L
âu nay, chúng ta đã làm quen với một thể loại trong vốn văn hóa dân gian (Folklore) của các dân tộc Tây Nguyên mà người ta dịch là “Trường ca” như Đam San, Xinh Nhã, v.v…Song, đó chỉ là phần ngữ văn của một hình thức nghệ thuật dân gian diễn xướng hát – kể, mà tên gọi của nó được dịch không chính xác. Chúng ta mới ghi lại phần ngữ văn mà bỏ qua đi khung cảnh diễn xướng của các tác phẩm dân gian ấy với sự có mặt của nhiều thành tố khác đã kết hợp với chúng để tạo nên một chỉnh thể nguyên hợp là nghệ thuật diễn xướng hát – kể dân gian.
Thể loại diễn xướng hát – kể dân gian là một hình thức khá phổ biến của một số dân tộc vùng Tây Nguyên với những tên gọi khác nhau ở từng dân tộc: người Ê-đê gọi là Khan, Người JRai gọi là Hơri, người Ba-na gọi là Hơ Amon v.v…Trước đây, người ta thường dùng từ Khan để gọi chung cho thể loại diễn xướng hát – kể của tất cả các dân tộc Tây Nguyên và dịch là “Trường ca Tây Nguyên” và chỉ coi đó là một thể loại văn học có tính sử thi. Từ sau giải phóng đến nay, một số bản in được công bố về thể loại diễn xướng hát – kể này vẫn dịch là “Trường ca”. Tình trạng này dẫn đến những nhận biết không đầy đủ về mọi mặt đối với “Trường ca Tây Nguyên”. Nếu gọi Khan là tên chung cho tất cả “Trường ca Tây Nguyên” thì sẽ gây lầm lẫn, vì Khan chỉ đúng với cách hiểu của người Ê-đê còn đối với người Ba-na, Khan lại có nghĩa là gọi, kêu. Còn trong tiếng JRai, người ta gọi thể loại diễn xướng hát – kể là Hơri, trong khi đó Hơri chỉ là tên gọi một làn điệu dân ca ngắn của người Ba-na…Rồi đây, các nhà nghiên cứu Folklore sẽ giải quyết vấn đề này một cách đầy đủ. Dưới đây, bài viết sẽ giới thiệu thể loại nghệ thuật diễn xướng hát – kể của người Ba-na có tên gọi là Hơ Amon. Hơ Amon là một thể loại Folk-lore đa thành phần nghệ thuật và cũng là một sinh hoạt văn nghệ dân gian mang tính chất tập thể. Hơ Amon thường là một chuyện kể dài, xen kẽ văn vần và văn xuôi hoặc văn xuôi đối xứng cặp. Hơ Amon không được lưu giữ bằng văn bản, nó không thể cho người ta “đọc” mà bao giờ cũng xuất hiện bằng phương thức hát- kể của nghệ nhân với những làn điệu, ngữ điệu, sắc thái, với cường độ, tốc độ, nhịp điệu, tiết tấu thay đổi của người hát – kể. Cách thức hát – kể này đều thể hiện đặc trưng của nghệ thuật biểu diễn có sự tham gia quan trọng của âm nhạc và nghệ thuật sân khấu. Người hát – kể Hơ Amon không bao giờ trình diễn trước một vài người mà trước đám đông, thường là toàn thể cư dân trong Pơlêi (làng). Địa điểm có thể ở nhà Rông hoặc ở một nhà nào đó rộng rãi hoặc chính nhà của nghệ nhân hát – kể. Thời gian là ban đêm. Người nghe phần lớn ngồi ở ngoài, thành từng nhóm bên cạnh những bếp lửa. Chỉ có một vài người thuộc lớp già làng là ngồi ở trong nhà bên bếp lửa gian tiếp khách. Hầu như toàn bộ người nghe đều biết rõ diễn biến của cốt truyện. Có người còn thuộc một vài đoạn. Song, tất cả đều nghe rất say sưa, chăm chú.
Họ ngồi im lặng như những pho tượng nhà mồ, mắt đăm đăm nhìn vào ngọn lửa bập bùng, như đang hóa thân vào câu chuyện, như sống với các nhân vật huyền ảo, phi thường…
Chỗ nghệ nhân hát – kể Hơ Amon ở gian đầu hồi phía Tây. Khi chuẩn bị hát – kể, ông ta nằm ngửa, chân chữ ngũ, tay phải đặt lên trán, tay trái đặt ở bụng, đầu gối lên một khúc gỗ. Ông ta chỉ bắt đầu hát-kể khi không gian đã chìm vào tĩnh mịch, sâu lắng. Chỗ nghệ nhân không có đèn hoặc bếp lửa, thi thoảng, ánh lửa từ bếp của gian tiếp khách bùng lên thì mới thấy thấp thoáng một phần hay toàn bộ thân hình cùng với cái bóng của ông ta in trên vách ngăn đầu hồi. Trong không gian im ắng, tĩnh mịch, đầy màu sắc huyền thoại đó, chỉ có tiếng người hát – kể vang lên, như tiếng nói của con người từ thuở xa xưa vọng về hoặc như tiếng của các vị thần từ thế giới bí ẩn nào đó vọng lại…Với khung cảnh ấy, toàn bộ người kể và người nghe đều như đang sống với mọi diễn biến của câu chuyện…
Với cách diễn xướng ấy, nghệ nhân Hơ Amon phải là một tài năng đa dạng, có trí nhớ tốt, có khả năng phân tích diễn biến và tính cách của nhân vật trong truyện để thay đổi sắc thái hát – kể, thay đổi ngữ điệu lời kể, lời hát và làm nổi bật được trạng huống xảy ra của câu chuyện. Lẽ đương nhiên, nghệ nhân phải có giọng tốt, phải thuộc và diễn xuất hay tất cả các làn điệu, giọng nói cho từng nhân vật trong truyện…Mỗi nghệ nhân Hơ Amon phải vừa là nhạc sĩ kiêm ca sĩ, người bình giải và diễn viên thoại kịch, kiêm đạo diễn. Chính vì vậy, người biết hát – kể Hơ Amon rất hiếm, họ thường là nam giới và cha truyền con nối….Ở Làng Byang, huyện Kong Chro, tỉnh Gia Lai có bà Đinh Thị Tiếp , nay đã hơn 70 tuổi (?) là người phụ nữ duy nhất biết hát-kể Hơ Amon và thuộc lòng khá nhiều Hơ Amon được lưu truyền trong dân gian. Những nghệ nhân có tài đặc biệt càng hiếm, cả vùng mới có một người và được dân làng yêu quý trọng vọng hơn cả những già làng!
Tác giả của những Hơ Amon còn được lưu truyền lại cho đến nay là ai? Đó còn là điều bí ẩn. Số lượng
Hơ Amon đã có là bao nhiêu? Cũng chưa thể trả lời chính xác. Theo các nhà sưu tầm Folklore cho biết, Hơ Amon của người Ba-na
rất phong phú và đa dạng, ít nhất có khoảng hai chục cái, trong đó, cái ngắn nhất phải kể trong 7 giờ và cái dài nhất phải kể
trong 30 giờ. Hơ Amon còn ít được biết đến so với Khan của người Ê-đê và Hơri của người JRai…Đề tài
của Hơ Amon thường nói về chuyện các anh hùng thuở khai thiên lập địa, thuở sinh ra con người, chuyện những vị cứu tinh loài
người hay dân tộc khỏi những hiểm họa của mọi loại kẻ thù. Cũng không ít Hơ Amon có đề tài và cốt truyện về đời thường,
về tình yêu và sự ca ngợi cái đẹp, cái thiện đã chiến thắng cái xấu, cái ác… -./.
(Ghi chép Folklore)
*** Ảnh của honvietquochoc.com