N
ói
đến thân thể con người gồm có đầu mình và tay chân
là định nghĩa phổ thông, là khoa học thường thức cho
một định nghĩa đơn giản hóa mỗi khi nói đến con
người. Nhưng ở đây chúng ta nhìn thân thể của nghệ
thuật (Body of Art) là cái vòng quan hệ thân thiết, là
toàn thể của cuộc đời (the cycle of bodily life); được
tạo dựng dưới hình ảnh của thể xác. Với nghệ thuật
thường nêu ra những vấn đề liên can đến con người
nhất là phái nữ và tại sao kéo dài và tồn lưu qua mấy
thể kỷ, đặc biệt thân thể con người trở nên tuyệt
diệu được vẽ đi, vẽ lại trong một thứ nghệ thuật
đương đại? Bởi; trong đó người ta tìm thấy ở mỗi
tác phẩm có một sự nhận thức sâu xa về thẩm mỹ của
vẻ đẹp; năng lực, chứng cứ và những chủ đề khác
nhau đó là thể thức mà đôi khi lạc hướng trước một
hiện hữu cụ thể trong vòng quay cuộc đời, có từ
những nguồn mạch trong đó là những gì chúng ta tự tìm
thấy ở nơi ta sinh ra, hay coi đây là truy điệu cái chết
của thân xác xuyên qua vết tích tìm thấy ở nơi nó
–follows the corporeal life cycle, from the vessel in which we find
ourselves at birth; to requiem for the body’s mortality through its
traces.
Trong
mỗi mảng hình; thể xác của người nghệ sĩ đã khắc
ghi vào trong hình ảnh, cả hai được coi như chủ đề và
của tác giả. Bởi; như thế này: văn tức là người,
họa tức là người; nó thấy rõ hơn cả văn, vì nó bộc
lộ như nói ra từ ý tưởng, nó chứa trong đó một đặc
chất dục xác hay lời phân trần của chính mình. Ngữ
cảnh được thể hiện của người nghệ sĩ là ghi nhận,
đó là hai bề mặt của người sản sinh ra hình ảnh và
là người đứng xem những gì phản ảnh trong tác phẩm
–The artist’s literal embodiment is a reminder that both he
producer of an image and its viewer reflect the work; trong cảm
thức đó là tạo nên ý nghĩa và trả lời nguồn cơn, tự
sự trên một tri nhận cá thể được coi như một trải
nghiệm xuyên qua sự khác biệt trên thân thể của chúng
ta; hội họa có tiếng nói của nó qua ‘lời nói’, qua
tâm hồn bằng màu sắc và dáng điệu, một tỏ rõ vừa
sâu sắc, vừa tài tình; nghĩa là không che đậy hay ẩn ý
mà huỵch toẹt một sự thật chân chính, không mị, không
dối, không đạo đức (giả); khác với ngữ ngôn văn
chương. Màu sắc và đường nét là thứ văn chương trung
thực và chỉ định sự hóa trị của nó (chemotherapy) qua
ngữ ngôn của hôi họa. Rất nhiều hình ảnh nói tới
con người, đó là di vật thể tồn lưu nhân thế có từ
đời xưa, từ thời Phục Hưng (Renaissance); coi đó như là
tham dự vào lễ nghi, vào phép tắc thuộc về tôn giáo,
xã hội và áp dụng vào những gì tín ngưỡng, mộ đạo
như một ý nghĩa thuần chất của thế giới như nhiên và
có lẽ đó là quán tưởng vào tánh khí của con người.
Năng lực biểu hiện nhục giới nằm trong tinh thần có ý
nghĩa của thực thể chất liệu và di động chuyển thể
(materiality and portability) là vòng quay trong qui trình hội
họa dù dưới hình thức nào, trường phái nào, thời kỳ
cổ lỗ sĩ cho tới thời kỳ đương đại. Trường hợp
thứ nhất, chủ nghĩa hiện thực là xử lý vào công việc
như thể đưa ra một ý tưởng. Điểm thứ hai trừu tượng
nằm trong thể thức của cường điệu là tương đương
của nhận thức. Sự cớ này ở trong lãnh vực của hiểu
biết và thừa nhận gần giống như khuôn đúc lại
–within the realm of comprehension and recognition as likenesses.
Cho nên chi về mặt nghệ thuật điêu khắc là tượng
hình cho một hình ảnh ‘sống thực’ như thật
‘likenesses’ là ở chỗ đó; mà cả hai đòi hỏi ở
nhận thức hiện thực. Với giống cái là ý niệm vững
chắc, tình tiết và phong phú, nhưng với giống đực là
thể lực của anh hùng dũng mãnh và cứng ngắc tỉ mỉ
hon. Vì vậy; thể xác con người được diễn tả bằng
một nôi lực tràn đầy, nó không còn là hình ảnh nói
lên khiêu dâm hay phơi mở dục xác, mà phơi mở toàn diện
chân tướng thuộc nghệ thuật. Người xem tranh không khỏi
ngạc nhiên cái thực của nó, mà thừa nhận cái thực
của nghệ thuật đã làm nên. Còn như cho xấu xí, trắng
trợn hay là một sự dung nạp quá trớn thời tất quan
niệm đó đã giết chết nghệ thuật hội họa. Giọng
điệu và tư duy đó là ngoài vòng cương tỏa của nghệ
thuật. Chính cái nhìn đó là thoái trào không nhận ra cái
‘toà thiên nhiên’ (Nguyễn Du) đã vẽ ra trong văn chương
mà còn chối bỏ luôn cả hóa công đã sáng tạo và thiết
kế một tuyệt tác nghệ thuật vĩ đại cho con người.
Hay tại sự che đậy của Adam và Eve mà ảnh hưởng đôi
phần tâm tư ở chính mình? Hay tại cho xấu hổ mà che
cái đẹp trời cho? Che thuộc về trần tục còn nghệ
thuật không che mà mở để thấy cái thẩm mỹ của thiên
tạo...
Giống
tính là việc đầu tiên chúng ta nói về sự trần truồng
và là một tác động không thể quên được, đưa dẫn
từ của riêng ở chính ta, không chừng chúng ta rút tiả
ra được để thừa nhận nó là vậy hoặc cho là khác
lạ, không chừng những thứ trên người lại lôi cuốn
hoặc coi đó là thể chất không thể chuyển đổi
(physically unmoved). Đấy là hiện tượng dung thông đưa
tới một âm vang nhận thức với ý hướng phát triển để
tìm thấy gì về khoa học não thức (neuroscientific). Bề
ngoài của thể xác là một bày tỏ, phơi mở, quyến rũ
qua dáng điệu hay cử chỉ trên thân thể là thứ ngôn
ngữ của thể xác (body language), là ‘đặc thù’, là
kinh nghiệm để chinh phục, nói theo lối cổ điển là vũ
khí giết người hay hoa hồng phải có gai là trạng thái
xúc cảm xuyên qua tiến trình của thần kinh não bộ. Khi
thấy người đẹp cười chính là lúc não thức nhận
được tín hiệu của sự đồng tình mà trong đó đã
chứa những sắc tố gợi cảm từ tri giác nhận thức
(perception) đem đến tác động (reaction) cái đó gọi là
trạng huống nhạy cảm (emotional state). Cho nên chi thân
thể con người ngoài nhiệm vụ xử dụng hợp lý cho đời
sống, ngoài ra còn có một vai trò khác là ‘giao thoa
/sexual intercourse’ để gìn giữ sự sống còn của con
người. Muốn sống còn là có đòi hỏi giữa đôi bên.
Nói chung nó thuộc về nhạy cảm truyền nhiễm (emotional
contagion) và cứ thế mà không thể chận đứng hay ngăn
ngừa mà coi như chuyện phải là, sự hợp thông đó là
một tỏ bày khác giữa hạnh phúc và đau đớn, bởi;
trong nước mắt nó cũng có sự đau đớn của nó, nghĩa
là trong dục giới nó chứa đủ hỉ nộ ái ố mới làm
nên tình yêu dành cho con người và trong thể chất đó nó
cũng có nỗi vui buồn của nó. Từ chỗ đó suy ra thể
xác con người là cái cần có cho những ‘dịch vụ’
khác chớ không ngẫu nhiên mà có.
Người
họa sĩ đối diện trước một biểu trưng bi thảm (a
tragic emblem) để hòa nhập vào tranh khi não thức khống
chế. Nghệ nhân đem cả hồn và xác để tạo nên hình
ảnh sống thực thời tác phẩm mới sống thực như ý
tưởng đã gợi ra. Ngoài cái đẹp con người còn có cái
đẹp của nghệ thuật mới gọi là mỹ thuật.
(Olympia
1865 by Édouard Manet (1832-1883) Oil on canvass 130X190cm Musée
d’Orsay Paris)
Một
trường hợp khác khi nói đến ‘biểu trưng bi thảm’
cho ta thấy cái nhìn của người họa sĩ đang đối diện
trước một thể xác sống thực là du nhập vào trí tuệ
một hình ảnh trong sáng và thẩm mỹ của xác và hồn.
Như hoàn cảnh của Pierre Bonnard ông đã sáng tạo vô số
hình ảnh của vợ là Marthe; người thường tắm hằng
ngày có thể là biểu hiệu cho phương pháp trị liệu của
người bệnh lao mà vợ ông đã mắc phải hoặc có thể
là biểu thị về thói quen ưa làm sạch. Đó là lý do mà
Bonnard theo dõi tỉ mỉ, gợi ý và gần gũi để có chủ
đề cho tác phẩm; hầu hết tranh khỏa thân về đàn bà
Bonnard thường lấy vợ làm người mẫu, tuy nhiên; vẽ
lõa thể về tắm là thuộc hội họa cổ điển như bao
người đã vẽ; nhưng Bonnard vẽ trong trạng thái của
một tâm hồn lơ lững, phóng đảng để đi vào vô tận.
Lột tả cái sự trầm mình trong nước ở cái thế bềnh
bồng, chơi vơi. Thể xác của Marthe nằm trong bồn tắm
tuồng như tan biến với nước dưới mắt người xem.Tợ
hồ như không còn thấy vợ mình trong lúc tắm mà thấy
đó là hình ảnh trung thực trong trí tưởng mà thôi. Vẽ
không ngoài mục đích làm sống lại như thật đang sống
cùng một lúc; mà là nội lực phát tiết trí tuệ và
chất liệu để làm nên tác phẩm có trong, có ngoài nơi
con người.
(Nude
in Bathtub 1946 by Pierre Bonnard (1867-1947). Oil on canvas
122.5X150.5cm Museum of Art Pittsburgh. Pennsylvania. USA)
Vậy
thì thân thể của nghệ thuật là nói tới cái đẹp thân
thể (the body beautiful) là điều thường nói đến cái đẹp
chủ quan và một hiện hữu nguyên trạng trong con mắt của
người nhìn ngắm –It is often said that beauty is subjective
and exists purely in the eye of the beholder. Để xác định về
cái đẹp coi như thể hiện bởi nghệ thuật qua từng
thời kỳ của xã hội, từ mọi kỷ nguyên cho tới thời
hậu chiến, tất cả là chứng tích lịch sử, vẽ lên từ
những dữ kiện trong đó có cả con người là nhân vật
chính để thực hiện hoài bảo của người nghệ sĩ và
là đề tài chính khai thác không ngừng nghỉ, bởi; ngoài
chân dung người họa sĩ trở thành người khám phá từ
bên ngoài đến bên trong của con người, dẫu đó là một
nỗ lực không ngừng như tranh khoả thân của Willem de
Kooning với họa phẩn Đàn bà I / Woman I (1950) phần lớn
trong tác phẩm là bỏ cả thời gian dài trước khi đạt
tới ở một hòa hợp hoàn toàn bởi bộc phát khơi dậy
từ tâm hồn của người nghệ sĩ. Nó thoát tục để đi
tới ‘cõi ngoài / beyond’ ở chính nó; sự đó nhà Phật
gọi là đi tới chân-không hay còn gọi tánh-không nghĩa
là không còn thấy ta trong hiện thể thực tại mà chỉ
thấy ở đó một tổng thể nhất quán, phá chấp trước
mọi tình huống để hướng tới một thứ nghệ thuật
chân chính lẫn xác và hồn. Xem tranh không còn là vai trò
khách quan dự cuộc mà hòa nhập để có nhận thức sâu
sắc ngay cả tranh biểu thực trừu tượng (abstract
expressionist) như J. Pollock và W. Kooning. Cho dẫu vẽ dưới
hình thức nào người họa sĩ đã dốc hết sức mình để
thực hiện cho một ý đồ vốn đã tiềm tàng để thành
hình, sự đó gọi là ‘lực / power’. Nghĩa là người
nghệ sĩ phải xuyên qua toàn diện lịch sử mới tìm thấy
đích thực năng lực của con người. Lực / Power là hình
thức hết sức đơn giản. Lực về cơ thể, về chức
năng sinh lý (physiology), về sức mạnh cơ thể (physical
strength). Không thuần chất nói đến sinh lực nơi con
người mà những gì ở đây người nghệ sĩ phải lột
bỏ tất cả để tìm thấy ở đó những trộn lẫn phức
tạp khác của cơ thể là cả một tiết tấu để hòa
nhập vào những gì hiện ra trên cơ thể con người một
cách đích thực. Lực là một tương quan vào nhau, không
những chỉ là hiện hữu tồn lưu trong tính động lực
giữa thực thể ở chỗ chiếm cứ. Người nghệ sĩ phải
thấm thấu một cách khéo léo (subtle) và xác minh cụ thể
(obvious) là cách thức giới thiệu ở đây một sự chia
ra (dichotomy) như định rõ những gì trên thân thể con
người. Người họa sĩ có con mắt quan sát để tìm thấy
ở đó những đường nét mà trước đây chưa tìm thấy
nhất là vẽ khỏa thân dù phát họa như P.Picasso hay
H.Matisse vẫn để lộ được cái thâm sâu cùng cốc trên
thân thể (phụ nữ). Ấy là điều mà người nghệ sĩ
phải chú trọng để tạo được cái lực thu hút trong
mắt người vẽ và người xem. Ấy là bí quyết để
thành hình trong nghệ thuật hội họa xưa nay.
Năng
lực có thể coi là biểu thị rõ ràng nhất ở tự
nó-That power may manifest itself in the freedom to offer control to
someone elfe. Trong tự do là đưa tới sự khống chế (quyền
hạn) đến người khác; là hình thức buộc phải của
người nghệ sĩ đứng trước một hiện hữu thực thể.
Nói rộng ra; đòi hỏi của người họa sĩ với người
mẫu là đối tượng độc quyền để được phơi mở
toàn diện, họ được coi như nghệ sĩ trình diễn (as
performance artists). Tuy nhiên; hội họa là một diễn cảm,
một khả năng vượt thoát trên thân thể con người là
trọng tâm cho một chủ đề hay đề tài đưa ra của
nghệt thuật từ khi mới bắt đầu.
(Woman
I .1952 by Willem De Kooning (1904-1997). Oil on canvas 192.7X
1473.3. Museum of Mordern Art. New York. USA)
Từ
chỗ đó cho ta thấy thân thể con người (the human body)
đều được trải lên bố (canvas) và xuyên qua trí tuệ
của người nghệ sĩ như một định nghĩa về con người.
Có một sự liên đới mật thiết giữa hồn và xác
thường bộc lộ ra ở đó cho một cảm nhận sâu lắng
có từ sự choáng váng, sửng sốt và vui thích trong cái
thế đứng của người đàn bà dưới những vóc dáng
khác nhau, nó để lộ rõ từ a đến z, từ những khe hở
như đã tìm thấy. Nghệ thuật hội họa là tả chân một
cách sống thực hơn hẳn cả văn chương tả chân, nghĩa
là không vị nể để tránh những khe hở trên con người
mà diễn tả con người dưới lăng kính khác nhau nhưng
tựu chung vẫn duy trì một nét (phơi mở) như những họa
phẩm của Picasso mà ông đã viết bằng lời văn
(literally) hoặc dưới dạng thức ‘ẩn ngữ’ khác
(metaphorically). Hình ảnh của chất liệu cơ thể là nói
lên những gì thuộc thế giới bên trong của chúng ta
–images of the material body tell the story of our inner world, và;
đây là hình ảnh gợi lên một nội tạng là trả lời
cảm xúc của họ; thời tất sự đó cho chúng ta một cảm
thông hơn là phê phán. Tuy nhiên; vẫn có những che đậy;
nói theo lối bình dân học vụ là màng che, là giới hạn
của con người (the body’s limits), theo khoa học là hữu
cơ (organ) còn nói theo văn chương của Nguyễn Du ‘chữ
trinh còn một chút này’ thì đó là một thứ nghệ thuật
phơi mở, là sự ăn ngay nói thật. Nghệ thuật hội họa
vẽ được cái trần trụi đó nhưng vẽ cho được cái
màng một cách hiện thực quả là khó. Tuồng như nó là
hình ảnh của trừu tượng, bởi; thân thể con người
được bao che một thứ vải mỏng đó là da, một nơi che
đậy, đóng kín (container) và biên giới ngăn cách giữa
thế giới xung quanh và tất cả phủ khắp để đậy lại;
là ‘tế bào’ xác định của nguyên vẹn. Trong khi đó
người nghệ sĩ khám phá tận cùng lấy từ cơ bản nơi
con người sinh ra nó và chết về nó; tất thảy là một
kết nối, liên hiệp vào nhau là vượt biên của thời
gian. Cuối tk. hai mươi (20) những nghệ sĩ bắt đầu xử
dụng những hình ảnh về cơ thể riêng cho mình không
những chỉ chủ thể vấn đề nhưng còn là việc trung
hòa màu sắc (medium) để thấy được hạn hữu nơi con
người trong hai bề mặt của nó : nét đẹp cơ thể
(physical beauty) tức sinh lý và những gì thuộc về tâm lý
(psychological) mà trong đó có cả đau đớn, chịu đựng
và hạnh phúc là một cấu tạo đưa vào hồn và xác của
con người. Trở lại với P. Picasso qua họa phẩm lừng
danh ‘Les Demoiselles D’Avignon’ với năm cô gái điếm,
mặt dày mày dạng trong dáng trần truồng, đang đối diện
với chúng ta ngực, đùi, háng, mông, trong từng khúc gãy,
lồi, méo mó không còn một chổ nào để che. Picasso đã
diễn tả tận cùng cái thân thể người ta là cái cần
có để ứng xử vào nơi khuôn mặt của gái điếm; vừa
đòi hỏi, vừa nhu cầu trong một hợp nhất qua gương mặt
Phi châu với thể cu-bíc (Cubism).
(Les
Demoiselles D’Avignon 1907. P.Picasso (1881-1973) Oil on canvas
243.9 X 233.7 cm. Museum of Modern Art . New York. USA).
Điều
đó cho thấy dục tính (sexual) và giống tính (gender) là
cơ bản cho khía cạnh nghệ thuật là những gì thuộc về
con người và đây cũng là đề tài gần như thường đem
ra để lý luận hay vẽ lên do từ sự khám phá của nghệ
nhân. Với sự khác biệt bề ngoài của cơ quan sinh dục
giữa đực và cái. Hai giống ấy là thuộc về sinh vật
của bản năng tính dục (sexuality). Hình ảnh nam nữ có
tính tượng trưng trong hiện nay không còn là mới mẻ. Có
thể coi đó là việc thông thường, có thể coi đó là
một khám phá khao khát không ngừng nghỉ, bởi trong đó
có một sự đòi hỏi (sinh lý) của cả hai bên. Tính dục
được vẽ lên là hành động của giao thoa hay giao hợp
là chủ đề hàng đầu trong tâm tư người họa sĩ, dẫu
không thuần chất về nó đi nữa. Thí dụ: họa sĩ chuyên
vẽ hoa chưa hẳn phải vẽ cái đẹp thiên nhiên. Như
trường hợp của nữ danh họa Georgia O’keeffe (1887-1986)
trong họa phẩm ‘Grey lines White Black, Blue and Yellow’
1923. Có thể gợi ra toàn diện âm hộ của đàn bà dưới
cành hoa huệ nở và được coi như một tiết lộ cái sâu
kín ‘trầm mặc’ dục tính của phụ nữ, nó gợi lên
sự chẻ hai (vulva) của cửa mình. Thế thì vẽ hoa cũng
là một cái gì gợi lên trong trí tưởng hoặc trong cái
gọi là ‘media’ của sắc màu khi cho sắc hồng nhuộm
đỏ lên hoa lá cành. Rùng rợn hơn qua tượng đồng của
Auguste Rodin (1840-1917):‘Thông điệp của Thượng đế /
Messenger of the God’ và họa phẩm của Gustave Courbet
(1819-1877): ‘Nguồn gốc của Vũ trụ / The Orgine of the
World’ thời chắc người xem phải ‘tá hỏa, ná thở’.
Vì nó sống thực và rõ ràng hơn cả thực chất. Dưới
mắt nghệ thuật không thể bịt mắt bắt dê mà phải
thừa nhận để sống thực với đời; còn bằng không là
thứ tu hành giả hiệu không cầu chứng, bởi; vạn vật
đều phải thế. Ngay cả Thượng đế chưa hẳn phải là
trinh nguyên. Nghệ thuật được ‘thánh hóa’ bởi nghệ
thuật không chối bỏ sự thật.
Ngay
cả cái tựa đề là nhắc cho kẻ thưởng lãm hiểu rằng
những gì ở đó là để trầm ngâm chớ không những chỉ
nói lên những gì khát khao dục vọng hay để nhận diện
cá nhân- Its title reminds viewers that they are contemplating not
only their sexsual desires and individual identities. Nhưng có thể
là cái riêng tư khởi đầu. Thật thế! giống như cái
chết là nhân tố của nhân tính. Nhưng; phải hiểu ý
nghĩa của nó. Hầu hết những nghệ sĩ có thiện chí
cũng như chịu đựng sự đau đớn và những bức xúc
trong đời sống đã gây nên bực bội đưa tới những
khám phá khác cho một hạn hữu tuyệt đối ngay cả trên
thân thể là một kiên tâm là vượt ra khỏi những kinh
nghiệm vốn có. Đại để như trường hợp của nữ họa
sĩ Mễ Tây Cơ Frida Kahlo thường kết hợp vào đó hình
ảnh của siêu thực (Surrealism), bởi vì; như thể là tạo
vào đó hình ảnh của cuồng tín, quá khích (fanaticize)
không có nghĩa là quá mơ hồ hay một ý nghĩ vô thức mà
phản ảnh vào nó nỗi đau sự thật cuộc đời. Hạn hữu
chính yếu của thân thể con người là sự chết. Sự thể
đó là trọng lực đưa tới chịu đựng có giới hạn;
không còn cách nào hơn để vuớt thoát mà chỉ để lại
thương đau. Thông thường những nghệ sĩ thường gặp
phải những trạng huống như vậy, sau đó thành hình tác
phẩm.
(The
Broken Column 1944 by Frida Kahlo (1907-1954) 40 X 30.5cm. Museo
Dolores Olmedo. Mexico city)
Hoàn
cảnh đó người ta cho một thân thể suy tàn (the abject
body) là mô tả sở năng con người đi tới tuyệt vọng,
có thể tìm thấy cho một khám phá mới, một khái niệm
về cái đẹp. Nếu nói ra thì đây là một thứ nghệ
thuật riêng tư, có thể đả thông, có thể phản đề;
vì rằng trong nghệ thuật nó đòi hỏi sự vượt thoát
của tâm hồn, bởi; văn học nghệ thuật không thể đứng
lại, huống hồ là nghệ thuật hội họa nó muôn phương
ngàn hướng để sáng tạo cái riêng mình, đạt tới tức
là chạm vào một thứ nghệ thuật bất biến.
Nói
rút lại; thân thể con người dưới mắt hội họa là
trình bày, là cấu tạo thành hình, là thái độ, ý nghĩ,
tình cảm của những gì mà người nghệ sĩ cảm nhận
được về xác và hồn trong một văn hóa hình tượng
(visual culture) thường lấy từ viễn cảnh bên ngoài để
thăm dò ý niệm của cái đẹp; là một xác minh và một
năng lực tiềm tàng, nhưng; thân thể con người cũng là
nơi dung dưỡng, chứa đựng một hệ thống rắc rối,
phức tạp đó là bộ phận hữu cơ, nơi du nhập khoái
cảm (organs/organsmic), mô cơ mỏng (tissue) và tế bào hồng
(red-cell) là những thứ mà nay đem ra hóa học (chemical)
hoặc cơ động hóa (mechanize) chức năng nơi con người để
thừa nhận đó là sự truyền lưu nhân thế tức sống
còn. Chức năng vai trò của thể xác (physical) hay là phẩm
hạnh (behavioural) là một ý niệm trái nghịch về những
gì cho là bình thường hoặc là khát khao; có thể đó là
ý niệm cấm kỵ, nguy cơ tác hại đến hoặc coi là cái
gì ghê tởm, ghét không dám đụng. Chính những yếu tố
đã gây cảm hứng cho họa nhân; như ta biết người nghệ
sĩ thường là kẻ khám phá, những gì chưa biết hoặc
muốn biết cái vô hình dung để rồi đi tới hiện thực
vật thể và hiện thể (con người). Tuy nhiên; không phải
những gì ‘thâm sâu cùng cốc’ mà người họa sĩ khám
phá và tìm kiếm dễ dàng mà đưa vào hình tượng học,
ngay cả điêu khắc như Rodin phải đứng lại ở điểm
dừng của nó. Thế nhưng; vẫn cho đây là một sự chinh
phục, một thẩm tra hoặc một thách đố cho một hiện
hữu thông thường. Người nghệ sĩ phải cẩn trọng từ
lời nói đến hành động qua chủ đề hay đề tài về
cái lạm phát tư duy hay đã vượt rào cái nguyên tắc
luân lý, đạo đức (transgression) và biến dạng làm méo
mó cái thể của nó (deformity); đặc biệt trong việc
đánh giá về thẩm mỹ nghệ thuật của thân thể con
người và bản chất cơ cấu nơi con người. Miêu tả về
thể xác con người đã có từ lâu, nó trở thành ‘hàng
hiệu’cổ điển. Ngày nay nó biến thể nhiều dạng khác
nhau mà vẫn diễn tả được cá tính của con người.
Thực
tế về thể xác con người trong hội họa là vẽ cái nội
lực bên trong hơn bên ngoài. Thân xác trong nghệ thuật
hội họa là để tâm vào trong cảm xúc, hoài niệm, ý
tưởng về tử vong hay sanh nở; ý niệm về cái đẹp và
cái sự dơ nhớp thể xác là: -năng lực, xác minh, niềm
tin không những chỉ có trong tâm trí họa nhân nhưng nó
lại là cái đẹp, thích thú của người xem. Nói chung
người nghệ sĩ đã vẽ thân thể con người trong mọi
cách, mọi điều là một biểu diễn đơn thuần cho một
biểu lộ thông thường.Tuy nhiên; thể xác con người tồn
lại là hiện diện hay vắng bóng đều nằm trong mắt và
trí tuệ của người thưởng lãm. -./.
(ca.ab.yyc.
Canada day 1/7/2018)
*
Hình ảnh họa Phẩm lấy từ Art in Time và Art to Art by
Phaidon . England 2000/20005/2012.
ĐỌC
THÊM: ‘Chân Dung Tự Họa’ 4/2018 / ‘Nghệ Thuật Vô
Thể’ 6/2018 của võcôngliêm hiện có trên một số báo
mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo địa
chỉ đả ghi..
VVM.07.11.2025.
(Olympia 1865 by Édouard Manet (1832-1883) Oil on canvass 130X190cm Musée d’Orsay Paris)
Một trường hợp khác khi nói đến ‘biểu trưng bi thảm’ cho ta thấy cái nhìn của người họa sĩ đang đối diện trước một thể xác sống thực là du nhập vào trí tuệ một hình ảnh trong sáng và thẩm mỹ của xác và hồn. Như hoàn cảnh của Pierre Bonnard ông đã sáng tạo vô số hình ảnh của vợ là Marthe; người thường tắm hằng ngày có thể là biểu hiệu cho phương pháp trị liệu của người bệnh lao mà vợ ông đã mắc phải hoặc có thể là biểu thị về thói quen ưa làm sạch. Đó là lý do mà Bonnard theo dõi tỉ mỉ, gợi ý và gần gũi để có chủ đề cho tác phẩm; hầu hết tranh khỏa thân về đàn bà Bonnard thường lấy vợ làm người mẫu, tuy nhiên; vẽ lõa thể về tắm là thuộc hội họa cổ điển như bao người đã vẽ; nhưng Bonnard vẽ trong trạng thái của một tâm hồn lơ lững, phóng đảng để đi vào vô tận. Lột tả cái sự trầm mình trong nước ở cái thế bềnh bồng, chơi vơi. Thể xác của Marthe nằm trong bồn tắm tuồng như tan biến với nước dưới mắt người xem.Tợ hồ như không còn thấy vợ mình trong lúc tắm mà thấy đó là hình ảnh trung thực trong trí tưởng mà thôi. Vẽ không ngoài mục đích làm sống lại như thật đang sống cùng một lúc; mà là nội lực phát tiết trí tuệ và chất liệu để làm nên tác phẩm có trong, có ngoài nơi con người.
(Nude
in Bathtub 1946 by Pierre Bonnard (1867-1947). Oil on canvas
122.5X150.5cm Museum of Art Pittsburgh. Pennsylvania. USA)
Vậy
thì thân thể của nghệ thuật là nói tới cái đẹp thân
thể (the body beautiful) là điều thường nói đến cái đẹp
chủ quan và một hiện hữu nguyên trạng trong con mắt của
người nhìn ngắm –It is often said that beauty is subjective
and exists purely in the eye of the beholder. Để xác định về
cái đẹp coi như thể hiện bởi nghệ thuật qua từng
thời kỳ của xã hội, từ mọi kỷ nguyên cho tới thời
hậu chiến, tất cả là chứng tích lịch sử, vẽ lên từ
những dữ kiện trong đó có cả con người là nhân vật
chính để thực hiện hoài bảo của người nghệ sĩ và
là đề tài chính khai thác không ngừng nghỉ, bởi; ngoài
chân dung người họa sĩ trở thành người khám phá từ
bên ngoài đến bên trong của con người, dẫu đó là một
nỗ lực không ngừng như tranh khoả thân của Willem de
Kooning với họa phẩn Đàn bà I / Woman I (1950) phần lớn
trong tác phẩm là bỏ cả thời gian dài trước khi đạt
tới ở một hòa hợp hoàn toàn bởi bộc phát khơi dậy
từ tâm hồn của người nghệ sĩ. Nó thoát tục để đi
tới ‘cõi ngoài / beyond’ ở chính nó; sự đó nhà Phật
gọi là đi tới chân-không hay còn gọi tánh-không nghĩa
là không còn thấy ta trong hiện thể thực tại mà chỉ
thấy ở đó một tổng thể nhất quán, phá chấp trước
mọi tình huống để hướng tới một thứ nghệ thuật
chân chính lẫn xác và hồn. Xem tranh không còn là vai trò
khách quan dự cuộc mà hòa nhập để có nhận thức sâu
sắc ngay cả tranh biểu thực trừu tượng (abstract
expressionist) như J. Pollock và W. Kooning. Cho dẫu vẽ dưới
hình thức nào người họa sĩ đã dốc hết sức mình để
thực hiện cho một ý đồ vốn đã tiềm tàng để thành
hình, sự đó gọi là ‘lực / power’. Nghĩa là người
nghệ sĩ phải xuyên qua toàn diện lịch sử mới tìm thấy
đích thực năng lực của con người. Lực / Power là hình
thức hết sức đơn giản. Lực về cơ thể, về chức
năng sinh lý (physiology), về sức mạnh cơ thể (physical
strength). Không thuần chất nói đến sinh lực nơi con
người mà những gì ở đây người nghệ sĩ phải lột
bỏ tất cả để tìm thấy ở đó những trộn lẫn phức
tạp khác của cơ thể là cả một tiết tấu để hòa
nhập vào những gì hiện ra trên cơ thể con người một
cách đích thực. Lực là một tương quan vào nhau, không
những chỉ là hiện hữu tồn lưu trong tính động lực
giữa thực thể ở chỗ chiếm cứ. Người nghệ sĩ phải
thấm thấu một cách khéo léo (subtle) và xác minh cụ thể
(obvious) là cách thức giới thiệu ở đây một sự chia
ra (dichotomy) như định rõ những gì trên thân thể con
người. Người họa sĩ có con mắt quan sát để tìm thấy
ở đó những đường nét mà trước đây chưa tìm thấy
nhất là vẽ khỏa thân dù phát họa như P.Picasso hay
H.Matisse vẫn để lộ được cái thâm sâu cùng cốc trên
thân thể (phụ nữ). Ấy là điều mà người nghệ sĩ
phải chú trọng để tạo được cái lực thu hút trong
mắt người vẽ và người xem. Ấy là bí quyết để
thành hình trong nghệ thuật hội họa xưa nay. Năng
lực có thể coi là biểu thị rõ ràng nhất ở tự
nó-That power may manifest itself in the freedom to offer control to
someone elfe. Trong tự do là đưa tới sự khống chế (quyền
hạn) đến người khác; là hình thức buộc phải của
người nghệ sĩ đứng trước một hiện hữu thực thể.
Nói rộng ra; đòi hỏi của người họa sĩ với người
mẫu là đối tượng độc quyền để được phơi mở
toàn diện, họ được coi như nghệ sĩ trình diễn (as
performance artists). Tuy nhiên; hội họa là một diễn cảm,
một khả năng vượt thoát trên thân thể con người là
trọng tâm cho một chủ đề hay đề tài đưa ra của
nghệt thuật từ khi mới bắt đầu.
(Woman
I .1952 by Willem De Kooning (1904-1997). Oil on canvas 192.7X
1473.3. Museum of Mordern Art. New York. USA) Từ
chỗ đó cho ta thấy thân thể con người (the human body)
đều được trải lên bố (canvas) và xuyên qua trí tuệ
của người nghệ sĩ như một định nghĩa về con người.
Có một sự liên đới mật thiết giữa hồn và xác
thường bộc lộ ra ở đó cho một cảm nhận sâu lắng
có từ sự choáng váng, sửng sốt và vui thích trong cái
thế đứng của người đàn bà dưới những vóc dáng
khác nhau, nó để lộ rõ từ a đến z, từ những khe hở
như đã tìm thấy. Nghệ thuật hội họa là tả chân một
cách sống thực hơn hẳn cả văn chương tả chân, nghĩa
là không vị nể để tránh những khe hở trên con người
mà diễn tả con người dưới lăng kính khác nhau nhưng
tựu chung vẫn duy trì một nét (phơi mở) như những họa
phẩm của Picasso mà ông đã viết bằng lời văn
(literally) hoặc dưới dạng thức ‘ẩn ngữ’ khác
(metaphorically). Hình ảnh của chất liệu cơ thể là nói
lên những gì thuộc thế giới bên trong của chúng ta
–images of the material body tell the story of our inner world, và;
đây là hình ảnh gợi lên một nội tạng là trả lời
cảm xúc của họ; thời tất sự đó cho chúng ta một cảm
thông hơn là phê phán. Tuy nhiên; vẫn có những che đậy;
nói theo lối bình dân học vụ là màng che, là giới hạn
của con người (the body’s limits), theo khoa học là hữu
cơ (organ) còn nói theo văn chương của Nguyễn Du ‘chữ
trinh còn một chút này’ thì đó là một thứ nghệ thuật
phơi mở, là sự ăn ngay nói thật. Nghệ thuật hội họa
vẽ được cái trần trụi đó nhưng vẽ cho được cái
màng một cách hiện thực quả là khó. Tuồng như nó là
hình ảnh của trừu tượng, bởi; thân thể con người
được bao che một thứ vải mỏng đó là da, một nơi che
đậy, đóng kín (container) và biên giới ngăn cách giữa
thế giới xung quanh và tất cả phủ khắp để đậy lại;
là ‘tế bào’ xác định của nguyên vẹn. Trong khi đó
người nghệ sĩ khám phá tận cùng lấy từ cơ bản nơi
con người sinh ra nó và chết về nó; tất thảy là một
kết nối, liên hiệp vào nhau là vượt biên của thời
gian. Cuối tk. hai mươi (20) những nghệ sĩ bắt đầu xử
dụng những hình ảnh về cơ thể riêng cho mình không
những chỉ chủ thể vấn đề nhưng còn là việc trung
hòa màu sắc (medium) để thấy được hạn hữu nơi con
người trong hai bề mặt của nó : nét đẹp cơ thể
(physical beauty) tức sinh lý và những gì thuộc về tâm lý
(psychological) mà trong đó có cả đau đớn, chịu đựng
và hạnh phúc là một cấu tạo đưa vào hồn và xác của
con người. Trở lại với P. Picasso qua họa phẩm lừng
danh ‘Les Demoiselles D’Avignon’ với năm cô gái điếm,
mặt dày mày dạng trong dáng trần truồng, đang đối diện
với chúng ta ngực, đùi, háng, mông, trong từng khúc gãy,
lồi, méo mó không còn một chổ nào để che. Picasso đã
diễn tả tận cùng cái thân thể người ta là cái cần
có để ứng xử vào nơi khuôn mặt của gái điếm; vừa
đòi hỏi, vừa nhu cầu trong một hợp nhất qua gương mặt
Phi châu với thể cu-bíc (Cubism).
(Les
Demoiselles D’Avignon 1907. P.Picasso (1881-1973) Oil on canvas
243.9 X 233.7 cm. Museum of Modern Art . New York. USA). Điều
đó cho thấy dục tính (sexual) và giống tính (gender) là
cơ bản cho khía cạnh nghệ thuật là những gì thuộc về
con người và đây cũng là đề tài gần như thường đem
ra để lý luận hay vẽ lên do từ sự khám phá của nghệ
nhân. Với sự khác biệt bề ngoài của cơ quan sinh dục
giữa đực và cái. Hai giống ấy là thuộc về sinh vật
của bản năng tính dục (sexuality). Hình ảnh nam nữ có
tính tượng trưng trong hiện nay không còn là mới mẻ. Có
thể coi đó là việc thông thường, có thể coi đó là
một khám phá khao khát không ngừng nghỉ, bởi trong đó
có một sự đòi hỏi (sinh lý) của cả hai bên. Tính dục
được vẽ lên là hành động của giao thoa hay giao hợp
là chủ đề hàng đầu trong tâm tư người họa sĩ, dẫu
không thuần chất về nó đi nữa. Thí dụ: họa sĩ chuyên
vẽ hoa chưa hẳn phải vẽ cái đẹp thiên nhiên. Như
trường hợp của nữ danh họa Georgia O’keeffe (1887-1986)
trong họa phẩm ‘Grey lines White Black, Blue and Yellow’
1923. Có thể gợi ra toàn diện âm hộ của đàn bà dưới
cành hoa huệ nở và được coi như một tiết lộ cái sâu
kín ‘trầm mặc’ dục tính của phụ nữ, nó gợi lên
sự chẻ hai (vulva) của cửa mình. Thế thì vẽ hoa cũng
là một cái gì gợi lên trong trí tưởng hoặc trong cái
gọi là ‘media’ của sắc màu khi cho sắc hồng nhuộm
đỏ lên hoa lá cành. Rùng rợn hơn qua tượng đồng của
Auguste Rodin (1840-1917):‘Thông điệp của Thượng đế /
Messenger of the God’ và họa phẩm của Gustave Courbet
(1819-1877): ‘Nguồn gốc của Vũ trụ / The Orgine of the
World’ thời chắc người xem phải ‘tá hỏa, ná thở’.
Vì nó sống thực và rõ ràng hơn cả thực chất. Dưới
mắt nghệ thuật không thể bịt mắt bắt dê mà phải
thừa nhận để sống thực với đời; còn bằng không là
thứ tu hành giả hiệu không cầu chứng, bởi; vạn vật
đều phải thế. Ngay cả Thượng đế chưa hẳn phải là
trinh nguyên. Nghệ thuật được ‘thánh hóa’ bởi nghệ
thuật không chối bỏ sự thật. Ngay
cả cái tựa đề là nhắc cho kẻ thưởng lãm hiểu rằng
những gì ở đó là để trầm ngâm chớ không những chỉ
nói lên những gì khát khao dục vọng hay để nhận diện
cá nhân- Its title reminds viewers that they are contemplating not
only their sexsual desires and individual identities. Nhưng có thể
là cái riêng tư khởi đầu. Thật thế! giống như cái
chết là nhân tố của nhân tính. Nhưng; phải hiểu ý
nghĩa của nó. Hầu hết những nghệ sĩ có thiện chí
cũng như chịu đựng sự đau đớn và những bức xúc
trong đời sống đã gây nên bực bội đưa tới những
khám phá khác cho một hạn hữu tuyệt đối ngay cả trên
thân thể là một kiên tâm là vượt ra khỏi những kinh
nghiệm vốn có. Đại để như trường hợp của nữ họa
sĩ Mễ Tây Cơ Frida Kahlo thường kết hợp vào đó hình
ảnh của siêu thực (Surrealism), bởi vì; như thể là tạo
vào đó hình ảnh của cuồng tín, quá khích (fanaticize)
không có nghĩa là quá mơ hồ hay một ý nghĩ vô thức mà
phản ảnh vào nó nỗi đau sự thật cuộc đời. Hạn hữu
chính yếu của thân thể con người là sự chết. Sự thể
đó là trọng lực đưa tới chịu đựng có giới hạn;
không còn cách nào hơn để vuớt thoát mà chỉ để lại
thương đau. Thông thường những nghệ sĩ thường gặp
phải những trạng huống như vậy, sau đó thành hình tác
phẩm.
(The
Broken Column 1944 by Frida Kahlo (1907-1954) 40 X 30.5cm. Museo
Dolores Olmedo. Mexico city)
Hoàn
cảnh đó người ta cho một thân thể suy tàn (the abject
body) là mô tả sở năng con người đi tới tuyệt vọng,
có thể tìm thấy cho một khám phá mới, một khái niệm
về cái đẹp. Nếu nói ra thì đây là một thứ nghệ
thuật riêng tư, có thể đả thông, có thể phản đề;
vì rằng trong nghệ thuật nó đòi hỏi sự vượt thoát
của tâm hồn, bởi; văn học nghệ thuật không thể đứng
lại, huống hồ là nghệ thuật hội họa nó muôn phương
ngàn hướng để sáng tạo cái riêng mình, đạt tới tức
là chạm vào một thứ nghệ thuật bất biến. Nói
rút lại; thân thể con người dưới mắt hội họa là
trình bày, là cấu tạo thành hình, là thái độ, ý nghĩ,
tình cảm của những gì mà người nghệ sĩ cảm nhận
được về xác và hồn trong một văn hóa hình tượng
(visual culture) thường lấy từ viễn cảnh bên ngoài để
thăm dò ý niệm của cái đẹp; là một xác minh và một
năng lực tiềm tàng, nhưng; thân thể con người cũng là
nơi dung dưỡng, chứa đựng một hệ thống rắc rối,
phức tạp đó là bộ phận hữu cơ, nơi du nhập khoái
cảm (organs/organsmic), mô cơ mỏng (tissue) và tế bào hồng
(red-cell) là những thứ mà nay đem ra hóa học (chemical)
hoặc cơ động hóa (mechanize) chức năng nơi con người để
thừa nhận đó là sự truyền lưu nhân thế tức sống
còn. Chức năng vai trò của thể xác (physical) hay là phẩm
hạnh (behavioural) là một ý niệm trái nghịch về những
gì cho là bình thường hoặc là khát khao; có thể đó là
ý niệm cấm kỵ, nguy cơ tác hại đến hoặc coi là cái
gì ghê tởm, ghét không dám đụng. Chính những yếu tố
đã gây cảm hứng cho họa nhân; như ta biết người nghệ
sĩ thường là kẻ khám phá, những gì chưa biết hoặc
muốn biết cái vô hình dung để rồi đi tới hiện thực
vật thể và hiện thể (con người). Tuy nhiên; không phải
những gì ‘thâm sâu cùng cốc’ mà người họa sĩ khám
phá và tìm kiếm dễ dàng mà đưa vào hình tượng học,
ngay cả điêu khắc như Rodin phải đứng lại ở điểm
dừng của nó. Thế nhưng; vẫn cho đây là một sự chinh
phục, một thẩm tra hoặc một thách đố cho một hiện
hữu thông thường. Người nghệ sĩ phải cẩn trọng từ
lời nói đến hành động qua chủ đề hay đề tài về
cái lạm phát tư duy hay đã vượt rào cái nguyên tắc
luân lý, đạo đức (transgression) và biến dạng làm méo
mó cái thể của nó (deformity); đặc biệt trong việc
đánh giá về thẩm mỹ nghệ thuật của thân thể con
người và bản chất cơ cấu nơi con người. Miêu tả về
thể xác con người đã có từ lâu, nó trở thành ‘hàng
hiệu’cổ điển. Ngày nay nó biến thể nhiều dạng khác
nhau mà vẫn diễn tả được cá tính của con người. Thực
tế về thể xác con người trong hội họa là vẽ cái nội
lực bên trong hơn bên ngoài. Thân xác trong nghệ thuật
hội họa là để tâm vào trong cảm xúc, hoài niệm, ý
tưởng về tử vong hay sanh nở; ý niệm về cái đẹp và
cái sự dơ nhớp thể xác là: -năng lực, xác minh, niềm
tin không những chỉ có trong tâm trí họa nhân nhưng nó
lại là cái đẹp, thích thú của người xem. Nói chung
người nghệ sĩ đã vẽ thân thể con người trong mọi
cách, mọi điều là một biểu diễn đơn thuần cho một
biểu lộ thông thường.Tuy nhiên; thể xác con người tồn
lại là hiện diện hay vắng bóng đều nằm trong mắt và
trí tuệ của người thưởng lãm. -./.
(ca.ab.yyc.
Canada day 1/7/2018)
*
Hình ảnh họa Phẩm lấy từ Art in Time và Art to Art by
Phaidon . England 2000/20005/2012. ĐỌC
THÊM: ‘Chân Dung Tự Họa’ 4/2018 / ‘Nghệ Thuật Vô
Thể’ 6/2018 của võcôngliêm hiện có trên một số báo
mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo địa
chỉ đả ghi..
VVM.07.11.2025.
