D ù ở bất cứ lãnh vực nào lãnh vực nào, muốn thành công thì đều cần đến CÁI BIẾT. Từ học chữ, học nghề, nghệ thuật, kinh doanh, ứng xử, cho đến tu hành. Để phân biệt với những sự hiểu biết của thế gian, Đạo Phật gọi CÁI BIẾT để đi đến Con Đường Giải Thoát là Trí Huệ. Trí Huệ không phải sẵn có, mà phải nhờ vào Quán sát, tư duy. Do đâu mà có Trí Huệ thì Kinh VIÊN GIÁC có Kệ :
BIỆN ÂM, ÔNG NÊN BIẾT
CÁC TRÍ HUỆ THANH TỊNH
CỦA TẤT CẢ BỒ TÁT
ĐỀU DO THIỀN ĐỊNH SANH
Nhiều người cũng đã NGỒI THIỀN, nhưng do không biết Ngồi để làm gì ? Vì thể, họ chỉ Ngồi một chỗ, diệt hết tư tưởng, rồi ngồi càng lâu thì cho rằng mình đã được ĐỊNH, trong khi đó, mục đích của NGỒI THIỀN không phải chỉ để được ĐỊNH suông. Kinh VIÊN GIÁC nói rõ :
THIỀN ĐỊNH LÀ “CHỈ”, “QUÁN”
VÀ “CHỈ”, “QUÁN” SONG TU.
CHỈ tức là dừng hết mọi hoạt động của cả Thân và Tâm. Quán là quán sát, tư duy, tìm hiểu một vấn đề nào đó trong Đạo mà ta cần hiểu. Khi dấn thân vào con đường tu Phật thì không phải lúc nào cũng chỉ Nghe và Tin những gì người Thầy giảng dạy mà phải tìm hiểu để có CÁI BIẾT của riêng mình. Phật dạy “Mỗi người phải thắp đuốc lên mà đi. “Đuốc” đây chính là Trí Huệ. Người Thầy chỉ có nhiệm vụ mồi ngọn đuốc cho ta, sau đó, mỗi người phải dùng đuốc của chính mình để soi rọi mọi thứ để có sự hiểu biết cho bản thân. Muốn có đuốc thì trước hết phải tìm được vị Thầy có đuốc, tức là Trí Huệ mồi cho. Thầy không có Trí Huệ thì chỉ chồng mê cho đệ tử mà thôi.
Ta nghĩ sao nếu ta tu Phật mà không hiểu mục đích của Đạo Phật là gì ? Vì sao mình cần tu ? Tu Phật có phải để được Phật độ hay không ? Phật có quyền Độ cho ta hay không ? Nếu để tự mình Thành Phật, thì Phật là gì ? Đức Thích Ca đã làm gì để Thành Phật ? Bản thân ta có thể Thành Phật được không ? Thành Phật để làm gì ? Muốn Thành Phật phải làm gì ? Chưa giải quyết được những thắc mắc này thì mục đích đi tu của ta là gì ?
Thiếu “CHỈ”, “QUÁN” thì người tu không thể thành tựu, vì mười phương các Như Lai và hành giả ba đời đều y theo hai pháp này để thành đạo. Kệ trong Kinh VIÊN GIÁC khẳng định :
MƯỜI PHƯƠNG CÁC NHƯ LAI
VÀ HÀNH GIẢ BA ĐỜI
ĐỀU Y PHÁP MÔN NÀY
MÀ ĐẶNG THÀNH BỒ ĐỀ”.
Do vậy mà bên Đạo Phật có THIỀN MINH SÁT, tức là dùng thì giờ ngồi yên lặng để Quán sát, Tư duy một cách sáng suốt.
Có rất nhiều vấn đề trên con đường tu hành cần tìm hiểu, ngay cả trước khi Phát Tâm vào Đạo Phật. Bởi lý do gì khiến ta muốn theo Đạo Phật mà không theo những tôn giáo khác, vì lịch sử Đạo Phật có viết rõ : Thái Tử Sĩ Đạt Ta chỉ là con của một vị Vua của một nước nhỏ, tức chỉ là một con người bình thường, nhờ đi tu mới Đắc Đạo, trong khi những Giáo Chủ của các Tôn Giáo khác được cho là Thần Linh, là Thượng Đế sinh ra trời đất muôn vật và đầy quyền năng? Chúng ta Tin rằng Đạo Phật sẽ mang lại điều gì cho mình ? “Đạo” mà Đức Thích Ca “Đắc” là gì ? Ngài đã làm thế nào để Đắc ? Cái Đắc Đạo của Ngài ảnh hưởng gì đến con người, đến cuộc đời ? Việc “Đắc Đạo” đó có làm cho Đức Thích Ca trở thành Thần Linh hay không mà cho rằng Phật có quyền “Cứu độ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới” ? Mọi người đều có thể thành Phật được như Ngài như lời Ngài Thọ ký : “Ta là Phật đã thành, tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành” hay không ?
Rồi khi bắt đầu vào tu học, chúng ta cũng cần tìm hiểu về con đường tu tập cho đến chi tiết cần làm như thế nào để đạt kết quả ? Ngay chỉ cái Phát Tâm thôi mà Đạo Phật còn phân biệt thế nào mới là Chân Phát Tâm, không phải cứ Phát Tâm nào cũng đều là chân chính.
Chư vị Giác Ngộ đã nói : “Nghi lớn, ngộ lớn. Không nghi thì không ngộ”. Vì thế, khi khai Công Án thì bên Thiền Tông cũng gọi là “Phá nghi tình”. Đó là lý do mà chúng ta cần phá nghi cho chính mình, vì không phải tất cả những Pháp sư giảng Pháp cũng có Chánh Pháp, cũng chỉ dạy đúng con đường tu Phật.
Chúng ta đều biết, từ khi Đức Thích Ca nhập diệt đến nay đã gần 3.000 năm. Trong thời gian đó biết bao nhiêu Pháp Môn, bao nhiêu Pháp Sư, bao nhiêu Chùa chiền đã mở ra để giảng dạy. Ai cũng nói rằng mình đang “Hoằng Dương Chánh Pháp”. Người học làm sao biết ai đúng, ai sai ? Chánh Pháp là gì ? Ai là người có Chánh Pháp ? Chỉ thấy vị nào tu lâu năm, có đông tín đồ, thuyết pháp hấp dẫn, là theo nghe thôi, vì quan niệm là nếu họ giảng sai thì họ phải chịu trách nhiệm trước Đạo Pháp, quên rằng dù là người hướng dẫn sai thì phải chịu trách nhiệm, nhưng bản thân người học cũng phải lãnh lấy hậu quả, có khi còn tệ hơn là người chưa từng học. Chư Vị Giác Ngộ dạy là : “Phàm phu còn có Tâm quay về, mà Thinh Văn thì không”. Có nghĩa là nếu ai đó đã có một thời gian đi nghe giảng dạy và tin theo Thầy rồi, thì chưa chắc có ai nói cho họ chịu nghe để sửa đổi, vì họ vin vào thời gian đi nghe pháp, cho rằng mình đã tu một số năm, phải hiểu hơn người mới vào thời gian ngắn, dù cái hiểu mà họ học được, đôi khi chỉ là lỏm bỏm, chắp vá mỗi pháp một ít !
Một thí dụ cụ thể nhất là trường hợp của Lục Tổ Huệ Năng và các Sư trong Chùa của Ngũ Tổ. PHÁP BẢO ĐÀN KINH viết : Trong khi các Sư trong Chùa của Ngũ Tổ đã tu lâu năm, thì Lục Tổ Huệ Năng mới vô Chùa được có 8 tháng. Chưa được thế phát. Chưa được lên nhà lớn, phải ở nhà sau để chẻ củi, giả gạo. Nhờ cơ duyên sửa lại Bài Kệ của Sư Thần Tú mà Ngũ Tổ mới thấy được trình độ của Ngài để ấn chứng rồi trao Y Bát cho lên thay Tổ làm cho đám môn nhân còn lại trong Chùa không phục !
Tại sao Lục Tổ chỉ chẻ củi, giả gạo lại có được cái Thấy, Biết đó trong khi biết bao nhiêu người chẻ củi, giã gạo cả đời sao không thấy gì ? Sự khác biệt đó nằm ở chỗ nào ? Nếu chưa hiểu được rằng ngoài cái Thiền Hữu Tướng là ngồi khoanh chân, khoanh tay, mắt lim dim, không được hoạt động gì hết, thì còn Thiền Vô Tướng, Hành giả có thể hoạt động bình thường, miễn là Định được cái Tâm. Trường hợp Lục Tổ Huệ Năng cho ta thấy cái ĐỊNH không liên quan tới hoạt động của cái Thân. Chủ yếu là dừng được cái Tâm, không cho nó tự do bay nhảy, mà tập trung để giải quyết đề tài nào đó. Chưa hiểu rõ về Thiền làm sao chúng ta có thể vận dụng để Ngồi cho thành công ?
Rồi việc chọn Pháp Môn, chọn Thầy để học cũng không hề đơn giản. Đã đành giữa ĐẠI THỪA và TIỂU THỪA, thì những Tổ ĐẠI THỪA là người được Truyền Y Bát. Được giao cho quyền truyền bá Chánh Pháp. Nhưng không phải ai tu học theo ĐẠI THỪA đều có Chánh Pháp. Bằng chứng là Sư Thần Tú là Giáo Thọ trong Chùa của Ngũ Tổ, tức cũng là người tu học theo ĐẠI THỪA. Nhưng sau khi Ngũ Tổ Truyền Y bát cho Lục Tổ rồi thì Sư Thần Tú kéo lớp Sư Tăng còn lại theo mình đến Chùa Ngọc Tuyền để mở ra giảng pháp. Từ đó đào tạo biết bao nhiêu lớp tu sĩ, cho đến nay vẫn còn nối truyền. Sau này, phía Đệ tử Sư Thần Tú xưng là Tiểu Thừa, không nhìn nhận mình xuất thân từ ĐẠI THỪA nữa.
Đệ tử nhiều đời sau của Lục Tổ cũng mở ra Ngũ Phái Thiền vang danh một thời, cho đến nay cũng còn vài Phái, cũng xuất phát từ ĐẠI THỪA nhưng sau đó họ tự sáng chế ra cách tu hành, không theo lối tu học của Đại Thừa nữa. Cho đó là “Đốn ngộ” !. Ngay cả đệ tử của Đức Thích Ca thời xưa, đích thân nghe Phật giảng dạy nhưng không phải ai cũng chứng đắc. Bằng chứng là Đề Bà Đạt Đa luôn muốn hại Phật để chiếm địa vị của Phật !
Rồi thì cho rằng ta chấp nhận Thiền Chỉ Quán, nhưng làm sao biết kết quả mình tìm ra được trong lúc Thiền đã phải là Trí Huệ chưa ? Lấy gì để kiểm chứng ? May quá, trong Đạo Phật có những Bộ Chính Kinh do các Tổ để lại. Chúng ta có thể dựa theo đó để kiểm chứng xem những gì mình tìm hiểu có đúng hay chưa, bằng cách xem có phù hợp với lời Chư Tổ viết trong Kinh, gọi là “Khế Kinh” hay không ?. Nếu phù hợp, thì yên tâm tiếp tục. Nếu không thì cần xem lại, bởi vì ngoài Chư Tổ đã Chứng Đắc thì nhiều người cũng vô tu một thời gian nhưng chưa hiểu biết đến đâu, mà vì ham danh, ham lợi nên cũng mở ra giảng dạy, người mới sơ cơ làm sao phân biệt, vì họ cũng tu nhiều năm, cũng thuyết pháp thao thao ?
Tuy nhiên, khi đối chiếu với Chính Kinh thì ta sẽ thấy, Kinh nói một đàng, họ dạy một nẻo. Kinh Kim Cang viết : “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng” thì họ cất Chùa ngày một lớn, dựng tượng ngày càng cao, tổ chức những lễ hội ngày càng linh đình, màu mè sắc tướng ! Kinh dạy Đạo Phật là Đạo Nhân Quả, mọi người phải Tự Độ thì họ khuyến khích bá tánh cúng kiến để Cầu xin. Sống thì Cầu An, cầu đối xấu lấy tốt, thăng chức, thăng quan, làm ăn phát tài. Chết thì Cầu Siêu, cầu Phật rước về Tây Phương Cực Lạc. ! Như vậy thì Nhân Quả của Đạo Phật bỏ đi đâu ? Họ không biết đó là hoàn toàn trái với lời Phật dạy. Hơn nữa, nếu Cầu mà được thì mọi người còn học hành, làm ăn mà chi ? Cứ sắm sửa nhang đèn, lễ vật đến Chùa để cầu xin là được rồi. Điều mâu thuẫn là nếu Phật thật sự linh ứng, cầu gì được nấy sao Chùa chiền phải vận động bá tánh hùn tiền để cất Chùa, và cúng dường để làm gì, sao các vị không xin rồi chờ Phật ban cho ?
Có một số căn bản mà người muốn tu Phật không thể không thực hành. Đó là GIỚI-ĐỊNH-HUỆ. VĂN-TƯ-TU. Việc đầu tiên của người muốn tu Phật là phải giữ GIỚI. Giới là bờ bao, là vòng đai bảo vệ người đi trong đó không sa vào ác đạo. Có GIỚI thì mới có sức ĐỊNH. Có ĐỊNH thì mới có HUỆ được. Song song với việc giữ GIỚI là nghe Pháp hay đọc Kinh, vì đọc Kinh chính là nghe lời thuyết, nghe hướng dẫn đường lối tu hành của Chư Vị Giác Ngộ. Kinh cũng La bàn, là Bản Đồ để giúp cho người vào rừng Phật Pháp không sợ lạc lối. Không có người đi trước vẽ lại bản đồ chỉ rõ đường đi nước bước thì chúng ta đi cách nào trong khi đa số thầy hiện đời chưa biết trình độ tới đâu ? Pháp thì thuyết ít mà kêu gọi đóng góp, cúng dường để mở rộng Chùa chiền thì nhiều !
Nếu không đọc Chính Kinh chúng ta cũng không biết được Chư Vị có dặn Tứ Y. Đó là : Y nghĩa bất y Ngữ. Y Pháp bất y Nhân. Y Trí bất y Thức. Y Kinh liễu nghĩa bất y Kinh vị liễu nghĩa.
Đối chiếu lại thì ta thấy Phật Tử được dạy rất nhiều điều mâu thuẫn với lời Kinh dạy :
Kinh dạy “Cúng dường Phật” tức là Độ Sinh. Tức là đưa một hay nhiều Chúng Sinh( là ý nghĩ trong Tâm của mỗi chúng ta. Không phải là bá tánh bên ngoài) qua bờ giác hay Thành Phật, thì đa phần mọi người vẫn dùng hoa quả, nhang đèn đặt trước tượng Phật để cho là Cúng dường Phật !
Y Pháp là y theo những lời Phật dạy, không y theo hình tướng bên ngoài mà Phật đã dùng. Pháp của Phật thì đưa đến Giải Thoát, còn Y nhân tức là y theo hình tướng : Cạo tóc, đắp Y, đi đứng, ngồi, nằm giữ Tứ oai nghi. Không Y theo lời Phật dạy để tu sửa mà chỉ dựa vào hình tướng thì không thể đi đến Giải Thoát được.
Y theo Trí là nương theo sự hiểu biết rồi thực hành đưa đến Giải Thoát, không Y theo Thức, vì Thức theo Đạo Phật là những sự hiểu biết thuộc về các tướng, còn trong vòng Sinh Tử.
Y Ngữ là y theo văn tự mô tả trong Kinh.
Y Nghĩa là y theo sự hiểu biết sau khi đã phân tích rõ nghĩa lý.
.Y Kinh liễu nghĩa là Y theo Kinh khi đã rõ nghĩa, đừng y theo Kinh khi chưa hiểu, vì có thể đưa đến Nhị Thừa, mê tín. Lý do là vì ngày trước khi chữ nghĩa chưa đủ để diễn tả, Phật đã phải dùng nhiều phương tiện tả bên ngoài để nói về bên trong, vì thế, dễ gây hiểu lầm. Thí dụ Kinh tả về nhiều vị Phật, Bồ Tát, cõi Phật ở Đông Phương, Tây Phương v.v.. Nhưng tất cả chỉ là phương tiện dựng cảnh bên ngoài để tả CÕI TÂM. Đó là nơi được gọi là “Phàm Thánh đồng cư”, tức là có những tưởng đã thanh tịnh, đã hết mê lầm ở riêng một nơi được diễn tả là Cõi Phật, cõi Tây Phương, so với phần còn lại, gọi là Chúng Sinh, là những tư tưởng vẫn còn trong vòng mê lầm. Bồ tát trong Kinh tả cũng chỉ để nói về tư tưởng đã giác ngộ, làm công việc giải thích, hướng dẫn cho những tư tưởng còn xu hướng dính mắc, để nó chịu buông bỏ mà được nhẹ nhàng, thanh tịnh, gọi là “Độ” được một Chúng sinh thành Phật. Không phải Bồ Tát là những vị Thần Linh, đệ tử của Phật chuyên đi cứu độ hay phù hộ cho bá tánh.
Trước khi tu hành thì mọi người được gọi là Phàm Phu, tức là ở trong cảnh giới trần tục, chưa ý thức gì về Khổ, không có ý định muốn được Thoát Khổ. Nhưng bắt đầu vào con đường tu Phật thì phải theo một hướng mới, phải Phát Tâm, phải chấp nhận giữ một số Giới, rồi phải học, phải hiểu, phải thực hành. Một bên cho đời là Thật, những cảm xúc, những vật chất, những hưởng thụ là thật, rồi buông lung theo nhu cầu, sở thích của bản thân mà tạo Nghiệp để cuộc sống bất an, đau khổ. Sau khi Chết lại phải Trả Nghiệp. Một bên tu hành thì Quán sát để thấy rằng cuộc đời là Tam Có. Cái Thân là Giả Tạm, chỉ tồn tại một thời gian để Trả Nghiệp mà Thân trước đã gieo. Hết Duyên, hết Nghiệp là sẽ ra đi. Trong Cái Thân giả tạm này có một cái TA THẬT hay cái CHÂN TÂM, CHÂN TÁNH. Cái này trường tồn, không hư hoại theo Cái Thân. Nhưng trong thời gian còn MÊ LẦM thì nó cũng tưởng Cái Thân là Mình, nên điều khiển cho cái Thân tạo Nghiệp, vì thế, khi Cái Thân hết Nghiệp nó lại phải nhận một cái Thân khác để trả. Chư vị Giác Ngộ ví cái TÂM như con bò. Thân Nghiệp là cái xe mà con bò phải kéo. Nếu nó cứ tiếp tục tạo Nghiêp thì cái xe này hư nó lại bị tròng vô cổ một xe khác để tiếp tục kéo. Vì vậy, chỉ có tu hành, ngưng tạo Nghiệp thì mới không phải Trả Nghiệp nữa.
Muốn vậy thì phải có Trí Huệ tức là sự sáng suốt, nhìn rõ Thân, Tâm, Pháp phân rõ Chân, Vọng, rồi “Phản vọng, Quy Chân”. Người Thầy chỉ hướng dẫn phương pháp rồi mỗi người phải tự làm để có sự hiểu biết cho bản thân. Người Thầy không thể hiểu thay cho trò được. Chính vì vậy mà mỗi hành giả phải thực hành Thiền Minh Sát (Vipassana) để tự khai mở Trí Huệ cho bản thân. Nhưng quan trọng là khi thấy rồi thì thực hành theo đó, không phải chỉ cần Thấy là xong.
Trước khi có Trí Huệ thì Tâm ta như một ngôi nhà nằm trong bóng tối, không thể nhìn thấy có gì bên trong. Trí Huệ như ngọn đuốc để chúng ta soi thấy từng món. Món nào cần loại trừ thì phải xả bỏ. Món nào cần có thêm thì phải hành cho đầy đủ, gọi là LÝ, SỰ song hành, cho đến hoàn chỉnh thì gọi là LÝ SỰ VIÊN DUNG.
Tóm lại. Nếu chúng ta muốn theo con đường mà Phật đã đi, đến cùng nơi mà Phật đã đến thì như Kinh ĐẠI THỪA KIM CANG KINH LUẬN viết :
“Nếu người nào ngộ được Tự Tâm, giữ được Định Tánh, tự chủ Tâm không làm ác, thường hay tu thiện. Tu hành như Phật, hạnh nguyện như Phật.
Phật nói người ấy không bao lâu sẽ thành Phật”. Không phải chỉ cần Xuất gia rồi cả đời Tụng Kinh, Niệm Phật, ăn chay, Ngồi Thiền, thuyết
pháp cho bá tánh. Mà phải “Tu hành như Phật, Hạnh nguyện như Phật” thì mới thành Phật được. Đó là điều mà người tu hành chân chính phải
ghi nhớ nếu muốn đạt kết quả vậy. *-./.
Tháng 11/2025
