K hi Đức Thích Ca vừa đắc đạo thì việc đầu tiên là quay trở lại Vườn Lộc Uyển, nơi trước đây cùng tu Khổ Hạnh với 5 người bạn và giảng thời Pháp đầu tiên cho họ. Từ là những người chống đối, chê Ngài, cho rằng vì không chịu nổi Khổ Hạnh nên rời đi, 5 người này trở thành 5 Đệ Tử đầu tiên của Đức Thích Ca. Sau đó, các quan trong triều thấy Thái Tử đi tu nên mỗi người cho một con trai đi tu theo nên lập thành được một Tăng Đoàn với hình thức hoàn toàn khác so với các nhóm tu trước đó.
Thời đó, Tăng Đoàn không có cất Chùa, chỉ ngụ ở cội cây hay ở trong rừng. Mỗi bữa thì theo thứ tự mang bát đến nhà người dân để Khất Thực. Được cho gì thì ăn đó, không kể chay hay mặn. Nhà họ nấu gì để ăn thì sớt ra 1 bát để bố thí, nên công cuộc tu hành thật là nhẹ nhàng, chư Tăng dành hết thì giờ để nghe giảng và thực hành. Lúc ban đầu thì lý thuyết, giáo pháp cũng chưa hoàn chỉnh, nên người muốn tu hành là phải bỏ hết việc đời không được tham gia. Cũng không được có gia đình để không bị vướng mắc, lo nghĩ đến vợ con, cơm áo gạo tiền, dành toàn tâm toàn ý mà tu học.
Đức Thích Ca giảng dạy suốt 49 năm. Cho đến trước lúc nhập diệt khoảng 3 tháng thì trong một lần giảng pháp giữa đại chúng, Ngài cầm cành Sen đưa lên. Trong khi đại chúng ngơ ngác không biết ý Phật muốn nói gì thì Ngài Ca Diếp mỉm cười. Qua nụ cười đó, Đức Thích Ca biết Ngài Ca Diếp đã nắm được yếu chỉ của Giáo Pháp Ngài đã thuyết giảng, nên giữa đại chúng, Đức Thích Ca đã Truyền Y bát , giao sứ mạng nối truyền Chánh Pháp cho Ngài Ca Diếp.
Sau khi Đức Thích Ca nhập diệt rồi, thì Ngài Ca Diếp thay Phật để tiếp tục rao giảng Chánh Pháp. Thời gian sau, khi thấy mình già yếu , Ngài Ca Diếp theo lời Phật dặn dò nên Truyền Y bát lại cho Ngài A Nan.
Trước khi nhập diệt, Đức A Nan lại truyền Y Bát lại cho Tổ Thương Na Hòa Tu. Khi Tổ Thương Na Hòa Tu đã già yếu, muốn tìm người để Truyền Y bát, thì nhập định thấy sẽ có vị Giác Ngộ sắp sinh ở nhà của Trưởng giả Thiện Ý. Lúc đó hai vợ chồng ông này lấy nhau đã lâu nhưng chưa có con.
Khi thấy Tổ Thương Na Hòa Tu đến, hai vợ chồng Trưởng giả chào mừng và hỏi duyên cớ chi Tổ lại ghé thăm nhà, thì Tổ nói là nghe tin Trưởng Giả Xuất gia nên đến. Ông Trưởng giả nói rằng mình còn bận bịu việc đời, nên chưa thể xuất gia. Nhưng nếu có sinh được con trai thì sẽ xin cho theo hầu Tổ làm thị giả. Năm sau, phu nhân của trưởng giả có mang và sinh được một con trai, mặt mũi khôi ngô, đặt tên là Ưu Ba Cúc Đa.
Khi Ưu Ba Cúc Đa được 12 tuổi thì Tổ thường xuyên đến nhà để hướng dẫn tu học. Đầu tiên Tổ dạy chuyển hóa cái Tâm bằng cách khi khởi niệm ác thì bỏ vô hũ 1 viên đá đen. Khi khởi tâm thiện thì bỏ vô hũ 1 viên đá trắng. Ưu Ba Cúc Đa vâng lời làm theo. Ban đầu thì đá đen nhiều hơn đá trắng. Lần hồi bằng nhau. Cuối cùng thì chỉ còn đá trắng., chứng tỏ cái Tâm Ưu Ba Cúc Đa đã hoàn toàn thanh tịnh.
Khi Ưu Ba Cúc Đa được 17 tuổi thì vợ chồng Trưởng giả cho đi theo hầu làm Thị Giả cho Tổ.
Thời điểm Tổ Thương Na Hòa Tu Truyền Y bát lại cho Tổ Ưu Ba Cúc Đa trùng hợp với thời điểm của các Trưởng Lão tách ra để lập thành TIỂU THỪA, tức là khoảng 100 năm sau khi Đức Thích Ca nhập diệt.
Sở dĩ nói nhiều về Tổ Ưu Ba Cúc Đa vì theo Sử 33 Vị Tổ viết, thì Ngài là người trở lại, vì Tố Thương Na Hòa Tu đã thấy trước trong lúc nhập định, nên đến nhà vợ chồng Ông Trưởng Giả khi vợ chồng này chưa có con. Năm sau mới có thai rồi sinh Ngài. Hơn nữa, Ngài được Tổ rèn luyện từ lúc mới 12 tuổi, đến 17 tuổi mới cho vô Chùa, rồi 3 năm sau Chứng đắc mới được Truyền Y Bát. Tổ đã giữ đúng lời dặn dò của Đức Thích Ca, hoàn toàn không vì cảm tình riêng. Nhưng có lẽ các Trưởng Lão đã hiểu lầm, cho rằng Tổ thiên vị, vì Ngài Ưu Ba Cúc Đa là Thị Giả của Tổ, còn quá trẻ, chỉ mới 20 tuổi, lại chỉ mới vào tu có 3 năm, trong khi các Vị Trưởng Lão phải tu rất nhiều năm, và đã lên đến hàng Trưởng Lão !
Hành vi tách ra lập nhóm mới chứng tỏ sự bất tuân thượng lệnh và ham cầm nắm Tăng Đoàn của các Trưởng Lão, vì dù sao Tổ đương nhiệm mới có quyền và mới đủ trình độ đánh giá ai xứng đáng làm người kế nhiệm cho mình !
Phía ĐẠI THỪA từ lúc Đức Thích Ca Truyền Y Bát, cho tới Lục Tổ Huệ Năng là Tổ cuối cùng, thì trong Tăng Đoàn chỉ có Tổ đứng ra thuyết pháp mà thôi. Những Đại Đệ Tử hay Sư Tăng khác không có ai được quyền thuyết pháp, vì trong Đạo Phật, không phải ai tu lâu năm thì cũng Chứng Đắc. Có người mới tu nhưng Thấy Tánh, gọi là Chứng đắc, có người tu nhiều năm vẫn không Thấy Tánh, mà chưa Thấy Tánh thì không được quyền thuyết Pháp.
Phía TIỂU THỪA thì từ khi thành lập thì chia nhau đi hoằng pháp khắp nơi. Lúc Tổ Đạt Ma là Tổ 28 bên Ấn Độ, thấy căn khí ĐẠI THỪA ở Trung Quốc vượng nên bỏ 3 năm đi thuyền qua đó. Tới nơi, lần đầu tiên đến yết kiến Vua Lương Võ Đế thì vua khoe mình đã xây được 72 kiểng Chùa và “Độ” vô số Tăng, để hỏi Tổ là “Có công đức gì không” ? Khi Tổ trả lời là “không” thì Vua có vẻ không hài lòng, nên Tổ cũng bỏ về núi diện bích trong 9 năm. Thời gian đó Tổ không có thuyết Pháp !
Suốt từ đó đến nay, TIỂU THỪA đã phát huy mạnh ở rất nhiều nước như Sri Lanca, Thái Lan, Myanmar Campuchia, Lào, Việt Nam, trong khi ĐẠI THỪA thì ở Népal, Trung Quốc, Hàn quốc, Nhật Bản.
Vì các Trưởng Lão - những người khai sáng bên TIỂU THỪA - là những người chưa Thấy Tánh, nên họ không thể đào tạo được những vị Giác Ngộ, Thấy Tánh. Quả Vị bên này cao nhất là A La Hán mà thôi.
Dấu ấn của TIỂU THỪA mạnh nhất là Chùa chiền. Nơi nào TIỂU THỪA là quốc giáo thì ở đó Chùa không những rộng bao la mà còn tập trung vàng, bạc, châu báu để trang hoàng. Điển hình là Myanmar là một nước chưa giàu, mà nổi tiếng là XỨ CHÙA THÁP, vì đến đâu cũng thấy Chùa và Tu Viện Phật Giáo. Một trong những ngôi Chùa nổi tiếng là Chùa Shwedagon có mái bằng vàng nặng đến mấy tấn, tô điểm bằng 5.450 viên Kim cương và 2.320 viên hồng ngọc, lam ngọc. Hàng ngàn quần thể Chùa chung quanh cũng dát vàng. Nổi bật nhất là Ngôi Chùa Đá có cục Đá dát vàng sáng rực nằm cheo leo trên đỉnh núi. Chùa này có nhiều Tương Phật được khảm bằng hàng ngàn viên đá quý, hàng trăm viên Kim cương với hàng trăm chiếc chuông vàng, làm thành khu du lịch tâm linh nổi tiếng.
Campuchia nổi tiếng với Angko Wat, Chùa Vàng, Chùa Bạc. Thái Lan có Chùa Phật Vàng có tên Wat Traimit có tượng Phật bằng vàng khổi, cao 3m, nặng 5,5 tấn ! Chùa Wat Pra Dhammakaya thì thờ 1 triệu tượng Phật vàng, 300.000 tượng đồng, 700.000 bức tượng khác trong khuôn viên rộng 4km.
Trung Quốc thì không có Chùa bằng vàng, bằng bạc, nhưng về Tượng Phật thì độ to, cao thì khó có nước nào sánh được, như :
- Tuợng Phật ở Núi Nghiêu, Hà Nam, có tên là Trung Nguyên Đại Phật, cao 208m. Thân cao 108m, bệ đỡ cao 80m.
- Linh Sơn Đại Phật phía Nam núi Mã Sơn tỉnh Giang Tô, cao 88m, thân 79m, đài sen cao 9m.
- Tượng Phật Quan Âm nghìn tay, nghìn mắt ở Hồ Nam bằng đồng mạ vàng, cao 99m.
- Tam Á Quan Âm cao 108m. Bảo tọa Hoa Sen cao 10m với 4 tầng.
- Lạc Sơn Đại Phật là tượng đá lớn nhất thế giới cao 77m nằm trong núi Lãng Vân.
Nơi nào có những nhà truyền giáo của Đạo Phật đến là Chùa chiền, tượng Phật mọc lên như nấm ! Việt Nam ta qua nhiều năm chiến tranh, hòa bình lập lại cũng đâu có chịu kém cạnh. Ngoài hơn 18.000 ngôi Chùa lớn nhỏ, năm 2013, Yên Tử khánh thành tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tôn cao 15m, nặng 138 tấn được cho là tuợng đồng lớn nhất Việt Nam thì năm 2024 đã bị xuống hạng vì đã có tượng Phật Bà Đà Sơn ở núi Bà Đen cao 72m được đúc bằng 170 tấn đồng đỏ ! Năm 2013 Tượng Phật Di Lặc trên Núi Cấm cao 33,6m trọng lượng hơn 1.700 tấn, đạt Tượng Phật Di Lặc cao nhất thế giới, thì năm 2024 đã bị Tượng Phật Di Lặc bằng Đá Sa Thạch cao 36m nặng 5.112 tấn được ghép bằng 6.688 viên đá sa thạch của Núi Bà Đen soán ngôi !
Đạo Phật theo đúng Chánh Pháp cho là “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” thì Chùa chiền tranh nhau vận động Phật Tử hùn nhau để đúc tượng ngày càng lớn hơn để cạnh tranh với nhau và với khu vực ! Cứ Chùa sau, tượng sau to hơn Chùa trước, tượng trước, dù đất nước vẫn còn rất nhiều hoàn cảnh đói nghèo, thiếu thốn !
Ngay tại trung tâm Thành Phố, gần các Bệnh Viện lớn, hàng ngày cả ngàn bệnh nhân xếp hàng để chờ nhận những xuất cơm từ thiện do các nhà hảo tâm nấu tặng, để san sẻ chút khó khăn cho họ và thân nhân nuôi bệnh từ vùng xa đến, mà Viện phí, tiền ăn ở đã ngốn gần hết chút tài sản ít ỏi cuối cùng của họ ! Ở vùng cao, nhiều nhà dân không có gạo mà ăn, đường xá lầy lội, nuôi được con heo, con gà, hay trồng được chút hoa màu phụ muốn mang đi bán là cả một vấn đề, vì đường sình lầy, đầy đá to nhỏ, lởm chởm rất khó đi ! Nhiều gia đình không có gạo ăn, phải ăn độn với lá đu đủ hay lá khoai mì với cơm qua ngày. Nhiều em bé rét run vì không đủ áo ấm trong mùa lạnh. Một số youtoubers đã chịu khó trèo đèo, vượt những cung đường lầy lội, bùn đất, để mang cho họ chút khô, muối, gạo, bánh, san sẻ với họ chút tình người… Trong khi đó thì nhiều Chùa rộng thênh thang, chỉ để một vài Sư trông coi, và chỉ chưng một số tượng, mà đèn điện sáng choang đêm ngày. Hàng tháng nội chi phí chi tiền điện cả mấy trăm triệu đủ nuôi sống hàng chục gia đình, mà cả nước không ít những Chùa như thế ! Rồi những buổi Lễ Vía, Lễ Phật Đản, thôi thì nào đèn lồng, xe hoa, rước kiệu, nào hoa tươi chưng từ trong ra ngoài, rình rang tốn kém ! Lòng từ bi, sự cứu độ của nhà Phật chẳng lẽ chỉ có ở trong Kinh sách hay chỉ là những ngôn từ để thuyết giảng ? Mọi thứ tốt đẹp nhất chỉ dồn cho Chùa, cho Tượng, bỏ quên con người thì liệu có hợp lý không ?
Đạo Phật ra đời vì để cứu khổ cho con người. Những cảnh đời đói khát, túng thiếu chẳng phải là Khổ sao ? Phật, Bồ Tát nào sẽ cứu cho họ ? Không lẽ ta thấy vậy mà mặc kệ, vì ta bận lo tu hành ? Họ chẳng phải là những vị Phật sẽ thành nhưng còn đang trả nghiệp sao ? Trong khi đất nước cần tài chính để làm nhiều điều lợi ích cho dân mà tiền bạc dồn để xây Chùa, đúc Tượng, có phải là tội ác, vì không góp phần để phát triển đất nước ? Đừng nói rằng người tu là phải bỏ đời, không liên quan đến thế gian. Chẳng phải Phật dạy người tu sau khi hoàn tất cho mình thì phải đền TỨ ÂN, trong đó có Ân Đất Nước sao ? Liệu Phật có thích được tôn vinh tốn kém khi thấy chúng sinh còn vất vả khó khăn hay không, trong khi Kinh nói rằng Phật “thương chúng sinh bình đẳng như La Hầu La” ?
Trong khi Kinh dạy đời sống tu sĩ là :
“Ăn ít, biết đủ
Như chim bay không
Dấu không thể tìm”… thì nhiều Sư nhởn nhơ đi xe sang, dùng đồng hồ, điện thoại đắt tiền, trang trí nội thất bằng những vật liệu quý hiếm ! Có Hòa Thượng còn mặc áo dệt bằng sợi vàng nghe nói trị giá hàng mấy trăm triệu ! Có Sư thì Chùa rộng thênh thang còn đi thưa kiện tranh giành đất với láng giềng. Có Thượng Tọa nêu rõ “cúng dường 20 ngàn thì Phật sẽ phù hộ 1 ngày, cúng càng nhiều thì Phật càng phù hộ nhiều”. Bá tánh sẽ hiểu như thế nào ? Không lẽ Sư có quyền ra lệnh cho Phật phù hộ cho bá tánh để sư nhận tiền ? Có Sư thì tuyên bố là mình giữ tiền giùm cho Phật ! Phật nhập diệt gần 3.000 năm rồi, không biết ông ta gặp Phật cách nào, lúc nào, để Phật yêu cầu ông giữ tiền giùm ? và giữ rồi chừng nào giao lại cho Phật ? giao cách nào ? Nước Phật được mô tả đầy vàng, ngọc châu báu mà Phật còn phải dùng tiền của thế gian hay sao ? Dùng vào việc gì ? Nói những điều không chân thật có phải là Vọng Ngữ ? Có vị một mình đã Trụ Trì 2, 3 Chùa còn kêu gọi bá tánh cúng thêm đất, càng rộng càng tốt. Vậy các Sư nghĩ sao khi giảng Pháp kêu mọi người bỏ Tham ?
Đó là lý do trong Chánh Pháp chỉ những người Thấy Tánh mới được rao giảng Đạo Phật, bởi vì Đạo Phật không phải là một Tôn Giáo để tôn thờ Phật để cầu xin, mà để hướng dẫn cho con người biết ý thức Nhân Quả và ngưng tạo nghiệp để không những hiện kiếp hết Khổ mà những kiếp về sau cũng không phải rơi vào Ác đạo, vì mỗi người không chỉ sống hết kiếp này là kết thúc. Phật chỉ là nghĩa của Giải Thoát. Đức Thích Ca Thành Phật có nghĩa là ngài đã giải thoát cho bản thân hết Khổ. Bất cứ ai hành theo hướng dẫn của Đạo Phật thì cũng sẽ được hết Khổ, được Giải Thoát. Chính vì vậy mà Đức Thích Ca đã Thọ Ký : “Tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành”, đâu chỉ dành riêng cho Tu Sĩ ? Phật cũng không phải là Thần Linh, không có quyền năng thì phù hộ, độ trì cho ai ? Vì vậy, những người cổ súy việc Cầu An, Cầu Siêu, cầu tài lộc…phải chăng là những người không hiểu Phật Pháp nhưng đang lợi dụng sắc áo Đệ Tử Nhà Phật để chồng mê cho bá tánh, là “những con trùng trong thân sư tử ăn thịt sư tử” mà trong Kinh đã đề cập đến ?
Nhiều người đổ thừa “xưa bày, nay làm”, cho là mình thực hiện theo đúng như những gì ngày xưa Phật và các Đại Đệ Tử đã làm, là người tu thì phải bỏ hết việc đời, chỉ lo tu hành, mọi việc để bá tánh lo cho, gọi là Cúng Dường, mà quên bối cảnh ngày Phật mới lập Đạo và hiện nay đã cách gần 3.000 năm với mọi thứ đã rất khác. Thật vậy. Lúc Phật mới nhóm các Đệ Tử để giảng dạy thì Giáo Pháp chưa được ghi thành văn bản. Các Đại Đệ Tử là lực lượng nồng cốt, cần phải chú tâm nghe Phật giảng rồi học thuộc lòng. Chính vì vậy mà họ phải bỏ hết mọi việc, không được vướng bận vợ con để toàn tâm toàn ý ghi nhớ, thực hành, tương lai truyền lại.
Nhưng sau khi Phật nhập diệt khoảng 4 tháng thì Ngài Ca Diếp đã quy tụ tất cả các Đại Đệ Tử từng nghe Phật thuyết pháp, để cùng nhau ghi lại những gì Phật dạy, có sự xác minh của Ngài A Nan được cho là người “ghi nhớ lời Phật dạy như nước từ trong bình rót ra không thiếu một giọt” xác nhận, gọi là Kết Tập. Rồi khoảng 200 năm sau khi Phật nhập diệt thì tất cả văn bản đã được ghi thành những Bộ Kinh còn lưu truyền đến nay. Thêm vào đó là những Bộ Kinh do những vị Tổ giảng, được ghi chép lại, và bao thời qua biết bao nhiêu vì tu hành cũng viết sách để giảng, luận, thành “Thiên Kinh vạn quyển”, Chùa nào cũng phát hành đầy dẫy. Muốn thỉnh để nghiên cứu không thiếu. Chưa kể là trên mạng cũng bỏ lên không thiếu Kinh nào, kể cả những bài giảng của các giảng Sư. Vậy thì lý do nào để các Tu sĩ không thể làm việc để tự kiếm tiền cung cấp cho bản thân sống mà tu hành, mà lại giao hết trách nhiệm cung dưỡng cho các thí chủ để mình rảnh rang không động móng tay, viện lẽ tu hành, trong khi nếu có Chứng đắc thì cũng chỉ bản thân được nhờ ? Đừng quên là Nhân Quả không mất. Ăn của người khác hột cơm, chén thuốc cũng có lúc phải trả lại, không thể viện cớ tu hành, vì ai tu người ấy nhờ. Phật không có quyền lãnh Quả giúp cho ta, tự ta phải lãnh lấy hậu quả mà thôi.
Đa phần người tu đã Y NGỮ, nên đã làm mất đi ý nghĩa thật sự của việc tu Phật và bản thân họ cũng không thể thành công được. Chẳng hạn :
- XUẤT GIA. Xuất Gia đâu chỉ là rời khỏi nhà cửa thế tục, mà là “Ra khỏi nhà lửa Tam Giới”, vì bao nhiêu kiếp qua rồi mọi người vẫn trú ngụ, ra vô ở đó. Nhà Lửa Tam Giới tức là THAM, SÂNvà SI. Nếu chỉ rời nhà thế tục, vô Chùa ở, nhưng Tham Sân, Si vẫn giữ thì chừng nào mới tu thành công ?
- CẮT ÁI đâu chỉ là không được có vợ, chồng ? Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN dạy, có hai cái ÁI lớn nhất : Một là Ái thân mình. Hai là Ái đồ cần dùng. Chính vì yêu cái Thân mình, và thích những món đồ cần dùng nên mới tạo Nghiệp. Không có vợ con để Ái, nhưng Ái Chùa to, Tượng lớn, phương tiện hiện đại, đắt tiền rồi gợi ý để bá tánh cúng cho mình. Đó chẳng phải là mượn danh Phật để hưởng dụng của bá tánh sao ?
- XÂY CHÙA theo Chánh Pháp là dọn ĐẤT TÂM cho thanh tịnh, không phải là dùng đá cát xi măng, gạch ngói để cất lên một ngôi Chùa hữu vi.
- TẠC TƯỢNG là dùng những Hạnh mà Phật đã làm để có kết quả Thành Phật, rồi làm theo, để có Phật của chính mình, đâu phải là dùng xi măng, thạch cao để đúc, hay lấy gỗ rồi dựa theo những Tướng Tốt của Phật để tạc thành tượng rồi cho đó là Tượng Phật !?
- CÚNG DƯỜNG PHẬT cũng là ĐỘ SINH, tức là đưa được một tư tưởng còn nhiễm tính xấu, cho nó được thanh tịnh, là ta đã “Cúng dường một vị Phật”. Từng sát na, hàng ngày và cả đời sống, nếu ta luôn làm công việc kiểm soát tư tưởng để “Độ” cho nó là ta “Cúng dường vô số ức Đức Phật” , cuối cùng người Cúng Dường sẽ Thành Phật. Phật là nghĩa của Giải Thoát. Kinh viết : “Phật là vô tướng, do vô lượng công đức mà thành”, thì làm sao ta gặp được để mà Cúng Dường ?
Cũng do hiểu sai về CÚNG DƯỜNG PHẬT mà từ trước đến nay những vị tu hành đã kêu gọi bá tánh “hùn phước” để cất những kiểng Chùa thật là quy mô, đúc những Tượng Phật to lớn, rồi thắp hương thờ phụng ! Trong khi đó, Phật chỉ là Đạo Sư, là người chỉ CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT cho ta noi theo mà thôi. Không phải là Thần linh để mọi người tôn thờ.
CÚNG DƯỜNG TĂNG cũng tương tự. Trong tư tưởng chúng ta luôn nảy ra những ý tưởng xấu xa, độc hại, mưu toan tranh giành, hại người. Nếu ta hướng nó về nẻo chính, lương thiện, chính là ta đã CÚNG DƯỜNG MỘT VỊ CHÂN TU hay là CÚNG DƯỜNG TĂNG, đâu có phải mang tiền bạc, thực phẩm, hoa quả để cúng cho vị Tăng nào đó ? Họ tu thì họ nhờ, không có lý do nào để ta phải Cúng dường cho họ để họ tu, trừ trường hợp ta muốn kiếm chút phước đức qua việc Bố Thí. Nhưng không phải vì cúng cho người tu hành mà ta sẽ được “Công đức vô lượng”, mà chỉ như ta bố thí cho một trường hợp khó khăn bình thường mà thôi. Hơn nữa, Cúng Dường mà cân đo đong đếm phước báo sẽ nhận lại, thì đó là đầu tư, không phải là Thí, Xả.
Tu PHẬT là sửa Cái Tâm đang vướng mắc để được Giải Thoát. Người tu phải phân biệt thế nào là VỌNG, thế nào là CHÂN để “Phản Vọng, quy Chân”, tìm lại cái BẢN THỂ TÂM thanh tịnh của chính mình. Do đó, tu Phật được gọi là TU TÂM. Người chưa biết cách tu đúng Chánh Pháp, thay vì Tu Tâm lại Thờ Phật để chờ Phật độ, thì đó là Nhị Thừa, nên dù thành tâm mấy không thể đạt cứu cánh Giải Thoát được.
Một bên Y NGỮ, thấy Kinh viết thế nào thì cứ thế mà làm theo. Một bên tìm NGHĨA để Y. Đó là sự khác biệt giữa Phật Pháp do những vị Tổ Chứng Đắc được Truyền Y bát giảng dạy, và những người chưa hiểu hết Đạo Phật mà vì danh, lợi cũng mượn danh đi giảng Đạo, rồi tranh giành tín đồ, làm mất cơ hội để họ đến với Chánh Pháp. Tội chồng mê cho người khác và phá hoại Chánh Pháp chỉ những người không hiểu lẽ Nhân Quả mới dám làm, vì quả báo không phải nhẹ vậy.
-./.
Tháng 9/2025
