNG ? Tu hành thì cũng phải chọn lựa pháp môn. Cuộc sống thì chìm nổi. Khi thì khổ đau vùi dập, lúc được vui vẻ, thảnh thơi. Làm ăn thì nay thịnh, mai suy. Bạn bè thì kẻ ghét, người ưa, kẻ giúp, người hại.. Hơn nữa, đã nói CÁC PHÁP LÀ KHÔNG sao lại có MÌNH TU HÀNH, CÓ QUẢ VỊ A LA HÁN để chứng ? Do đó, luận rằng Các Pháp là KHÔNG là không đúng với thực tế. Vì vậy, không thể nói cuộc đời là KHÔNG, Thân mình là KHÔNG , Lục Trần là KHÔNG được.

Lý thuyết cho rằng Các Pháp là KHÔNG, thiểu thực tế, không áp dụng được, nên bị Thiền Sư Dokuon lật tẩy trong GÓP NHẶT CÁT ĐÁ :

“Yamaoka Tesshu lúc còn nhỏ đi học Thiền, viếng hết thầy này đến thầy khác. Yamaoka đến viếng Dokuon ở Shokoku.

Muốn tỏ sở đắc của mình, Yamaoka nói :

“Tâm, Phật, loài hữu tình rốt ráo chẳng CÓ. Bổn tánh chân thật của mọi hiện tượng là cái KHÔNG. Không có cái CÓ. Không có huyền ảo. Không có Thánh. Không Có Phàm. Không có cho và không có gì để thọ nhận”.

Dokuon ngồi im lặng hút thuốc, không nói gì. Thình lình đập Yamaoka một điếu tre làm chàng thanh niên này phát khùng. Hỏi : sao thầy đánh tôi ?

Dokuan hỏi : Nếu không có gì CÓ thế thì cái giận của anh từ đâu tới ?

Nhưng dù Các Pháp đang CÓ, rồi lúc nào đó cũng sẽ đi về KHÔNG, nên gọi là TẠM CÓ. Mặc dù Tạm Có, nhưng thời gian tồn tại con người vẫn bị các Pháp hành cho điên đảo, nên phải đi tìm Giáo Pháp để tu hành, để được thoát Khổ.

Tất cả các Tôn Giáo đều cho rằng cuộc đời là bể khổ, là giả tạm, nhưng chọn cách đối phó khác nhau. Đa phần cho rằng con người là vật thọ tạo, yếu đuối, nên phải dựa vào Thượng Đế, Thần Linh để nương tựa, để được che chở, cứu vớt, bớt rủi, thêm may. Riêng Đạo Phật cho rằng con người phải là chỗ nương tựa của chính mình, vì không có Thượng Đế hay Thần Linh nào có quyền áp đặt Khổ, Vui, thọ, yểu cho con người, mà chính những hành vi của mỗi người là yếu tố quyết định cho mọi tốt, xấu, khổ, vui mà họ sẽ phải nhận lấy, gọi là gieo NHÂN nào thì gặt QUẢ đó. Chính vì vậy mà Đạo Phật giáo hóa, hướng dẫn con người cách thức để thay đổi số mạng cho bản thân, bằng cách Tu sửa, chấn chỉnh lại từ suy nghĩ cho đến hành vi để không phải nhận Quả xấu.

Muốn thay đổi thì phải chấn chỉnh. Thời Đức Thích Ca tại thế, nhiều nhóm tu hành đã Hành Khổ Hạnh. Họ hành hạ cái Thân vì thấy rằng chính nó đã Tạo Nghiệp. Ban đầu, Đức Thích Ca cũng theo Khổ Hạnh một thời gian đến nỗi thân thể suy kiệt, sắp chết. Nhưng khi Ngài hỏi họ là liệu họ biết mình đã gây ra bao nhiêu Nghiệp và hành Khổ Hạnh đến chừng nào thì hết Nghiệp thì họ không trả lời được. Sau cùng Ngài thấy rằng “Tinh thần không thể minh mẫn trong một thể xác yếu đuối” nên đã bỏ Khổ Hạnh mà Ngồi Thiền Định dưới cội cây Bồ Đề cho đến lúc Chứng Đắc.

Qua quán sát trong thời gian THIỀN ĐỊNH, Đức Thích Ca thấy rằng dù cái Thân hành động, gây ra nhiều điều tốt, xấu. Nhưng nó không tự làm, mà do sự điều động của một chỉ huy vô hình, vô ảnh ở trong Thân. Ngài đặt tên cho nó là Cái TÂM. Chính nó khởi ra những ý tưởng rồi ra lệnh cho cái Thân hành động. Cái Thân chỉ là tai sai của Cái Tâm mà thôi. Lúc Thấy được điều đó, Ngài Xã Thiền, đứng dây tuyên bố : “Ta lang thang trong vòng Luân Hồi qua bao nhiêu kiếp, tìm mãi mà không gặp Kẻ Làm Nhà. Hỡi Kẻ Làm Nhà. Ta đã gặp được ngươi rồi. Từ đây người không được xây nhà nữa. Bao nhiêu cột kèo của ngươi đã gảy vụn cả rồi. Rui mè của ngươi cũng tan nát cả rồi. Trí ta đã đạt đến Vô Thượng Niết Bàn. Ta đã hoàn toàn giải thoát”.

Lời tuyên bố này cho thấy Ngài đã tìm ra được thủ phạm chính đã xây nên ngôi nhà Sinh Tử, Luân hồi. Nó chính là Cái TÂM. Chính vì vậy, người muốn Tu Phật phải Tu SỬA ở đó, nên Tu Phật gọi là TU TÂM. Người tu Phật mà không biết, không thấy Cái Tâm để Tu, cứ chăm chăm hành hạ cái Thân thì dù gian khổ bao nhiêu cũng không thể thành công được.

Điển hình là những người tu theo Hạnh ĐẦU ĐÀ. Người hành theo Hạnh này phải Hành hạ cái Thân tối đa. Bắt nó phải đi Khất thực để ăn và chỉ ăn mỗi ngày 1 bữa. Phải mặc Y bằng vải lượm được, chắp vá lại. Phải ngụ ở cội cây, trong rừng, nhà hoang hay nghĩa địa. Phải độc cư chịu đói, chịu lạnh.. rất là gian khổ. Nhưng tất cả những điều cực khổ đó chỉ nhằm mục đích hạn chế sự thèm muốn về ĂN, MẶC, Ở, không mang lại kết quả giải thoát cho người tu hành ! Đó cũng là lý do vì sao Đạo Phật không bắt tu sĩ phải hành 13 Hạnh Đầu Đà, vì muốn chiếm thành thì phải khống chế chủ thành, không bắt trói, hành hạ những tên lính gác thành làm chi. Hơn nữa, khi vào tu hành, người tu không còn làm nô lệ cho cái Thân, nhưng cũng phải bảo vệ nó. Hành hạ cái Thân, bắt nó ngủ đường, ngủ bụi, nhà hoang hay nghĩa địa, dãi nắng, dầm sương, chẳng may nó bị rắn rết hay độc trùng cắn phải mà chết đi thì lấy gì mà tu hành ?

Phía các tôn giáo khác , dù không nói rõ, nhưng họ cũng nhận ra Thủ phạm đã tạo Nghiệp không phải là CÁI THÂN, mà là CÁI TÂM. Họ gọi đó là Linh Hồn, hoặc Tiểu Linh Quang. Có nghĩa là tất cả đều nhìn nhận ngoài Thân xác Hữu Tướng, mỗi người có phần Vô Tướng, tinh anh, bất diệt. Nếu khi còn sống làm nhiều điều tốt đẹp thì khi chết, Linh Hồn sẽ được thưởng về Cõi Trời hưởng phước. Ngược lại, khi sống tạo nhiều tội thì lúc cái Thân chết thì Linh Hồn phải đọa vào Địa Ngục, và chỉ có hai cửa : Hoặc được thưởng, hoặc chịu phạt mà thôi. Đạo Phật thì phân ra tội, phước, nặng, nhẹ nhiều tầng. Mỗi tầng là một cảnh giới riêng, nên không chỉ có Địa Ngục, Thiên Đàng, mà có đến SÁU ĐƯỜNG. Đó là ĐỊA NGỤC, NGẠ QUỶ, SÚC SINH, NHÂN, THIÊN và A TU LA. Con người sau khi bỏ cái Thân sẽ tùy theo Nghiệp mà đầu thai vào một trong Sáu Đường đó.

Theo Đạo Phật thì Cái CHÂN TÂM vốn thanh tịnh, trong sáng, nhưng khi ở trong Thân, bị bao bọc bởi lớp Vô Minh, nên nó đã MÊ LẦM, tưởng Cái Thân là CHÂN NGÃ hay MÌNH THẬT. Vì vậy, nó đã điều khiển cho cái Thân gây tội, tạo Nghiệp để cho cái Thân được hưởng những điều tốt đẹp. Nhưng Cái Thân chỉ do Tứ Đại hợp thành, có mặt ở trần gian là để Trả những Nghiệp đã gieo từ kiếp trước. Vì thế, nó chỉ tạm sống một thời gian, nhiều lắm là một trăm năm. Khi hết Nghiệp thì nó phải trả về cho Tứ Đại. CÁI CHÂN TÂM thì trường tồn, không chết theo cái Thân. Vì thế, khi cái Thân hết Nghiệp mà chết đi thì nó lại phải nhận một cái Thân khác để tiếp tục kiếp sống để Trả hay Hưởng những gì đã gieo. Thế nhưng, trong thời gian tiếp tục kiếp sống để TRẢ NGHIỆP, nếu Cái TÂM vẫn chưa hết MÊ, thì nó lại tiếp tục tạo Nghiệp, do đó, làm thành Vòng Sinh Tử, Luân Hồi triền miên không dứt. Cho đến khi nào nó hết MÊ LẦM, trở lại với cái CHÂN TÂM THANH TỊNH, ngưng tạo Nghiệp, thì lúc đó vòng Luân Hồi mới kết thúc. Chính vì vậy mà muốn được Giải Thoát thì người tu phải nhắm vào cái TÂM mà sửa chữa, mà giáo hóa, mà PHÁ MÊ cho nó, không nhắm vào cái THÂN. Không cần hành hạ cái Thân, vì không đúng đối tượng cần sửa đổi, nên không hiệu quả.

Nói về CÁI TÂM và công cuộc Độ Sinh của Bồ Tát, Đạo Phật giải thích : Đó là cả một thế giới tư tưởng, luôn xao động, khởi diệt không ngừng. Trong đó nhiều tư tưởng, tốt, xấu, đan xen, nên gọi là PHÀM THÁNH ĐỒNG CƯ. Đức Thích Ca phân ra ba tình trạng :

PHẬT : là những tư tưởng đã dược Giải Thoát, thanh tịnh, an ổn.

BỒ TÁT : Là những tư tưởng cũng đã giải thoát, nhưng không về ở Niết Bàn hay Cõi Phật, mà ở giữa, làm trung gian, để khuyên nhũ, giáo hóa những tư tưởng chưa Giải Thoát, còn động loạn, còn phiền não, vướng mắc, cho chúng chịu bỏ đi những ý tưởng xấu, để được thanh tịnh, an ổn.

CHÚNG SINH : Là những tư tưởng còn dính mắc, còn động loạn.

Khi một tư tưởng gọi là BỒ TÁT giải thích, hướng dẫn, hóa giải cho một tư tưởng còn nhiễm phàm tánh, gọi là Chúng sinh, để nó chịu bỏ đi những dính mắc, phiền não, để được Giải Thoát, được an ổn, thì gọi là “Bồ Tát cứu độ được một Chúng Sinh”, hay là “Đưa được một Chúng Sinh thành Phật” hoặc là “Cúng dường một Vị Phật”.

Trong Cõi Tâm của mỗi người luôn có những ý tưởng được gọi là Bồ Tát. Trách nhiệm của Bồ Tát là phải “Độ” cho bằng hết những ý tưởng dính mắc, phiền não, cho tất cả đều được thanh tịnh, an ổn thì Bồ Tát đó mới làm xong nhiệm vụ của mình. Cũng vì vậy mà Đức Thích Ca đặt ra các danh hiệu : QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT, là vị Bồ Tát luôn lắng nghe tiếng kêu của chúng sinh để kịp thời cứu độ. Hoặc ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT có nhiệm vụ coi sóc, cứu độ tất cả Chúng Sinh trong Cõi Tâm, gọi là vùng đất mà Ngài cai quản. Phải “Độ” cho hết tất cả chúng sinh, cho nó được Giải Thoát hay Thành Phật. Vì vậy, Ngài đã nguyện sẽ là người cuối cùng Thành Phật : “Ngày nào còn một Chúng sinh chưa được độ, con thề không ngồi vào nơi Vô Thượng Chánh Giác”.

Cuối cùng thì tất cả đều được Giải Thoát hay Thành Phật. Cõi Tâm lúc đó trở thành là một Cõi an lạc, không còn Chúng Sinh nào đau khổ, mà tất cả đều được thanh tịnh, hạnh phúc, tượng trưng cho Đức DI LẶC xuất hiện. SÁU CĂN từ trước khi tu hành được gọi là LỤC TẶC, là SÁU TÊN GIẶC, lúc nào cũng bắt tay với các pháp bên ngoài để rước phiền não vô làm rối loạn nội tâm. Sau khi được điều phục thì trở thành LỤC HỘ PHÁP, giúp cho người tu hoàn thành sứ mạng. Do vậy người xưa đã tạc pho tượng Đức Di Lặc bằng hình ảnh một người to béo ngồi cười vui vẻ với SÁU ĐỨA BÉ LEO TRÈO QUANH MÌNH tượng trưng cho người tu đã hoàn thành công việc tu sửa. LỤC CĂN đã được điều phục, trở thành SÁU ĐỨA BÉ VÔ HẠI.

Tả Phật, Nước Phật, Bồ tát, Chúng Sinh là nói về tình trạng khởi, diệt của Chúng Sinh trong CÕI TÂM của mỗi người. Khi còn là Phàm Phu thì Chúng Sinh đầy dẫy, vì lúc nào cũng khởi Tham, Sân, Si. Nhưng dần dà, với giáo hóa tích cực của Bồ Tát, thì Phật – tức là những tư tưởng đã được giải thoát – ngày càng đông hơn.

Những tư tưởng mà Bồ Tát hóa giải, hàng phục, được cho là Quyến Thuộc của Bồ Tát. Vì vậy, trong Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA, Phẩm TÙNG ĐỊA DŨNG XUẤT, ta thấy tả Bồ Tát mang theo mấy trăm ngàn quyến thuộc : “ Khi đó, PhẬt bảo các chúng Đại Bồ Tát : Thôi đi, chẳng cần các ông hộ trì Kinh này. Vì sao ? Vì cõi Ta Bà của ta tự có chúng Đại Bồ Tát số đông bằng số cát của muôn Sông Hằng. Mỗi vị Bồ Tát có Sáu muôn hàng hà sa quyến thuộc. Những người đó có thể sau khi ta diệt độ hộ trì đọc tụng rộng nói Kinh này”.

Lúc Phật nói lời đó, cõi Ta Bà trong Tam Thiên Đại Thiên cõi nước đất đều rung nứt mà ở trong đó có vô lượng nghìn muôn ức vị Đại Bồ Tát đồng thời vọt ra. Các vị đó thân đều sắc vàng, đủ Ba Mươi Hai tướng tốt cùng vô lượng ánh sáng, trước đây đều ở duới cõi Ta bà này. Cõi đó trụ giữa hư không. Các vị Bồ Tát đó nghe tiếng nói của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật nên từ dưới mà đến. Mỗi vị Bồ Tát đều là bậc đạo thủ trong đại chúng, đều đem theo Sáu Muôn hàng hà sa quyến thuộc, huống là những bị đem năm muôn, bốn muôn, ba muôn, hai muôn, một muôn hằng hà sa quyến thuộc. Huống là nhẫn đến những vị đem nghìn muôn ức na do tha quyến thuộc, một hằng hà sa, nhẫn đến một phần hằng hà sa, nhẫn đến một phần mười quyến thuộc, huống là đem năm, bốn, ba, hai, một người đệ tử. Huống lại là những vị riêng một mình ưa hạnh viễn ly, số đông vô lượng vô biên dường ấy, tính đếm thí dụ chẳng có thể biết được”.

“Người tu có thể cứu độ cho BẢY ĐỜI quyến thuộc”, vì khi tu hành mỗi người tu phải sửa từ Ý nghĩ cho đến lời nói, việc làm để THÂN, KHẨU, Ý được Tịnh 3 Nghiệp. Người tu có 7 NGHIỆP CẦN CỨU ĐỘ. Đó là 3 Nghiệp của Thân, là THAM, SÂN và SI, và 4 Nghiệp của Khẩu là Nói láo, Nói lưỡi đôi chiều., Nói để khen mình, chê người. “Độ” được hết 7 Nghiệp này, gọi là Độ được BẢY ĐỜI QUYẾN THUỘC, không phải là anh em hay bà con bên nội, ngọai trong bảy đời, vì mỗi người đều có Nghiệp riêng, khi hết kiếp không mang theo được tài sản, bà con, dòng họ, chỉ mang theo các Nghiệp đã làm, nên nó mới chính là quyến thuộc của mỗi người. Hơn nữa, nếu cứu độ cho người bên ngoài mình là Độ Tha, không còn là Tự Độ nữa.

Giáo Pháp của Đại Thừa không hề mâu thuẫn,không hề đặt ra thêm nhiều vị Phật, Bồ tát, để bắt tín đồ phải thờ, hay bịa ra Phật Di Lặc nằm lật đổ Phật Thích Ca như có nhóm nào đó tưởng tượng ! Mỗi vị Phật tượng trung cho một giai đoạn tu hành. Thích Ca là Năng Tịnh. Người năng tịnh Thân Tâm thì sẽ sớm được Giải Thoát và Phật Di Lặc tượng trưng cho người đã hoàn tất công việc tu hành, nên Kinh hay nói “Thời sau của Phật Thích Ca là Phật Di Lặc sẽ giáng thế” . Phật chỉ là kết quả Giải Thoát, đâu có phải là bá chủ võ lâm mà lật đổ để giành ngôi vị ? Đức Thích Ca còn Thọ Ký cho tất cả Chúng Sanh đều Thành Phật : “Ta là Phật đã thành. Tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành” ,đâu có ham làm Phật một mình ?

Giải Thoát hay ràng buộc đều do Tâm, nên “Tu Phật là Tu Tâm”. Phật, Bồ Tát của mỗi người sẽ cứu độ Chúng Sinh của chính họ. Vì thế, khi tu hành, người tu phải quay vào Tâm mình để cứu độ cho Chúng Sinh của mình – tức là những ý nghĩ, tư tưởng của chính mình trong đó . Tâm là gốc sinh ra vạn Pháp. Xấu, tốt, Thánh, Phàm đều từ đó mà khởi ra. Vì thế, muốn đốn cây phải đốn Gốc, không phải chặt cành hay bứt lá.

Trong mỗi chúng ta, khi chưa biết đến con đường tu hành thì lúc nào ý tưởng lúc nào cũng nhiễm THAM, SÂN, SI. Mỗi ngày chúng ta khởi ra biết bao nhiêu là ý tưởng. (Theo những nhà nghiên cứu về tư tưởng ở Úc, thì mỗi ngày mỗi người khởi ra đến 50.000 tư tưởng) .Như vậy Đức Thích Ca cho rằng một đời mỗi người khởi ra những Chúng Sanh bằng cả một thế giới chắc cũng không ngoa. Phật của mỗi người phải cứu độ cho hết cả 3 loại tư tưởng Tham, Sân và Si, nên gọi là Phật “Cứu độ cho Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới”, là những chúng sinh Tham, Sân, Si này. Không phải là Tam Thiên Đại Thiên thế giới bên ngoài. Chỉ có những hàng Nhị Thừa, Quyền Thừa, cho rằng Phật là Thần Linh, nên nghĩ rằng Phật, Bồ Tát có thể cứu độ cho bá tánh, cho thế giới bên ngoài nên mới Cầu An, Cầu Siêu, Cầu bớt rủi, thêm may, tấn tài, tấn lộc, trở thành Mê Tín, trong khi Đạo Phật dạy Nhân Quả, không có dạy Cầu Xin, vì Phật không phải là Thần Linh có quyền ban phúc, giáng họa, cầm nắm vận mạng con người như Giáo Chủ của các Tôn Giáo Khác.

Nhiều người đã phê phán Đại Thừa nặng nề trong khi chưa hiểu Giáo Pháp của Đại Thừa dạy những gì ! Có Hòa Thượng có lẽ chưa đọc hết một quyển Kinh Đại Thừa đã cho là trong đó “chỉ có số ít là lời của Phật, còn lại bao nhiêu là rác rưởi” ! Có người đọc Kinh Đại Thừa thấy người ấn tống bỏ Kệ của Bà Võ Tắc Thiên vô Kinh thì cũng cho là lỗi của Tổ Đại Thừa ! Thậm chí người Trung Quốc cướp đảo của nước ta hay có những tính xấu cũng trách những Tổ Đại Thừa Trung Quốc, mà quên rằng chính ĐẠI THỪA mới là Thừa được Đức Thích Ca Truyền Y Bát, giao nhiệm vụ phổ biến Giáo Pháp của Ngài ! .

Tới thời này rồi mà nhiều người vẫn cho rằng muốn tu hành là phải bỏ đời, phải Xuất Gia, phải ở trong Chùa rồi cả ngày chỉ tụng kinh, niệm Phật, Ngồi Thiền, không được tham gia việc thế gian, mặc kệ cuộc đời ai muốn xây dựng hay tàn phá ! Họ quên rằng TU chỉ có một nghĩa là SỬA. Sửa Cái Tâm Vô Minh, cũng gọi là VỌNG TÂM, cho nó trở lại với CHÂN TÂM THANH TỊNH để hết phiền não, được Thoát Khổ. Mục đích tu Phật chỉ có thế, không phải là để hy sinh cuộc đời phụng sự cho Phật rồi chờ chết Phật rước về Tây Phương Cực Lạc ! Chính sự hiểu lầm như thế kéo dài đã mấy ngàn năm rồi. Mỗi thời có biết bao nhiêu con người, do mến mộ Phật và Đạo Phật mà Xuất Gia tu hành rồi đứng bên lề cuộc đời, không làm tròn sứ mang của một con người đối với cha mẹ, với cuộc đời, phí đi một kiếp “Nhân Thân nan đắc”. Điều đáng nói là với số người tu hành đông đảo như thế mà bao nhiêu thời qua không thấy Chùa chiền đào tạo được một vị Giác Ngộ nào. Chỉ thấy Chùa ngày càng mở mang, tượng ngày càng cao thôi !

Tu là SỬA những dính mắc để được Giải Thoát, thì cần gì hình tướng, cần gì phải thuộc Kinh sách, phải lý giải cho thông ? Miễn là giữ GIỚI, không Sát sinh, không lấy những gì không phải của mình. Không gian dâm, không nói dối, không rượu chè làm mất nhân cách, và hành theo BÁT CHÁNH ĐẠO thì chắc chắc dù không Giải Thoát rốt ráo cũng không ra ngoài Phật Đạo. Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA viết : “Cõi nước, chỗ nào nếu có người Thọ, trì, đọc, tụng, giải nói, biên chép, y pháp tu hành”. Hoặc là chỗ có quyển Kinh, hoặc ở trong vườn, hoặc trong rừng, hoặc dưới cây, hoặc Tăng Phường, hoặc nhà bạch y, hoặc ở điện đường, hoặc núi hang đồng trống, trong đó đều nên dựng tháp cúng dường.

Vì sao ? Phải biết chỗ đó chính là Đạo Tràng. Các Đức Phật ở đây mà đặng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Các Đức Phật ở đây mà Chuyển Pháp Luân. Các Đức Phật ở đây mà nhập Niết Bàn”.

Rõ ràng Kinh viết : Ở đâu ? Mặc gì ? làm nghề gì ? cũng được Vô Thượng Chánh Đẳng chánh Giác, cũng Chuyển Pháp Luân, cũng Nhập Niết bàn được. Đâu có đòi hỏi hình tướng phải đầy đủ, phải ở trong Chùa để phí đi một lực lượng trẻ có thể góp sức, tài để xây dựng đất nước ? Không chỉ người đời mới cho rằng : “Chiếc áo không làm nên thầy tu”. Kinh NYKAYA trong Tạng Kinh Nguyên Thủy cũng dạy :

“Như Lai không cho rằng đời đạo đức có thể tượng trưng bởi :

Những Tỳ Kheo mặc y, mang bát.

Đạo sĩ lõa lồ bẩn thỉu ngụ dưới cội cây.

Khất sĩ rách rưới ăn uống khác thường.

Du già đứng như trời trồng dưới cơn nắng cháy da.

Giáo sĩ thông suốt Thánh Kinh, ăn nói hoạt bát, sành nghề bùa chú.

Người tu khổ hạnh thân hình phủ đầy cát bụi.

Kẻ trầm mình xuống sống hằng lạnh buốt trong buổi sáng.

Kẻ mang búi tóc đan trên đỉnh đầu…

Nhưng Thân Tâm nhơ bẩn thấp hèn, và Như Lai không công nhận chúng là bậc Sa Môn”.

“ Hỡi này các Tỳ kheo. Nếu chiếc áo cà sa có oai lực xóa bỏ được Tham Lam, Sân Hận, Si mê, thì cha mẹ hoặc người thân chỉ cần khoác lên đứa bé khi nó mới chào đời là toại nguyện” .

Do đó mà bên ĐẠI THỪA có đại diện là Cư Sĩ DUY MA CẬT, tuy tại gia, vẫn đầy đủ vợ, con, vẫn hùn hiệp, kinh doanh, làm ăn buôn bán mà vẫn tu hành thành công. Những người cho rằng muốn tu Phật thì phải Xuất gia, phải độc thân, không được có gia đình, phải bỏ đời là đã quên Phật dạy là người tu phải đền TỨ ÂN, trong đó có Ân phụ mẫu là phải phụng dưỡng ông bà cha mẹ. Ân Đất nước là phải đem khả năng, sức, tài ra để đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Đâu có dạy ngồi không chờ bá tánh cúng dường ?

Tự độ để tự tu, là hình thức tu hành đúng đắn nhất, vì người tu có thành công cũng chỉ bản thân họ được nhờ. Thành Phật hay giải thoát được hay không là do chuyển hóa cái TÂM. Hình tướng có hay không cũng không ảnh hưởng, trái lại hình tướng quá khác biệt với người đời còn cản trở người tu trong công việc hòa nhập với xã hội để “Đồng sự nhiếp”.

Đạo Phật mở ra là vì con người, vì muốn cho con người được an vui, hạnh phúc trong kiếp sống. Biết bản tính con người vốn tham lam, chỉ chịu bỏ những thứ đang ôm giữ nếu biết rằng sẽ có được thứ khác giá trị hơn. Vì vậy, Đức Thích Ca phải tả rất nhiều cảnh giới. Hứa hẹn Quả Vị, nói rằng tu hành thì sẽ thành Thánh, thành Phật, sẽ về được Tây Phương Cực Lạc đầy vàng bạc, châu báu…Nhưng tất cả chỉ là phương tiện để con người chịu Cải Ác, hành THIỆN, để sống đúng như một con người. Biết đền ân, đáp nghĩa. Biết kính trên, nhường dưới. Biết yêu thương nhau và không hại người và vật chung quanh, để kiếp sống hiện tại, bản thân, gia đình và chung quanh đều được an vui, hạnh phúc, không còn những chuyện tranh giành xô xát làm tổn thương lẩn nhau. Không phải là tu thành Phật rồi bay về cõi trời nào để sống. Nhiều người đã lợi dụng việc tu hành rồi gom tiền bá tánh trang hoàng cho Chùa chiền lộng lẫy, xa hoa, tốn kém, viện lẽ để tôn vinh Phật trong khi xã hội còn rất nhiều hoàn cảnh khó khăn cần giúp đỡ thay vì tập trung cho Chùa !. Theo Luật Nhân Quả, thì vay của ai một bát cơm, một chén thuốc cũng là món nợ, lúc nào đó vẫn phải trả sòng phẳng, không phải vì tu hành mà được miễn trừ. Người tu nên biết để đừng lợi dụng của Thường Trụ và làm cớ để những người khác đạo nhìn vào bôi bác Đạo Phật vậy.    -./.

Tháng 12/2025 –




VVM.26.12.2025.