T ừ xưa đến nay, mọi người vẫn quen hình ảnh của Tu sĩ : Đầu tròn, áo vuông. Đi đứng phải giữ Tứ oai nghi. Sống biệt lập ở trong các Chùa chiền. Không được có gia đình. Cả ngày chỉ tụng kinh, niệm Phật. Không làm ăn dính dáng gì đến thế gian. Từ cơm áo cho đến mọi nhu cầu của cuộc sống đều do các thí chủ lo liệu, cho rằng phải sống cuộc đời như thế mới được gọi là Tu Sĩ. Lực lượng Tu sĩ của nước ta khá đông. Đa phần là ở độ tuổi còn trẻ, có sức khỏe. Nhiều người có những nghề nghiệp chuyên môn rất cao, có những ngành nghề mà xã hội rất cần như Bác Sĩ, Luật Sư, Kiến Trúc Sư, Giáo viên… nhưng vì mến mộ đạo Phật nên cũng bỏ đời để “Xuất Gia đầu Phật”. Vào tu rồi thì họ chỉ toàn tâm toàn ý lo việc tu học, bỏ hết những gì trước kia đã học, coi như không còn dính tới những gì thuộc về thế gian. Có phải Đạo Phật là một con đường riêng biệt, tách lìa hẳn cuộc đời. Muốn tu hành là phải Xuất Gia, phải bỏ đời như xưa nay mọi người vẫn nghĩ không ? Kinh sách nói về việc tu hành ra sao ?
1/- Trước hết ta nói về từ PHẬT.
Đến thời này mà nhiều người vẫn còn cho rằng Phật là một vị Thần Linh đầy quyền phép, có thể cứu khổ ban vui, cứu độ Tam Thiên Đại Thiên thế giới, cứu độ cho bá tánh khi còn sống. Lúc chết đưa về Tây Phương Cực Lạc ! Họ không hiểu rằng từ PHẬT chỉ để nói về một người đã Giải Thoát khỏi những nỗi Khổ của cuộc đời. Người đầu tiên Chứng Đắc, thành Phật cũng là người sáng lập ra Đạo Phật là Đức Thích Ca.
2/- Nguyên do xuất gia cũng như cách thức hành trì được cho là Chứng Đắc của Đức Thích Ca :
Sử sách chép lại. Vì trông thấy con người phải chịu cảnh SINH, LÃO, BỆNH, TỬ, nên Thái Tử Sĩ Đạt Ta bỏ ngai vàng, vợ đẹp con thơ để tìm xem có cách nào để con người không phải chịu những cảnh đó không ? Hành trình được gọi là tu hành của Ngài được ghi lại như sau :
Sáu năm, học với sáu vị thầy giỏi nhất, nhưng chỉ học được Thần thông, phép mầu. Đức Thích Ca cũng từng kinh qua những phương pháp khác như Lõa thể, Khổ Hạnh, mỗi ngày chỉ ăn 1 hột mè đến cơ thể kiệt quệ, suýt chết, nhưng vẫn không tìm được câu trả lời. Cuối cùng Ngài chợt nghĩ ra : “Tinh thần không thể minh mẫn trong một thể xác yếu đuối”, nên đã nhận bát cháo sữa của cô gái chăn bò, rồi trải tòa cỏ, ngồi Thiền Định dưới một gốc cây bồ Đề với lời phát nguyện : “Sẽ không rời chỗ ngồi cho đến khi nào tìm được lời giải đáp cho điều đã trăn trở suốt bao nhiêu năm”. Rạng sáng đêm thứ 49 thì Ngài tìm được câu trả lời, nên xả Thiền, đứng dậy và hân hoan tuyên bố rằng Ngài đã tìm được KẺ LÀM NHÀ. Hắn không được Làm Nhà nữa , vật liệu của hắn.đã bị phá nát, Trí ngài đã đạt đến Vô Thượng Niết Bàn. Ngài đã hoàn toàn Giải Thoát.
Như vậy, cái gọi là Chứng Đắc của Đức Thích Ca chỉ là tìm được thủ phạm đã gây ra cảnh SINH TỬ LUÂN HỒI của con nguời và cách thức để Giải Thoát khỏi cảnh Khổ của kiếp sống mà thôi. Không có thần thông, phép màu nào để cứu rỗi hay ban ơn, giáng phúc cho ai được hết.
3/- Giáo pháp của Đạo Phật gồm : Giải thích về nguyên nhân của nỗi Khổ và cách thức để Trừ Khổ.
Sau khi Đắc Pháp, Đức Thích Ca đã trở lại Vườn Lộc Uyển, nơi khi trước Ngài cùng tu Khổ Hạnh với 5 người bạn, rồi thuyết thời pháp đầu tiên để “độ” cho họ. Thời Pháp đó có tên là TỨ DIỆU ĐẾ.
Lý do vì sao Phật thuyết TỨ ĐIỆU ĐẾ , là vì nhiều người cũng muốn tu hành, nhưng do không xác định được mục đích. Không hiểu Lý do có những nỗi KHỔ trong cuộc đời. Khi chưa hiểu vì sao có KHỔ thì không thể nào biết được cách thức để tháo gỡ được.
Theo Đức Thích Ca thì người muốn Thoát Khổ phải thấy KHỔ, thấy nguyên do làm ra những nỗi KHỔ, biết cách thức để tiêu diệt những nỗi KHỔ thì mới hết KHỔ được.
Để hiểu về Khổ và cách thức để Thoát Khổ thì có Pháp TỨ DIỆU ĐẾ.
TỨ DIỆU ĐẾ gồm có : KHỔ ĐẾ, TẬP ĐẾ, DIỆT ĐẾ, và ĐẠO ĐẾ.
KHỔ ĐẾ nói về những nỗi Khổ lớn nhất của con người : Đó là SINH, LÃO, BỆNH, TỬ.
TẬP ĐỂ :Là những sự huân tập làm cho nỗi Khổ không kết thúc được.
DIỆT ĐẾ : Là cách chấm dứt nỗi KHỔ
ĐẠO ĐẾ : Là con đường để chấm dứt nỗi KHổ.
Vào tu Phật mục đích là để THOÁT KHỔ. Vì vậy, người tu học cần biết Đức Thích Ca đã giải thích về những cảnh KHỔ như thế nào ?
Theo Đức Thích Ca, đã SINH ra, đã Có Thân là phải KHỔ. Phải vất vả lo kiếm thức ăn để nuôi cái Thân. Phải đối phó với trăm thứ ngoài xã hội. Sơ sẩy một chút là bị lừa đảo, cướp giật, bị chèn ép, bị người coi thường. Ngoài những nỗi Khổ do các pháp bên ngoài đưa tới thì nơi tự thân cũng có những nỗi KHỔ. Đó là Già, Bệnh và cuối cùng cái Chết là nỗi Khổ lớn nhất của con người. Vì thế, dù cuộc sống có vất vả, cực khổ cỡ nào cũng không ai muốn chết. Một phần phải xa lìa những người thân yêu. Phải bỏ lại những gì mình yêu thích, tích góp lâu nay. Phần khác là không biết sau khi rời cái Thân là chỗ trú ẩn quen thuộc thì sẽ về đâu ?
Theo Đạo Phật giải thích. Con người không chỉ có Cái Thân Tứ Đại hữu tướng, mà trong cái Thân giả tạm này còn có cái CHÂN TÁNH hay còn gọi là BỔN THỂ TÂM. Nó Vô tướng, bất sinh, bất diệt. Cái CHẾT là sự tan rả của Cái Thân Tứ Đại Giả tạm. Cái CHÂN TÂM hay CHÂN TÁNH không Chết, mà sẽ theo NHÂN - là những gì trong thời gian sống trong cái Thân đã gây tạo - để tiếp tục nhận lấy một cái THÂN TỨ ĐẠI GIẢ TẠM khác để Trả.
Dù cuộc sống đã phải đương đầu với những nỗi KHỔ, nhưng con người không tìm cách để chấm dứt, mà cứ theo thói quen, lại Tạo Nghiệp, để cái Khổ cứ liên tục, hết kiếp này sang kiếp khác, triền miên không dứt, gọi là Luân Hồi.
Muốn Hết Khổ thì phải học DIỆT ĐẾ. Diệt Đế là cách thức để kết thúc nỗi Khổ, và cuối cùng là ĐẠO ĐẾ, là Con Đường để chấm dứt nỗi Khổ.
Tóm lại là vì không biết rằng cuộc sống không kết thúc sau khi bỏ Cái Thân, nên con người đã tạo Nghiệp. Vì thế, sau khi Cái Thân đang mang hết Nghiệp gọi là Chết, thì Thần Thức phải theo Nhân Quả đã gây tạo mà nhận một cái Thân mới để Trả hay hưởng những gì đã gây, làm thành Vòng Sinh Tử. Hết Tử lại Sinh, hết Sinh lại Tử, gọi là Luân Hồi. Vòng SINH TỬ này lại liên quan đến 12 Nhân Duyên. Khởi đầu là VÔ MINH. Do Vô Minh nên đã sinh ra hành động, cộng thêm 11 Duyên khác chuyền níu với nhau làm thành một vòng gọi là Vòng Luân Hồi. Vòng này chỉ chấm dứt khi chặt được mắt xích chính là VÔ MINH. Vô Minh tức là mê mờ, là không sáng suố.
Muốn kết thúc Vòng Luân Hồi thì phải Trừ VÔ MINH bằng cách Quán sát, Tư Duy để có Trí Huệ mà phân biệt rõ thế nào là Giả, thế nào là CHÂN. Biết Cái Thân này chỉ do Tứ Đại hợp thành để Trả Nghiệp. Thời gian nào đó sẽ hư hoại. Do đó, nó không phải là MÌNH THẬT. MÌNH THẬT hay BỔN THỂ TÂM là cái CHÂN TÂM, hay CHÂN TÁNH, Vô Tướng, bất sinh, bất diệt, cũng ở trong cái thân Giả tạm này. Người tu phải tìm, phải Thấy cho được nó gọi là THẤY TÁNH. Sau khi Thấy Tánh rồi thì cái TÁNH sẽ hướng dẫn cho mình ngưng Tạo Ác Nghiệp để có tái sinh cũng không bị đọa vào những đường xấu.
Để Thoát Khổ, người tu sẽ được hướng dẫn để chỉ Hành theo TÁM CON ĐƯỜNG CHÂN CHÁNH gọi là BÁT CHÁNH ĐẠO.
BÁT CHÁNH ĐẠO có 8 điều phải làm, phân ra :
CHÁNH MẠNG, CHÁNH NGHIỆP thuộc về cái THÂN
CHÁNH NGỮ thuộc về KHẨU
CHÁNH KIẾN, CHÁNH TƯ DUY, CHÁNH ĐỊNH, CHÁNH NIỆM thuộc vế Ý và CHÁNH TINH TẤN cho cả ba Thân Khẩu Và Ý.
Người tu Phật muốn được Giải Thoát, hết Khổ thì THÂN, KHẨU và Ý phải Hành theo TÁM Con đường Chân Chánh này. Phải suy nghĩ cho kỹ trước mọi hành động. Có Suy Nghĩ Chân Chánh thì mới sinh ra hành động Chân Chánh. Không chỉ không Nghĩ Ác, Hành Ác. Nghề Nghiệp, việc làm ăn để nuôi thân cũng phải Chân Chánh, Mục đích là để THÂN, KHẨU và Ý luôn chân chánh. Không gây Nhân xấu để không bị Quả Xấu. Người giữ đúng Bát Chánh Đạo thì sẽ không tạo Nghiệp Ác, nên hiện kiếp được hạnh phúc, an vui. Sau khi hết Nghiệp, bỏ cái Thân hiện tại để đi đến kiếp nào cũng sẽ được về nơi tốt đẹp. Đó là mục đich của Đạo Phật, không phải là Tứ Quả Thánh hay Niết Bàn, Phật Quốc mà phải đợi sau khi chết mới được về.
Về những người rao giảng Đạo Phật từ xưa đến nay thì ngoài một số Tông, thì có hai Phái lớn nhất cùng song song rao giảng Đạo Phật, đó là ĐẠI THỪA và TIỂU THỪA được hình thành như sau :
Bên ĐẠI THỪA thì trước khi Phật nhập diệt, Ngài đã Truyền Y bát lại cho Tổ Ca Diếp và dặn dò nối truyền Chánh Pháp, không để bị dứt diệt. Sau đó, Ca Diếp truyền xuống cho Ngài A Nan. Nhưng đến đời Tổ Thứ Tư thì Các Trưởng Lão tách ra, lập thành một nhóm riêng, ban đầu gọi là TIỂU THỪA, để phân biệt với nhóm do Tổ Thứ Tư lãnh đạo gọi là ĐẠI THỪA.
Sở dĩ có tên gọi là TIỂU THỪA vì Tiểu Thừa là cổ xe nhỏ, chỉ “độ” được cho bản thân, ĐẠI THỪA là cổ xe lớn, có thể “độ” cho nhiều người.
Dù cả Hai Thừa đều chấp nhận một số Giáo Pháp căn bản của Đạo Phật là Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Bát Chánh Đạo, Nhân Quả. Nhưng giải thích về Quả Vị, Chứng Đắc thì khác nhau. Bên ĐẠI THỪA thì cho rằng “Tất cả chúng sinh đều có thể tu hành Thành Phật” . Và thành Phật không phải là thành Thần Linh, mà chỉ là hoàn tất việc giải Khổ cho bản thân, vì vậy, Cư sĩ cũng có thể tu hành thành Phật giống như Tu Sĩ. Điển hình là Cư Sĩ DUY MA CẬT trong Kinh DUY MA CẬT, là một trưởng giả, có vợ, con, thê, thiếp, vẫn kinh doanh, làm ăn, giàu có, nhưng khi tu hành thì trí huệ còn hơn một số đệ tử của Phật. Quan trọng là Thấy Tánh hay ngộ được BỔN THỂ TÂM, không phải là do giữ thật nhiều Giới và hành hạ cái Thân bằng Khổ hạnh, vì cho rằng lỗi không phải do nó !.
Bên TIỂU THỪA thì cho rằng tu hành là để đạt Tứ Quả Thánh. Do đó, người tu phải bỏ đời, phải Xuất Gia, phải sống đời độc thân, thanh tịnh để phụng sự cho Phật. Quả vị cao nhất của TIỂU ThỪA là A La Hán. Người được cho là đắc Quả A La Hán nhờ quán sát thấy Các Pháp là KHÔNG, Do thấy con người sở dĩ Khổ là do Các Pháp tấn công. Vì thế, họ cho rằng đời là ô trược, cần phải xa lánh để được thanh tịnh.
Bên ĐẠI THỪA thì cho rằng mục đích của tu hành là để THOÁT KHỔ hay Giải Thoát. Quả Vị chỉ là phương tiện để cho người muốn hơn đời cố gắng để đạt được mà chịu xả bỏ những thứ đang ôm giữ, cũng để được Giải Thoát mà thôi. Tất nhiên chúng ta nên tin theo lời dạy của Tổ ĐẠI THỪA hơn, vì Tổ ĐẠI THỪA mới là người chính thức được Phật Truyền Y Bát có trách nhiệm nối truyển Chánh Pháp. Phía các Trưởng Lão, dù không được giao cho nhiệm vụ giảng Pháp, nhưng đã tự tách ra lập nhóm để giảng dạy vì cho rằng mình đã tu hành lâu năm, mà không biết rằng trong Đạo Phật, không kể tu lâu hay mới, nếu chưa Chứng Đắc, chưa Thấy Tánh thì không có quyền Giảng Pháp.
Trong SÁU CỬA VÀO ĐỘNG THIẾU THẤT, khi Tổ Đạt Ma giải thích : “Nếu thấy Tâm mình là Phật thì không cần cắt tóc, cạo râu. Hàng Bạch Y vẫn là Phật. Nếu không Thấy Tánh. Cắt tóc, cạo râu vẫn là ngoại đạo”, thì có câu hỏi được đặt ra : “Hàng áo trắng có vợ con, dâm dục không trừ, bằng vào đâu mà thành Phật được” ?
Tổ đáp : Tôi chỉ nói Thấy Tánh, chẳng nói dâm dục. Chỉ cần Thấy Tánh mới vỡ lẽ rằng từ vô thỉ thì dâm dục vẫn là không tịch, chẳng có gì phải giả dối dứt trừ, mà cũng không mắc vào dục lạc.
Thậm chí Tổ còn dạy : Nếu Thấy Tánh, Chiên Đà La cũng thành Phật được.
Hỏi : Chiên đà la gây nghiệp chết chóc, sao gọi là thành Phật được ?
Tổ đáp : Tôi nói Thấy Tánh, chẳng nói gây nghiệp. Tuy nghiệp gây ra chẳng đồng, nhưng dẫu sao vẫn không một nghiệp nào ràng buộc được “Nó”. (NÓ đây là cái CHÂN TÁNH. NghiỆp chỉ tác động lên những gì Có Tướng. Chân Tánh là Vô Tướng nên không bị ràng buộc bởi Nghiệp).
“Từ vô lượng kiếp đến nay, chỉ vì không Thấy Tánh nên đọa Địa Ngục, bởi gây nghiệp Sanh Tử Luân Hồi.
Nếu Thấy được Bổn Tánh rồi, rốt cùng vẫn không có gì gọi là gây Nghiệp cả.
Nếu không Thấy Tánh thì niệm Phật, tỏ báo kia còn chẳng được, huống nữa luận về việc giết mạng sống.
Nếu Thấy được Tánh thì mọi ngờ vực trong Tâm phút chốc trừ ngay, thì việc giết mạng sống còn đặt lên làm sao được chứ ?
Phật trước Phật sau chỉ nói Pháp Truyền Tâm, ngoài ra không Pháp nào khác. Nếu thấu rõ Pháp ấy thì phàm phu ngu dốt chẳng biết một chữ cũng vẫn là Phật”.
Trong PHÁP BẢO ĐÀN KINH, Lục Tổ Huệ Năng giải thích :
“Chư Thiện Tri Thức, muốn tu hành thì ở nhà tu cũng đặng, chẳng cần ở Chùa. Ở nhà mà thường tu hành thì cũng như người Đông Phương có lòng lành. Ở Chùa mà chẳng tu thì cũng như người Đông Phương có lòng dữ. Nếu lòng trong sạch thì Tánh mình tức là Tây Phương vậy”.
Nhiều người do chưa hiểu rõ Mục Đích của Đạo nên cũng không hiểu được phương tiện mà Phật đã dùng để hướng dẫn con người vào con đường tu hành. Chúng ta nên biết, vì con người quá mê đắm với vật chất của thế gian, để rồi tạo Nghiệp, nên Đạo Phật phải phương tiện cho rằng trần gian là Bể Khổ, tu hành theo Đạo Phật là để Trừ Khổ. Cái Trừ Khổ này phải ứng dụng vào mọi hoàn cảnh không phân biệt : độc thân hay có gia đình. Già, trẻ, giới tính, vì hoàn cảnh nào mà không phải KHỔ, không phải theo quy luật SINH, LÃO, BỆNH, TỬ ? Và chúng ta thử hỏi : Người độc thân làm được gì cho Đạo ? Cho Đời ? Phật cần họ độc thân để làm gì ? Hơn thế nữa, nếu người đời xúm nhau tu hành, bỏ đời, sống độc thân hết thì lấy ai xây dựng xã hội ? Chư Phật muốn vào đời để cứu độ chúng sinh thì mượn đường nào ?
Chính những người không hiểu Đạo mới quan trọng hóa con đường Tu Phật. Cho là tu là để thành Thánh, thành Phật, để đạt Quả Vị, nên muốn tu hành thì phải tách biệt khỏi thế gian. Phải có đầy đủ hình tướng. Phải ở trong Chùa, không được dính tới thế gian, mọi việc lớn nhỏ đều giao cho thí chủ, làm hạn chế con người không dám Phát tâm tu hành., vì vào tu rồi thì chỉ chuyên phụng sự cho Phật, ngày đêm tụng Kinh, Niệm phật, Thiền Định để chờ ngày Phật rước về Tây Phương Cực Lạc. Những người này đã hình thành một nhóm Tu Sĩ, chuyên sống để tu hành, bắt bá tánh phải phục vụ cho mình, không dính đến việc đời rồi cho rằng mình “thoát tục” !
Trong khi đó, thử kiểm điểm quy trình tu tập, chúng ta thấy : Đầu tiên, người muốn tu phải thấy đời là khổ, phát tâm muốn Thoát Khổ. Nhưng cứ tưởng cái Khổ đó ở trong cuộc đời, xa lánh cuộc đời là sẽ hết Khổ. Không ngờ nó ở ngay trong cái CHẤP của mỗi người. Nó chính là cái VỌNG TÂM của mỗi người, không phải ở ngoài cuộc đời. Vì thế, khi tu hành là phải tìm CÁI VỌNG TÂM để sửa chữa nó, biến nó từ VỌNG trở về CHÂN, gọi là “Phản Vọng Quy Chân” hay còn gọi là TU TÂM, đâu phải là núp trong Chùa để tránh né thế gian, hay chê chán cuộc đời ?
Thoạt tiên, người tu được giao cho giữ NGŨ GIỚI, nhưng chỉ là “Những gì mình không muốn người khác làm cho mình thì đừng làm với người”. GIỚI chính là căn bản để chuyển hóa Thân, Tâm, để biết là người giữ nó sẵn sàng đi theo con đường mới, được bảo vệ trong vòng đai an toàn. Người tu có thể ít nghe Pháp, không có nhiều thì giờ để Thiền Định, nhưng nếu không có GIỚI thì không thể nào tiến bộ được, vì GIỚI chính là bờ bao để người vẫn đi trong đó là vẫn còn đi trong Đạo.
BÁT CHÁNH ĐẠO cũng chỉ để giúp con người kiểm soát từ Ý thức cho đến thực hiện đều chân chánh. Có CHÁNH TƯ DUY thì mới có CHÁNH KIẾN để từ đó không suy nghĩ hay hành động thiên hướng xấu để Thân, Khẩu và Ý đều sạch Ba Nghiệp. 32 TƯỚNG TỐT, 80 VẺ ĐẸP của Phật xem kỹ thì cũng chỉ là Giữ Giới, chỉ nói lời chân thật, đối tốt, giúp đỡ mọi người trong xã hội, đâu phải là để thành ông Phật nào, chỉ là một con người tiếp tục sống giữa cuộc đời, nhưng nhờ Giới và Bát Chánh Đạo mà Thân, Tâm được an vui, hạnh phúc, không bị khổ đau vùi dập nữa gọi là đạt Hữu Dư Y Niết Bàn.
Hàng Nhị Thừa cứ theo Văn tự mô tả 32 TƯỚNG TỐT CỦA PHẬT, rồi dùng vàng, bạc, đá, cây, xi măng.. đúc, tạc ra tượng Phật để thờ, mà không biết rằng mỗi người tu phải dùng những Tướng đó rồi tự chạm, khắc bằng những công việc làm để hoàn thành TƯỢNG PHẬT của chính mình. Kinh ĐẠI PHƯƠNG TIỆN PHẬT BÁO ÂN viết : Mỗi một Tướng Tốt đều là kết quả của sự tu diệu hành của Bồ Tát từ lúc mới Phát Tâm Bồ Đề kiên cố cho đến khi thành đạo Vô Thượng Bồ Đề”.
Thí dụ Tướng BÀN CHÂN BẰNG PHẲNG :
. “Như lai đã từng trong vô lượng A Tăng kỳ kiếp dốc lòng tu trì Tịnh Giới, cho nên nay mới được cái TƯỚNG BÀN CHÂN BẰNG PHẲNG.
. Nhờ dùng Tứ Nhiếp Pháp giúp đỡ chúng sinh, nên được TƯỚNG NGÓN TAY CÓ NHIỀU VÂN.
. NhỜ công tu tập các pháp lành không biết chán mỏi nên được TƯỚNG BỤNG TRÒN ĐẦY ĐẶN.
. Nhờ không nói lưỡi hai chiều và làm cho những người tranh giành phải hòa thuận mà được TƯỚNG CÓ 40 RẰNG. TƯỚNG RĂNG KHÍT KHÔNG HỞ KẼ. TƯỚNG RĂNG BẰNG NHAU, ĐỀU ĐẶN.
. Thường bố thí chúng sinh pháp vị vô thượng. Gặp nguời hay quên thì cho trí nhớ. Tự mình giữ Năm Giới, lại dạy cho nguời cùng giữ, tu tập lòng từ. Hay bố thí pháp cho mọi người. Nhờ nhân duyên ấy mà được TƯỚNG NHỤC KẾ, TƯỚNG LƯỠI DÀI RỘNG. <:I>
Để có những TƯỚNG TỐT của Phật, người tu phải tự hành trì. Công năng hành trì được gọi là chạm, khắc, Tượng Phật của bản thân. Kinh ĐẠI PHƯƠNG TIỆN PHẬT BÁO ÂN viết : “Đó là 32 TƯỚNG. Tuy có những nhân duyên khác nhau, nhưng nhân duyên chính là cái Nhân “Trì Giới” và “Tinh Tiến”. Tại sao vậy ? Vì nếu không chịu Trì Giới và siêng tu Tinh Tiến thì đến thân người còn chằng được làm, nói chi đến BA MƯƠI HAI TƯỚNG !.
Chính Kinh giải thích rất rõ : “Phật là vô tướng, do vô lượng công đức mà thành”, tức là ĐỨC THÍCH CA vì thương con người nên bày ra rất nhiều phương tiện dạy hành trì để có được những TƯỚNG TỐT của Phật, thật ra chỉ là để giáo hóa cho con người CẢI ÁC, HÀNH THIỆN. Nói thành Thánh, Thành Phật, nhưng chỉ là không tạo Ác Nghiệp để không những kiếp hiện tại được hạnh phúc, an vui, mà kiếp sau – nếu có – càng tốt đẹp hơn bởi Nhân Thiện đã gây tạo.
Do không hiểu PHẬT chỉ có nghĩa là Giải Thoát, nên nhiều người đã biến PhẬt thành một Vị Thần Linh có quyền cứu độ cho bá tánh. Biến Đạo Phật thành một Tôn Giáo chuyên Thờ Phật như những tôn giáo Thần Quyền khác. Biến những Bồ Tát tượng trưng cho những việc cứu độ cho Chúng sinh trong tâm trở thành những Hộ Pháp bên ngoài để cầu xin. Biến bá tánh trở thành là những “Gã Cùng Tử” lúc nào cũng cầu xin được che chở, cứu khổ, cứu nạn, và Tu Sĩ trở thành những trung gian chuyển lời cầu xin của bá tánh đến Phật ! Họ quên rằng Đạo Phật là Đạo Nhân Quả, tức là mỗi người tư thay đổi số phận mình bằng Nhân Quả, không phải bằng cầu xin, trao đổi, vì Chư vị Giác Ngộ quá khứ cũng phải tự mình tu, tự mình hành trì để có kết quả. Đó mới là Đạo Phật chân chính.
Cũng không cần phải Cạo tóc, đắp Y, vì những hình ảnh đó tượng trưng cho việc mà người tu cần làm trong cuộc sống : CạO TÓC là cạo sạch phiền não. Đắp Y là trùm phủ lên Thân, Tâm một màu thanh tịnh, không nhiễm Sắc trần. Nếu người tu chỉ chăm lo phần hình tướng mà quên điều quan trọng là chuyển hóa cái Tâm cho nó hết phiền não thì đâu có ích lợi gì.
Mọi người cũng không cần cúng dường để ai tu hành giùm cho mình, mà Tự tu, Tự Độ. Việc tu Phật cũng không cần nơi ở, không cần hình tướng, không phân biệt giới tính, trình độ, nghề nghiệp. ĐẠI THỪA KIM CANG KINH LUẬN viết :
“Người Đại Giác Ngộ được gọi là Bồ Tát, biết được các pháp khẩu quyết chơn chánh bí mật của Phật. Nếu có Thiện Nam Tử, Thiện nữ nhơn nào hiểu được, nghe được pháp khẩu quyết của Bồ Tát giáo hóa liền tin tưởng đều là chánh nhơn, chánh quả.
Vậy cho nên, người thiếu niên tu hành được Chánh Pháp ấy liền thành phật đạo. Người Hai mươi tuổi tu hành được chánh Pháp ấy cũng thành Phật Đạo. Người Ba Mươi tuổi tu hành được Chánh Pháp ấy cũng thành Phật Đạo.
Người 40,
Người 50,
Người 60
Người 70,
Người 80 tu hành được Chánh Pháp ấy cũng thành Phật đạo.
Người nữ nhơn tu hành được Chánh Pháp ấy cũng thành Phật Đạo.
Người giàu sang tu hành được Chánh Pháp ấy cũng thành Phật Đạo.
Người bần tiện tu hành được Chánh Pháp ấy cũng thành Phật Đạo.
Người vua chúa tu hành được Chánh Pháp ấy cũng thành Phật đạo
Người quan liêu tu hành được Chánh Pháp ấy cũng thành Phật đạo. Cho đến nhơn và phi nhơn tu hành được chánh pháp ấy cũng thành Phật Đạo.
Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn nói bài Kệ rằng :
“Nếu có người Nam hay Nữ
Gặp được chơn Minh Sư
Tu hành đặng Chánh Pháp
Tất cả đều Thành Phật”
Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA cũng không hề phân biệt thứ hạng, nơi chốn giai cấp để tu hành :
“Cõi nước chỗ nào nếu có người thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép, đúng như lời tu hành, hoặc là chỗ có quyển Kinh, hoặc trong vườn, hoặc trong rừng, hoặc dưới dây, hoặc Tăng Phường, hoặc nhà Bạch Y, hoặc ở điện đường, hoặc núi hang đồng trống, trong đó đều nên dựng tháp cúng dường.
Vì sao ? Phải biết chỗ đó, chính là đạo tràng, các ĐứcPhật ở đây mà đặng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Các đức Phật ở đây mà Chuyển Pháp Luân. Các đức Phật ở đây mà nhập Niết Bàn”.
Như thế, ta thấy Chính Kinh đã nói rất rõ : “ Chỗ nào có người tu hành, ở Tăng Phường hay nhà Bạch Y, trong rừng, trong vườn hoặc núi hang đồng trống… thì đó chính là Đạo Tràng, các Đức Phật ở đây mà đặng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Các Đức Phật ở đây mà Chuyển Pháp Luân. Các Đức Phật ở đây mà nhập Niết Bàn”, đâu nhất thiết phải Chùa to, tách biệt với thế gian ? Nguợc lại, Lục Tổ Huệ Năng còn dạy :
Phật Pháp tại thế gian.
Bất ly thế gian giác
Ly thế mịch Bồ Đề
Cáp như cầm thố giác.
Có nghĩa là Phật Pháp ở tại thế gian. Không rời thế gian mà giác ngộ. Rời thế gian mà tìm Bồ Đề thì cũng như đi tìm sừng thỏ, bởi có ràng buộc, đau khổ mới tìm giải thoát. Những người đã xa lánh thế gian, núp sau cánh cửa Chùa, không gặp nghịch cảnh, không phải đối mặt với cơm, áo, gạo tiền, thì có gì đau khổ nữa để cầu Giải Thoát ?
Tóm lại. Con người đã sinh ra là phải sống giữa cuộc đời cho đến hết kiếp. Đức Thích Ca thấy rằng cuộc đời con người ngắn ngủi, không đầy một trăm năm mà phải chịu biết bao nhiêu nỗi Khổ, nên Ngài bày ra cách thức, gọi là Đạo Phật – tức là con đường để Thoát Khổ - để con người học theo đó. Bỏ những thứ cần bỏ, hành những việc cần hành, để có được cuộc sống an vui, hạnh phúc.
Muốn vậy, mỗi người phải nhận thức rõ về bản thân, về Các Pháp, về những gì đem lại sự ràng buộc, cách thức để tháo gỡ rồi thực hành từng bước, do đó mà phải Quán Sát, Tư Duy.
Trước kia mọi người vẫn cho Cái THÂN là mình, rồi ở trong đó Thương, Ghét, Tham Sân Si với các pháp. Tranh giành nhưng thứ mình thích để phục vụ cho bản thân, cho gia đình, bất chấp hậu quả, làm cho xã hội thêm rối loạn, trong khi Cái Thân không phải là Mình, chỉ ở với mình một thời gian có hạn mà thôi.
Đức Thích Ca phân tích ra cho thấy : Cái THÂN của mỗi người chỉ là THÂN NGHIỆP, tức là nó được hình thành mục đích để Nhận hay TRả những gì đã làm ở Thân trước. Hết Nghiệp, hết Duyên sẽ trả lại cho Tứ Đại. Nó không phải là MÌNH. Vì vậy, mỗi người cần Quán Sát, Tư Duy để tìm CÁI THẬT MÌNH hay còn gọi là CHÂN TÁNH hay BỔN THỂ TÂM. Thấy được, gặp được cái TA THẬT thì không còn bám víu lấy cái TA GIẢ để tạo Nghiệp nữa thì sẽ được Thoát Khổ.
Nhưng nhiều thế hệ qua, nhiều người muốn tu hành lại không hiểu điều đó. Họ không đọc rồi hiểu cho rõ, chỉ thấy Kinh viết về Phật quá cao cả, có quyền năng để “cứu độ tam thiên đại thiên thế giới”, “cứu độ chúng sinh”, “đưa chúng sinh thành Phật”, nên quá ngưỡng mộ, rồi xuất gia tu hành lại là hy sinh cuộc đời “để phụng sự cho Phật” ! Trong khi đó Phật đã nhập diệt cả mấy ngàn năm rồi. chúng ta sẽ phụng sự cách nào ? Ngài đâu cần chúng ta phụng sự ? Điều Ngài cần là mọi người Thành Phật như Ngài, để hết Khổ, không phải là để cất Chùa to, tượng lớn để tôn vinh Ngài !
Những kẻ chê cuộc đời là ô trược rồi bỏ đời, đứng bên lề cuộc đời đã đi ngược lời dặn dò của Phật. Phật đã dùng bao nhiêu phương tiện để khuyến tu. Nhưng cuối cùng, khi người tu đã Xả hết những điều cần Xả, hoàn tất những điều cần làm, thì Phật dạy phải đền TỨ ÂN, trong đó có Ân Phụ Mẫu, Ân Đất Nước, Ân Phật, Ân Thầy, Ân Chúng sinh. Tức là mọi người ngoài làm bổn phận người con đối với ông bà, cha mẹ thì cần chung tay để xây dựng cuộc đời cho thêm tốt đẹp để trả ân cuộc đời. Thế nhưng, do hiểu sai mà nhiều người chẳng những bản thân không trả ân cuộc đời, mà nhiều thế hệ qua còn khuyến khích bao nhiêu lớp người chê đời, bỏ đời, sống bên lề cuộc đời như họ, với danh nghĩa tu hành, “hộ trì Chánh Pháp” !
Trong khi đó, thử nhìn lại thì chúng ta thấy : Cuộc đời đâu có lỗi gì ? Đâu có ô trược. Đâu có làm cho con người đau Khổ ? Trái lại ngoài phong cảnh thiên nhiên tuyệt vời. Sông nước mênh mông cung cấp nước tưới cho vườn tược xanh tốt. Bốn mùa lúc nào cũng đầy hoa thơm, trái ngọt, thực phẩm dồi dào đủ nuôi bao nhiêu con người trên trái đất. Chỉ tại con người không chịu sống an vui, hòa đồng với nhau, mà Tham, Sân, Si, ganh ghét, đố kỵ, chia phe phái, rồi chế tạo bom đạn mang ra tàn sát lẩn nhau làm cho cuộc sống không yên. Chính vì vậy, khi vào tu Phật, mọi người được dạy Quán Sát, Tư Duy để tìm ra thủ phạm của những đau khổ diễn ra trong kiếp sống con người. Hóa ra nó không phải ở vũ trụ, thế gian, hay ở nơi các đối thủ, mà là ở nơi CÁI VỌNG TÂM của mỗi người. Do đó, người muốn tu, muốn hết Khổ thì phải theo hướng dẫn của Đạo Phật để trừ Khổ. Đó là tìm được cái VỌNG TÂM – nguyên nhân của những nỗi Khổ - để chuyển hóa nó. Biến nó từ VỌNG, thành CHÂN. Từ MÊ LẦM thành Giác Ngộ. Khi cái Tâm đã sáng suốt thì nó sẽ không còn điều khiển cho Lục Căn tạo Nghiệp nữa. lúc đó hành giả sẽ được an vui, hạnh phúc tại kiếp sống gọi là Hữu Dư Y Niết Bàn. Không chỉ hiện kiếp Thoát Khổ, mà có đi đến kiếp nào cũng sẽ được an vui, tốt đẹp hơn, nhờ không gây Ác Nghiệp, mà tạo Thiện Nghiệp.
Do vậy, vào tu Phật không phải là để đạt Quả Vị, được thành Thánh, thành Phật, mà chỉ là để Thoát Khổ, Thoát Sinh Tử Luân Hồi. Đạo Phật phổ cập cho tất cả : Người già hay trẻ, nam hay nữ, độc thân hay có gia đình. Ở trong Chùa hay ngoài đời, làm bất cứ ngành nghề nào…nếu y theo cách thức tu hành theo Chánh Pháp thì cũng đều có kết quả Thoát Khổ như nhau.
Sở dĩ có sự phân biệt giữa Tu Sĩ và Cư Sĩ rồi Tu Sĩ tự xem như mình có nhiệm vụ “Hoằng dương Chánh Pháp”. Ngày tháng họ chỉ chuyên tâm tụng Kinh, niệm Phật, học Pháp, thuyết pháp, và Cư Sĩ là những người bận bịu việc đời, không có điều kiện để Xuất Gia, có nhiệm vụ cúng dường, hỗ trợ cho họ để họ yên tâm mà tu hành, quên là nếu họ có chứng đắc thì cũng chỉ bản thân họ nhờ ! Đó là do những người chưa thuộc hết Giáo Pháp của Phật mà lại đi rao giảng Đạo Phật ! Bản thân họ chưa biết mục đích của Đức Thích Ca khi mang Đạo Phật vào đời là để bình đẳng tế độ cho mọi người, mọi giới, nên quan trọng hóa việc tu hành. Cho rằng người muốn tu hành thì bắt buộc phải ly gia, cắt ái. Phải đầy đủ hình tướng. Phải giữ đến hàng mấy trăm Giới. Phải bỏ nhà cửa, cha mẹ. Không được có gia đình. Không được tham gia việc đời thì mới tu được ! Thế nhưng, những gì họ hướng dẫn cho bá tánh lại là THỜ PHẬT và cầu xin được độ. Sống thì Cầu An, chết thì Cầu Siêu mà không biết rằng Phật không phải là Thần Linh, nên không có quyền năng để ban ân, giáng phúc, đổi xấu, lấy tốt cho ai ! Trong khi điều Phật mong mỏi là mọi người đều Thành Phật thì họ không làm được, mà chỉ tổ chức nhiều Lễ hội rình rang, cờ xí, hoa đăng rộn ràng, màu mè sắc tướng để tôn vinh Phật ! Điều đó đối với Đạo Phật là hoàn toàn không cần thiết, vì “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”. Họ đã biến Đạo Phật thành Thần Quyền, Nhị Thừa, tôn sùng và cầu xin Giáo Chủ y như những tôn giáo khác, không còn là Đạo Nhân Quả, mỗi người tự tu, tự hành trì để được Giải Thoát như lời Phật dạy nữa !.
Trong Đạo Phật có một nguyên tắc bất di bất dịch : Đó là không phải do tu lâu năm, giữ Giới kiên cố, lập được nhiều Hạ, giảng pháp
thông thạo, chiêu mộ được nhiều người Quy Y theo Phật, mà phải là người Thấy Tánh hay Chứng Đắc mới được quyền rao giảng Đạo Phật. Hiện tượng
Đạo Phật ngày nay đã biến tướng, trở thành Nhị Thừa, Quyền Thừa với Phật Tử là những “Gã Cùng Tử”, lúc nào cũng cầu xin, cúng kiến để đổi
xấu lấy tốt đã chứng minh lời Phật dặn dò là chính xác, và những người tự cho là “Hoằng dương Chánh Pháp” lại chỉ hướng dẫn cho bá tánh Thờ
Phật, tôn vinh Phật bằng những nghi thức mang màu sắc mê tín, thần quyền mà không thấy rơi vào cảnh báo của Phật Ngôn :
“Kẻ nào ca ngợi ta, tán thán ta mà không làm theo lời ta chỉ dạy. Kẻ đó đang phỉ báng nặng nề ta” . Vì vậy, chỉ có
những người không sợ Nhân Quả mới dám thản nhiên tiếp tục vậy !. -./.
Tháng 8 Năm 2025
