(Kiến Thức Hội Họa)
TÀI HOA MỆNH BẠC
XXI 1. Ngày
20/5/1890, Van Gogh đến Auvers-sur-Oise. Thoạt
tiên ông cư ngụ trong quán trọ của
ông Arthur Gusatve Ravoux, rồi sau đó đặt mình dưới sự
chăm sóc của bác sĩ Gachet. Thái độ thân mật cộng với
lòng hâm mộ nghệ thuật của bác sĩ đã làm cho Van Gogh
cảm nghe thoải mái. Bác sĩ Gachet tỏ ra thẩm thấu được
các bức tranh Van Gogh. Điều này dễ hiểu, bởi vì theo
bác sĩ, tác phẩm Van Gogh đồng nghĩa với thiên nhiên, một
môn học mà ông từng nghiên cứu say mê. Bác
sĩ có thói quen mỗi tuần vài lần đều mời
Van Gogh dùng cơm tối. Dù rằng bác sĩ uống rượu
rất ít nhưng luôn luôn trên bàn ăn đều có
hai loại ly, cái nhỏ để uống Bordeaux, cái lớn để
uống Burgundy. Những nghi thức ruờm rà này chỉ để tỏ
lòng tôn trọng đối với vị khách. Van
Gogh không ưa sự xa xỉ trong các bữa ăn tối
của bác sĩ. Có lần ông bảo thẳng rằng thay vì
tiếp đãi ông hoang phí như thế, bác sĩ
nên để dành tiền vào việc mua vài cái khung lộng
các bức tranh tuyệt diệu của Pissarro –lúc ấy đang dựng
lăn lóc trong xó phòng—trang trọng treo lên thì hơn!
Dù
vậy, tại Auvers, một thời kỳ
sáng tạo mãnh liệt lại mở
ra trong sự nghiệp Van Gogh. Tại đây, hơn bất cứ giai
đoạn nào từ trước, Van Gogh hiện diện như một người
nghệ sĩ tự tin và vui vẻ, tính khí đã thấy hiện rõ
sự hòa đồng xã hội.
Trong
hai tháng cuối cùng của một
định mệnh bi tráng, sức sáng tạo của nhà
nghệ sĩ đã đạt tới
độ rất cao, hơn cả thời kỳ
ở Nuenen. Chỉ trong 69 ngày mà
Van Gogh vẽ ra được hơn 80 bức sơn dầu, trung bình mỗi
ngày hơn một bức. Ông say sưa không ngớt với màu sắc,
sơn cọ, và lần lượt cho chào đời những bức tranh mang
giá trị vĩnh cữu.
Ông
vẽ độ 30 bức chân dung của bác sĩ Gachet; cô con gái
bác sĩ –Marguerite Gachet—và những người trong tỉnh Auvers-sur-Oise.
Vẽ bờ sông Oise; cánh đồng lúa mì vàng ối; đất đai
vùng Auvers trong cơn mưa. Ông vẽ ngôi giáo đường hiu quạnh;
người đàn bà nhà quê trẻ tuổi; các mái nhà; các túp
lều; cánh đồng lúa dưới bầu trời đầy mây giăng phủ;
những bước chân trên con đường làng; những nông trại;
khu rừng nhỏ; ngôi nhà của cha Pilon. v.v. Đối với các
thanh thiếu niên và những trẻ em, biểu tượng cho đời
sống lạc quan, hạnh phúc, Van Gogh thấy thích thú hơn bao
giờ.
*/
Bức “Chàng Tuổi Trẻ Với Cánh Hoa Bắp” (sơn dầu,
39x30.5cm) diễn tả một thanh niên tóc tai bờm xờm, ngậm
cánh hoa bắp ngang miệng với nụ cười rộng mở, rõ ràng
cho thấy là không một bức tự họa chân dung nào của Van
Gogh có thể đối xứng được với nét khoái hoạt của
người thanh niên trong bức tranh.
Không
có dấu hiệu gì cho thấy sự chán nản, tuyệt
vọng hay một linh cảm về cái chết bất ngờ thời
gian hai tháng cuối cùng ở Auvers. Cũng không có
bức nào dịu xuống trên cường độ màu sắc, dù rằng
trước kia ông đã phát biểu ý định trở về với cái
dĩa màu nhẹ nhàng của lối vẽ khi còn ở miền bắc.
Phẩm chất của giai đoạn cuối cùng này thì
không đều nhau. Thỉnh thoảng cây cọ
ông trở nên rối loạn, vượt ra ngoài thể
thức và đượm nhiều tính chất thất thường tùy hứng.
*/
Các nhân dáng và vật thể thỉnh thoảng nổi lên
cuồn cuộn như biển cả và di động với nét run run sền
sệt như thể tay cọ họa sĩ đang bị ảnh hưởng bởi
một cơn gió tạt qua lúc ấy –(ví dụ bức “Ngôi Nhà
Thờ Auvers”, tháng
6/1890, sơn dầu, 94x75.4cm; “Chân Dung Bác Sĩ Gachet”,
tháng 6/1890, 68x57cm).
*/
Ông tìm kiếm các chủ đề thích hợp trong những cấu trúc
thân thuộc như bức tuyệt diệu “Phong Cảnh Với Xe
Ngựa Và Xe Lửa” (6/1890, sơn dầu, 72x90cm) được vẽ
giống như bức “Cánh Đồng La Crau” trước kia (tháng
4/1889) với cái nhìn có tầm rộng của các cánh đồng nhỏ
đang gặt hái.
*/
Bức “Những Con Quạ Trên
Đồng Cỏ” (7/1890, sơn dầu, 50.5 x 100.5 cm) được vẽ
trên tấm canvas dài, mỏng, phô bày khoảng không gian
rộng lớn của vùng đồng cỏ Auvers với viễn cảnh trống
trơn không có hình ảnh con người mà nền đất và những
con quạ đen trên khung vải gợi nên điềm gở, là một
sáng kiến mới và không được kể là có liên hệ với
sự tự tử tuyệt vọng về sau của Van Gogh.
Đó
là tất cả kết quả sáng tạo mãnh liệt được phô bày
lần cuối trong cuộc đời bi tráng của nhà nghệ sĩ lớn.
Trong
một lá thư gửi đi từ Auvers, Van Gogh viết
cho Théo rằng: “Anh sẽ trả lại tiền cho em, hoặc
là trả lại em linh hồn của chính anh.”
2.
Ngày
8/6/1890, Théo cùng vợ con từ Paris đến Auvers-sur-Oise
thăm anh. Đó cũng chính là một trong những ngày hạnh phúc
hiếm hoi của Van Gogh. Auvers, một vùng nhỏ mang tính chất
êm đềm giống như Arles, nhưng cũng không xa bao nhiêu với
sự nhộn nhịp của Paris, (gợi được ý niệm gần gũi
Théo) là nơi chốn lý tưởng mà Van Gogh cảm nhận rằng
có thể xoa dịu giùm ông những nỗi đảo điên trong nội
tâm sâu kín. Ông bắt đầu nghĩ đến sự định cư tại
đây. 3.
Thời
gian này, Théo thường xuyên bị rơi vào những cơn khủng
hoảng tài chánh. Sự trở về Paris của
ông anh đã góp phần thêm vào nhiều mối lo nghĩ hiện
tại của Théo. Trong lá thư gửi một người bạn, Théo
đã viết: “Tôi làm việc cật lực suốt cả ngày dài
vậy mà vẫn không thể giữ cho vợ tôi khỏi lo lắng về
tiền bạc…” Những người điều hành công ty Boussdod
& Valadon nhận định về Théo như một người thất bại
trong thương trường. Théo bắt đầu có tư tưởng di cư
sang nước Mỹ.
Hẳn
nhiên, những ý nghĩ của em, Van Gogh cũng nhận ra.
Khi thấy Théo chậm trễ trong việc trả tiền nhà
trọ cho ông, đồng thời hủy bỏ chuyến du lịch
mùa hè sang Hòa Lan thăm gia đình Jo, Van Gogh bắt đầu
cảm biết rõ ràng cái gánh nặng tài chánh mà bấy lâu
đôi vai Théo đã đưa ra gánh đỡ. Trên những buồn bã
của em, Van Gogh tự thấy có trách nhiệm với người mà
ông yêu thương nhất, nhưng không biết làm gì để chia
xẻ ngoại trừ những lời khuyên Théo nên đưa cả gia đình
rời bỏ Paris mà về sống ở Auvers.
Thời
gian này, những lá thư ông gửi Théo chỉ toàn
mang một luận điệu: “Anh sợ
rằng chính anh đã là nguyên nhân cho mọi nỗi
đau khổ của em…” và đâm nghĩ ngợi nhiều đến
một hành động có thể giúp Théo, cũng như chính ông sẽ
được đền bù. Cái giá danh vọng phải được trả bằng
cái chết, dù chỉ là cái chết của một thân xác con người
mang tên Vincent Van Gogh. Trên một nghĩa khác, Van Gogh muốn
rằng cái chết đó cũng là cách diễn tả nỗi ao ước
được làm việc chung với em trai.
Dù
sao, cũng khó thể phủ
nhận rằng sự tự tử
của Van Gogh đã nẩy sinh từ
tư tưởng “không muốn tạo thêm gánh nặng cho em”,
bởi vì điều ấy rõ ràng đã xảy ra đúng vào thời điểm
nguy ngập tài chánh của gia đình Théo.
Đặc
biệt kể từ tháng Hai 1890, Van Gogh không bị trở bệnh
lần nào và trong cơ thể cũng không đưa ra biến chứng
nào báo hiệu cho một lần lên cơn kế tiếp, như trước
kia. XXII 1.
Khi
người ta trang trí tòa thị sảnh thành phố
để chuẩn bị mừng ngày lễ độc lập 14/7, Van Gogh vẽ
bức “Tòa Thị Sảnh Auvers Trong Ngày 14/7/1890”
(sơn dầu, 72x 93cm) với những lá cờ màu xanh da trời, trắng
và đỏ, cùng những dãy đèn lồng đầy màu sắc treo tòn
teng bởi những sợi giây dài thậm thượt. Có chút gì của
Monet và Pissarro trong ấy. Nền bức tranh được phân ra bởi
những đường cọ nhỏ thẳng hàng đều đặn. Không bức
nào trước đó của Van Gogh lại có cái vẻ cân xứng với
nhau như vậy.
Ngày
24/7/1890, lần đầu tiên được cho phép nhìn thấy bức
tranh, bác sĩ Gachet kêu lên rằng nếu bất cứ ai nhìn vào
đó, sẽ không cưỡng được cái ý muốn hát lên bài ca
Marseillaise huy hoàng để vinh danh cái hiệu lực mạnh mẽ
mà bức tranh đã tạo ra cho họ. Ông quả quyết rằng
nó phải được treo ở bảo tàng viện Louvre, hoặc hơn
nữa, trong đền Panthéon, mới xứng
đáng với giá trị của nó. Và tuyên bố, tác phẩm
của Van Gogh có địa vị rất cao so với những tác phẩm
của Camille Pissarro. Van Gogh không trả lời.
Ngày
25/7/1890 hôm sau, họa sĩ quay lại nhà ông Gachet. Trong
câu chuyện, Van Gogh thao thao đề cập đến những “cái
nợ” mà con người có bổn phận phải đáp đền cho nghệ
sĩ, đặc biệt là những nghệ sĩ lão thành như Pissarro.
Có một vẻ gì rất lạ trong cách nói của Van Gogh khi ấy
(bác sĩ về sau nhận xét). Van Gogh bày tỏ tiếp: “Dù
thế nào chăng nữa, bác sĩ cũng phải có
những cái khung cho các bức tranh của Pissarro và
luôn cả tranh Cézanne.” Trong giọng điệu họa sĩ, bác
sĩ Gachet nhận ra được nỗi nài xin của một đứa trẻ.
Ông bèn đối đáp, phân tích vài điều về những trạng
thái tình cảm của giới nghệ sĩ mà ông từng có kinh nghiệm
quen biết, nhưng cũng hứa sẽ cho mời người thợ mộc
đến đóng các tấm khung.
Ngày
tiếp đó, Van Gogh trở lại, đi thẳng vào phòng
khách nhà bác sĩ. Nơi đây, những bức tranh Pissarro vẫn
còn nằm im thiểu não trong góc như cũ. Điều này tác động
sâu xa tâm hồn nhà nghệ sĩ. Van Gogh nổi giận lẩm bẩm:
“Chỉ những kẻ hèn hạ mới cư xử như thế! Camille Pissarro,
một người anh lớn của các họa sĩ!” Đôi mắt Van
Gogh đỏ rực lên. Ông bác sĩ bé nhỏ không dám nói gì
cả. Trước mặt ông không phải một nghệ sĩ, mà là một
kẻ sẵn sàng nổi loạn. Khuôn mặt ông căng thẳng. “Bạn
ơi!”, ông lắp bắp kêu lên. Van Gogh nhìn chòng chọc
vào ông, xong cất tiếng cười khô khan và quay lưng bỏ
đi.
Ngày
27/7/1890, Van Gogh mượn khẩu súng lục của một người
quen, lấy cớ rằng muốn bắn đàn quạ, rồi đi ra cánh
đồng. Tại đây, Van Gogh tựa mình vào một thân cây, giơ
súng bắn vào mạn sườn của mình, rồi tự lê lết trở
về quán trọ. Đó là ngày Chủ nhật thứ nhì sau ngày lễ
độc lập 14/7.
Khi
không thấy Van Gogh đến dùng cơm tối, bác sĩ Gachet cho
người đi tìm và khám phá rằng Van Gogh đã bắt đầu lạc
cả ý thức vì máu ra nhiều quá. Lúc có thể nói được,
điều đầu tiên là Van Gogh hỏi về cái ống điếu của
mình. Bấy giờ bác sĩ quyết định không mổ lấy viên
đạn ra khỏi thân hình Van Gogh để tạm thời cứu vãn
mạng sống họa sĩ. Xong, viết một lá thư khẩn cho Théo.
Nhưng bởi vì Van Gogh chẳng cho biết địa chỉ thật của
Théo, và cũng bởi chính bác sĩ chẳng muốn gây ồn ào
dư luận, nên ông đành gửi đến công ty Boussod & Valadon.
Vì vậy, cho mãi đến sáng ngày hôm sau, Théo mới nhận
được hung tin. 2.
Khi
Théo đến Auvers thì Van Gogh đã được
đặt nằm yên trên giường, thái độ không tỏ
vẻ gì đau đớn. Bác sĩ Gachet xem ra rất hy
vọng. Ông không tin một con người đầy nghị lực
như Van Gogh lại có thể bị hủy hoại bởi
chỉ một vết đạn nhỏ. Riêng Théo thì hốt hoảng ra mặt
khi biết được vết thương anh mình quả thật nghiêm trọng.
Có vài mạch máu bị soi lủng. Nhưng rồi, mọi phương pháp
cứu chữa đều không còn cần thiết trước sự từ chối
dứt khoát của Van Gogh. Nhà nghệ sĩ lớn đã quyết định
từ giã trần gian.
Khi
còn lại một mình với em trai, Van Gogh đã nói lên rất
nhiều tâm sự sâu kín mà ông tin rằng ngoài Théo,
chẳng ai có thể hiểu:
“Théo,
thực sự em muốn gì? Anh sẵn sàng yêu thương tất cả
mọi người. Nhưng có phải là
điều kỳ dị không khi mà chẳng bất cứ
ai trong số anh từng gặp, lại có
thể ưa thích được anh? Hẳn em sẽ
nghĩ rằng nói như thế có vẻ
tự phụ, nhưng thật vậy, không ai
ưa anh hết. Luôn cả em, Théo, dù
rằng em đã làm tất cả mọi
điều tốt cho anh.
Nhưng
tại sao em lại tốt với anh như
vậy? Em thấy, đó là điều làm cho anh rất khó
chịu. Anh biết rõ rằng em ‘muốn’
thương yêu anh và có lẽ kể
từ ngày mai anh chết đi, em sẽ
còn thương yêu anh nhiều hơn, nhiều
đến nỗi điều ấy có thể
giết em chết. Nhưng giờ phút nào anh còn sống, anh cũng
biết tự trong nội tâm, em vẫn còn
đối kháng với anh. Em luôn luôn vui sướng nếu anh quay
lưng lại. Anh nhận thấy có
điều gì đó làm cho em bị bức rức mỗi khi có
anh hiện diện.
Nào,
đừng nên chối bỏ sự
thật. Anh không hiểu tại sao anh lại không thể
tự che giấu sắc diện và những
điều thiển cận để làm cho em phải khó
chịu bực bội…” Van
Gogh nói nhiều, nhiều lắm những lời sâu kín tận
đáy lòng như thể không bao giờ còn cơ hội bày tỏ. Đây
là giây phút tốt nhất cho sự cận kề của hai anh em. Mọi
nỗi niềm bấy lâu đè nặng theo cái mặc cảm là gánh
nặng cho em, được Van Gogh tuôn ra lần cuối với con người
ông yêu thương nhất. Cứ vậy, Van Gogh miên man bày tỏ
và Théo trang trọng lắng nghe.
Sau
cùng, bác sĩ Gachet bước vào bắt buộc Van Gogh phải
nằm im tĩnh dưỡng (đến lúc ấy, bác sĩ vẫn tin rằng
vết đạn không thể làm cho Van Gogh chết) nhưng Van Gogh
trả lời rằng sự chuyện trò với em giúp ông thấy khoẻ
hơn. Họa sĩ hỏi thăm về Jo cùng cậu nhỏ Vincent và được
biết là cả hai đã trở về Hòa Lan vài ngày trước đó.
Théo
vẫn ngồi lại trong phòng, chờ đợi và hy vọng
sự tiến triển khá hơn cho bệnh trạng Van Gogh.
Nhà nghệ sĩ bèn nhờ em trai viết cho Gauguin
ít chữ, luôn cả cho chàng họa sĩ trẻ Bernard.
Bởi vì Gauguin thích một trong những bức “Các
Cô Gái Vùng Arles”, và Bernard thích bức “Hoa Mặt
Trời” nên Van Gogh dặn dò em phải trao lại hai bức
ấy cho hai người bạn.
Để
Van Gogh có thể tĩnh dưỡng chút ít, Théo bỏ đi ra
ngoài một tiếng đồng hồ. Khi ấy trời rất tối. Théo
đứng nơi hành lang nhà trọ, lắng nghe qua các cành cây,
tiếng gió buồn rít lên những âm thanh lạnh lẽo. Có một
lần Théo ngã xuống trên sàn gạch vì quá mệt, và cứ
vậy mà quỳ trên hai gối với nỗi thương tâm tràn ngập
trái tim.
Khi
quay trở lại phòng Van Gogh, Théo thắp đèn sáng
hơn theo lời nài xin của anh. Nét sơn trên những bức tranh
mới nhất vẽ cánh đồng gần Auvers còn quá mỏng, nhưng
các đường cọ cho con đường làng xem ra dầy đặc.
“Khu Vườn Dưỡng Trí Viện”,
“Ru Con”, những bức “Hoa Mặt Trời”, cánh
đồng vùng Arles, những cô gái xứ Arles, bức chân dung Van
Gogh với cái tai bị cắt… những tác phẩm giống như
các chàng trai khoẻ mạnh trước cảnh sắc uy nghi của vũ
trụ.
Théo
dựng chúng sát tường, lùi lại, xem xét từng bức một
cách cẩn thận. Xong, cầm cây đèn, ông quỳ xuống
trên sàn nhà để có thể nhìn cho chính xác hơn. Các
tác phẩm này, Théo đã biết. Một lần đến Arles, ông
được nhìn thấy chúng tại căn nhà màu vàng, nhưng chỉ
trong vài phút. Lần khác, cũng trong căn nhà màu vàng, Théo
lại ngắm nghía chúng hàng nhiều giờ. Hình như có điều
gì bất thường đã xảy ra trên chúng? “Phải chăng
trí não mình đã hóa thành rồ dại, hay phải chăng mình
đang mơ?” Théo tự hỏi.
Thật,
không phải một, mà là tất cả mọi bức tranh
được vẽ ra trong thời kỳ ở Arles dường
như thay đổi hẳn. Chúng làm đầu óc Théo
đảo lộn, giống như người tài xế tồi đột nhiên thắng
chiếc xe lại khiến cho những hành khách ngã lăn ngay trên
chỗ của họ. Tư tưởng Théo bị chụp nhanh ngay khi tia
mắt vừa nhìn đến những màu sắc. Chúng rất mạnh
nhưng chẳng chút nào mang tính cách hung bạo.
Một
lần nữa, những bức tranh tác động trái tim Théo sâu sắc
và đem ông đến gần sát với trái tim của con người đã
sáng tạo ra chúng. Hơn bất cứ khi nào trước đó, Théo
bỗng dưng cảm nhận và hiểu được rất rõ nghệ thuật
Van Gogh. Suốt cuộc đời, tất cả những gì người anh
tài hoa điên loạn nhắm vào chỉ là như thế thôi.
Trở
lại bên anh, đôi mắt Théo sáng ngời các màu sắc phô
bày trong ấy. Hai anh em cùng nhìn vào các tác phẩm và
hút thuốc lá. Vẻ xúc động cực độ, Théo
hăng say bày tỏ:
“Vincent
ạ, Thượng Đế cho anh nhiều hơn là
đày đọa anh trên những khốn cùng mà
anh đã nhận chịu. Tuy nhiên,
ngay cả sự khốn cùng cũng biến thành niềm hạnh
phúc của anh trong nghệ thuật. Có
những lúc anh đến gần kẻ
khác mà chẳng nhận được sự
âu yếm nào từ họ, ngay cả
với em, anh cũng không tin rằng em thương yêu anh ghê
gớm. Nhưng các tác phẩm của anh, chúng chính là
những vòng tay ôm ghì anh âu yếm nhất.
Đó là ân sủng lớn mà Thượng
Đế đã dành cho anh.
Trên
con đường định mệnh riêng, có
nhiều người bước đi giữa nỗi hân hoan và
niềm đau khổ. Cũng có người cứ
thơ thẩn suốt mọi nơi trong tâm trạng trống rỗng hay
những tiếng thở dài. Những con người
ấy cuối cùng rồi cũng xẩy chân trong một xó
tối nào, không ai biết đến. Họ
càng nhỏ bé hơn trước nữa và
cứ thế mà trú ẩn trong sự
tầm thường vô dụng.
Nhưng
còn anh, qua tác phẩm, anh đã vạch
được những luống rãnh vĩnh cữu
để dẫn ra cho các thế
hệ đi sau biết bao nguồn suối mát.
Nỗi thống khổ của anh to lớn bao nhiêu thì
cái sức mạnh hoan lạc của những bước chân càng nhiều
hơn bấy nhiêu trong cuộc hành trình cô
đơn.
Trên
mảnh đất mà anh đã dầy công vạch ra những luống
rãnh ấy, anh bước đi thênh thang như
người thợ gặt gieo hạt giống tốt xuống trên cánh
đồng đã nhiều lần cày xới. Miếng bánh mì
anh ăn có lẽ là
cay đắng. Con người đối xử
với anh có lẽ tệ bạc. Và luôn cả Thượng
Đế có lẽ cũng đã đổ lên trên anh quá nhiều thử thách.
Nhưng còn tác phẩm anh, những công trình sáng tạo
bằng tim óc mà anh đã lưu lại
đàng sau, sẽ vĩnh cữu in dấu những cái gì
khổ đau anh đã trải. Tiếng
đập bên trong lồng ngực anh có
khi sẽ tắt, nhưng tiếng đập trong các bức tranh của anh
mãi mãi không bao giờ ngừng.”
Théo
ngưng nói, rời chiếc ghế bên cạnh giường Van Gogh, đến
trước các giá vẽ. Van Gogh nhìn theo sau lưng em, vẻ kinh
ngạc. Chưa từng bao giờ Théo nói với ông những lời nồng
nàn như thế. Théo, con người rất được ông thương quý,
và cũng là kẻ nhiều nhất trên đời đã thực sự hiểu
biết ông.
Đột
nhiên, Théo run rẩy rồi té xuống hẳn trên nền gạch,
hai bờ môi phát ra từng tiếng một: “Không bao giờ
nữa, anh yêu dấu ạ. Không bao giờ
chúng ta còn gần nhau nữa. Ôi lạy Chúa, xin cứu giúp!”
Ông
nằm dài trên sàn, đầu tựa sát giường anh.
Nhưng
Van Gogh không còn hiểu gì nữa những điều em đang
làm hay nói. Có một vầng mây đen đổ ập
xuống trên ông.
Khi
Théo nhổm dậy bên anh, Van Gogh hồi tỉnh chút ít, nói nhỏ:
“Sự đau khổ sẽ không bao giờ chấm dứt.”
Rồi
ông thều thào bằng tiếng Hòa Lan:
“Zo’o’ heen kan gaan”, ngụ ý rằng muốn được đưa
“về nhà”.
Đó
là những lời cuối cùng nhà nghệ sĩ vĩ
đại đã nói với em trai. Ông chết lúc 1:30 sáng ngày 29/7/1890,
cái chết mà ông chủ tâm hành
động, có người em yêu thương duy nhất hiện diện cạnh
bên.
Théo
cứ vậy, ngồi lặng bên xác anh, khuôn mặt tê
dại, có ý định chờ sáng rồi mới đi
tìm bác sĩ. Nhưng màu sắc trên các bức tranh không đợi
cho đến khi bình minh tới. Màu xanh da trời tươi mát, màu
trắng tinh khiết, màu đỏ huy hoàng, màu vàng rực rỡ,
màu gạch gay gắt, màu lúa non e ấp… rồi màu xanh lá cây
ấm áp, màu hồng mơn mởn, màu cam chói lọi, màu son tươi
thắm, màu xám dịu dàng, màu đen tuyệt vọng, màu tím buồn
bã… tất cả như rộ lên từ những bức tranh, đồng cất
cao bài ca tiễn biệt linh hồn con người đã cấu tạo nên
chúng.
Căn
phòng nhỏ trong quán trọ của ông Arthur Gustave
Ravoux ngời sáng khúc hoan ca màu sắc. Nơi đây, nhà
nghệ sĩ vĩ đại đã ghi dấu quãng đời mãnh
liệt cuối cùng, và cũng nơi đây, ông đã ra đi, để lại
vài trong số rất nhiều đứa con tinh thần làm cho tên tuổi
ông thiên thu còn sống mãi với thế gian. Ngày
kế tiếp, 30/7/1890, lễ an táng Van Gogh được cử
hành tại Auvers-sur-Oise.
Emile
Bernard có mặt tại đám tang, đã viết kể
cho nhà phê bình G. Albert Aurier hay như sau:
“Ngày
thứ Tư 30/7/1890, tôi đến Auvers khoảng 10 giờ sáng. Théo,
em trai Van Gogh đã có mặt ở
đó với bác sĩ Gachet, luôn cả
‘père’ Tanguy nữa. Quan tài
đã đóng nắp. Tôi đến quá
trễ nên không được nhìn mặt lần cuối con người mà
ba năm trước đây đã giã biệt tôi với tràn trề
hy vọng.
Tất
cả họa phẩm sau cùng của Van Gogh
được treo trên các bức tường, chung quanh quan tài; màu
sắc rực rỡ tỏa ra như
một vùng hào quang bao lấy con người
đã đem cho chúng sự sống. Một tấm vải toàn trắng phủ
kín linh cữu, trên đặt rất nhiều hoa hướng dương mà
Van Gogh vô cùng yêu thích. Rất
đông quan khách tham dự đám tang,
đa số là nghệ sĩ, phần còn lại là
láng giềng của Van Gogh, những người gặp
ông vỏn vẹn một hay hai lần nhưng rất yêu mến
ông vì sự tử tế tốt bụng của
ông.
Lúc
ba giờ chiều, quan tài
được khiêng ra xe tang bởi những người bạn. Một vài
kẻ có mặt đã khóc. Théo Van Gogh, người hết
lòng yêu thương tôn kính và
giúp đỡ anh trong những phấn
đấu nghệ thuật cũng như sự
độc lập của Hội Họa, không ngừng thổn thức và
rồi gục xuống bên huyệt mộ.
Ngày
hôm ấy, rõ ràng là
Van Gogh đã được dành cho quá
nhiều cảm mến đến không ai có
thể nghĩ rằng trong
đời ông chưa từng được hạnh phúc. Bác sĩ
Gachet cố gắng trình bày những
đặc điểm của Van Gogh, nhưng chính bác sĩ
cũng đang khóc nức nở, thành ra chỉ
có thể nói lắp bắp những lời vĩnh biệt không rõ
ràng với người quá cố. Bác sĩ
nhắc lại mục đích cao cả
cùng các thành quả trong đời Van Gogh.
Ông cũng nói đến cảm tình rất lớn dành cho người bạn
cũ dù rằng chỉ mới gặp nhau thời gian ngắn.
‘Van Gogh là người thành thật và
là một nghệ sĩ vĩ đại’, bác sĩ
nói. ‘Cuộc đời ông chỉ bị chiếm hữu bởi
hai điều: lòng nhân ái và nghệ thuật. Nghệ
thuật có ý nghĩa đối với Van Gogh hơn tất cả mọi thứ
trên đời và tên tuổi ông sẽ sống mãi vì nó.’
Sau
đó, chúng tôi từ giã
nhau.”
Dịp
này, Bernard cũng ghi lại một cái nhìn riêng ông vào năm
1893 qua bức tranh “Đám Tang Vincent Van Gogh Tại Auvers”
(sơn dầu, 73x93cm). Trong số tất cả những nghệ sĩ Van
Gogh từng giao thiệp, Bernard là người thân nhất với ông.
XXIII Tháng
8–9/1890, được Bernard giúp sức, Théo đã tổ chức
một cuộc triển lãm các tác phẩm Van Gogh trong căn nhà
của Théo ở khu Montmartre, Paris. Đúng như sự dự đoán
của họa sĩ trước khi tự sát, danh tiếng ông bắt đầu
nổi lên. Tuy nhiên, người mà Van Gogh nhắm vào để trao
tặng cho thì lại không bao giờ thừa hưởng được cái
kết quả đem lại từ sự tự sát bi thương ấy: Hai tháng
sau cái chết của anh, Théo bắt đầu bị lâm vào chứng
cuồng trí và không thể nào hồi phục. Ông được đưa
về Hòa Lan. “Sự đau đớn theo anh Vincent sẽ còn lưu
lại mãi trong tâm hồn con”, Théo đã nói với mẹ như
thế.
Sáu
tháng, sau khi Van Gogh qua đời, ngày 25/1/1891
ở Utrecht, Hòa Lan, đến lượt Théo gục ngã. Quan tài
Théo được đưa đến Auvers-sur-Oise, chôn cạnh nấm mồ
Van Gogh trong nghĩa trang của ngôi nhà thờ nhỏ ở Auvers.
Sự
liên hệ đặc biệt khác thường giữa hai anh em Vincent
và Théodoré Van Gogh đã được nhìn rõ
khi còn sống, nay lại càng chứng minh mật thiết hơn trong
giấc ngủ ngàn thu.
Kết .
(5/1890
– 6/1890)
(Auvers-sur-Oise)
(7/1890,
Auvers-sur-Oise)
(8/1890
– 1/1891)
[]
“La vie
de Van Gogh”, (H. Perruchot) (Editions Hachette, 1955).
“Vincent
van Gogh”. (Clarke & Sherwell) (Phaidon Press Edition. 1941)
“Van Gogh,
a self-Portrait.” (W.H. Auden.) (E.P. Dutton & Co., Inc. New
York. 1963)
“Vincent
van Gogh”. (J.Meier-Graefe) (Editions Albin Michel, 1964).
“Qui
était Van Gogh?” J. Lemayrie. (Skira Genève, 1968)
[]
VVM.08.12.2025.
