1. Từ láy với Từ Hải cho đến lúc triều đình riêng một góc trời.
Chúng ta đều biết Từ Hải đã đến với cuộc đời Kiều như một vì sao lạ, một vị cứu tinh. Nét tiêu biểu của Từ Hải là tính ngang tàng, lòng kiêu hãnh, tình yêu đắm đuối, ba tính cách nền tảng trong tâm hồn của người anh hùng. Chàng xuất hiện đột ngột với phụ từ bỗng đâu trong đoạn thơ sau:
2165. Lần thâu gió mát trăng thanh,
Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi.
2167. Râu hùm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao,
2169. Đường đường một đấng anh hào,(1)
Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài,
2171. Đội trời đạp đất ở đời,
Họ Từ tên Hải, vốn người Việt Đông.
2173. Giang hồ quen thú vẫy vùng,(2)
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.
Chỉ bằng hai từ láy đường đường, vẫy vùng, Nguyễn Du đã nói lên cái sức mạnh tinh thần được biểu hiện cụ thể thành hành động của Từ Hải, khí phách của một người anh hùng mà ông yêu quý. Chàng đã có tất cả những biểu hiện bên ngoài khiến mọi người phải kính trọng và có năng lực hoạt động một cách tự do, không chịu một sự kiềm chế nào.
Đến khi chàng dứt áo ra đi thì trời bể cũng trở thành rộng lớn đến mức gây cảm giác mung lung, mờ mịt mà Nguyễn Du đã phải dùng từ láy mênh mang trong câu:
2215. Trông vời trời bể mênh mang,(3)
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng dong.
Kiều nhớ đến Từ, nhìn mãi về phía chân trời nơi chàng đã ra đi, có ý trông chờ và nhớ mong mãi mãi:
2247. Cánh hồng bay bổng tuyệt vời,
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.(4)
2249. Đêm ngày luống những âm thầm,(5)
Lửa binh đâu đã ầm ầm một phương.(6)
2251. Ngất trời sát khí mơ màng,(7)
Đầy sông kình ngạc, chật đường giáp binh.
Qua những từ láy: đăm đăm, âm thầm, ầm ầm, mơ màng, ta không chỉ thấy cái nhìn về phía xa xăm của Kiều, mối phiền muộn ngấm ngầm chỉ một mình nàng biết, mà cả tiếng người ồn ào, tiếng súng gươm vang động nghe như tiếng sấm ầm ầm đến trạng thái nửa tỉnh nửa mơ như mơ màng trong cảnh ngất trời sát khí...
Khi Từ đã lập được sự nghiệp, vẻ vang trở về đón Kiều thì bằng phượng liễn loan nghi... Kiệu trang sức bằng hình chim phượng (Liễn là xe, kiệu của vua đi) và đồ nghi trượng (binh khí và đồ vật quý giá bày biện trang trí hoặc để thờ) thì bằng hình chim loan. Cùng là những từ láy sẵn sàng, giấp giới, rỡ ràng như lễ thành hôn của một bậc đế vương:
2265. Sẵn sàng phượng liễn loan nghi,(8)
Hoa quan giấp giới, hà y rỡ ràng.(9,10)
Mũ hoa, trang sức bằng vàng ngọc lóng lánh rực rỡ (Hoa quan giấp giới) và áo màu vàng của ráng chiều (Hà y) thì đầy màu sắc tươi đẹp nổi bật hẳn lên (rỡ ràng). Hai từ láy với chức năng trạng ngữ cùng ở vị trí bình thường cuối mỗi nhịp trong tiểu đối 4-4 ở câu bát đặt sau danh từ cho ta thấy cái trang trọng, uy nghi của cuộc rước dâu.
Chúng ta cũng cần nhận xét rằng trong hai câu thơ trên có tới 4 từ Hán Việt là những nghi trượng của một bậc vua chúa: “phượng liễn” (kiệu chạm hình chim phượng) “loan nghi” (màn thêu hình chim loan), “hoa quan” (mũ giát ngọc lóng lánh) “hà y” (trang phục rực rỡ lộng lẫy như ráng trời). Những nghi trượng này hoàn toàn tương xứng với địa vị của Từ Hải. Chính những từ ghép Hán Việt này đã làm cho chàng thêm oai vệ, những từ Hán Việt này cùng với ba từ láy sẵn sàng, giấp giới, rỡ ràng vừa hoành tráng, vừa chính xác, lại có tính khoa trương, với dáng vẻ thể hiện một uy lực mạnh mẽ, khiến người ta phải kính sợ, nể vì. Những từ láy đầy hình ảnh giấp giới, rỡ ràng làm cho cảnh tượng cuộc rước dâu càng thêm uy nghi, trang trọng. Hai câu thơ gồm 4 từ Hán Việt (8 chữ), và 3 từ láy (6 chữ) đủ 14 chữ trong một khổ thơ là sự kết hợp tuyệt vời trong cách dùng từ Hán Việt và từ thuần Việt.
Rồi khi về đến trướng mai là những từ láy rộn ràng đầy âm hưởng thì thùng, rập rình của trống trận, nhạc quân:
2285. Tiệc bày thưởng tướng khao binh,
Thì thùng trống trận, rập rình nhạc quân.(11,12)
Nếu hai từ láy ở câu 2266 (Hoa quan giấp giới, hà y rỡ ràng) đứng cuối mỗi nhịp thì ở đây hai từ láy tượng thanh lại đứng ở đầu mỗi nhịp cũng trong tiểu đối 4-4 với chức năng trạng ngữ được đảo lên đầu nhịp cho ta thấy cuộc khao thưởng quân sĩ này được nhấn mạnh và tăng thêm giá trị biểu cảm lên gấp bội.
Đến khi nghe Kiều kể lại cuộc đời gian truân, lưu lạc của mình thì Từ nổi giận một cách dữ dội được diễn tả bằng từ láy đùng đùng để tiếp theo là 5 từ láy khác trong 10 dòng thơ với 12 từ Hán Việt vừa cho thấy tình cảm của Từ dành cho Kiều, vừa cho thấy cái uy thế của chàng trong những câu:
2295. Từ công nghe nói thủy chung,
Bất bình nổi trận đùng đùng sấm vang.(13)
2297. Nghiêm quân tuyển tướng sẵn sàng,(14)
Dưới cờ một lệnh vội vàng ruổi sao…(15)
2303. Lại sai lệnh tiễn truyền qua,
Giữ giàng họ Thúc một nhà cho yên…(16)
2307. Thệ sư kể hết mọi lời,
Lòng lòng cũng giận,
người người chấp uy…(17,18)
2313. Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi,(19)
Bác đồng chật đất, tinh kỳ rợp sân…
Từ láy đùng đùng này đã giúp Kiều thực hiện xong việc báo ân, báo oán và Từ Hải vốn không biết kiêng sợ gì ai, ngang nhiên làm việc theo ý của mình bởi đã có riêng một cõi biên thùy với từ láy nghênh ngang:
2447. Nghênh ngang một cõi biên thùy,(20)
Thiếu gì cô quả, thiếu gì bá vương.
Trong ngôn ngữ của Từ thì ngay từ khi mới gặp Kiều chàng đã coi khinh những đôi trai gái yêu nhau mà không có hướng nhất định trong cuộc đời, những kẻ trăng gió vật vờ và tâm sự:
2179. Từ rằng: Tâm phúc tương cờ,
Phải người trăng gió vật vờ hay sao.(21)
Quả là Nguyễn Du đã ưu ái dành cho Từ Hải đến 21 từ láy đặc biệt chỉ trong đoạn đầu của cuộc sống với Thúy Kiều, tất cả đều trong một tâm trạng phấn chấn, tình thế tràn ngập lạc quan của một cuộc sống vinh hiển, sáng tươi đầy hạnh phúc.
2. Từ láy cho đến những ngày cuối của Từ.
Cuộc sống ngập tràn hạnh phúc của Thúy Kiều và Từ Hải đã rẽ sang bước ngoặt tai hại khi xuất hiện tên Tổng đốc trọng thần. Hồ Tôn Hiến biết Từ là đấng anh hùng nên tìm mọi cách lừa gạt Kiều. Đến khi bàn đến việc ra hàng, Từ vẫn kiên quyết không chịu vì biết rằng như vậy rồi sẽ cảm thấy xung quanh xa lạ và gây cho mình một sự sợ hãi mơ hồ được diễn tả bằng từ láy lơ láo trong một đoạn nội tâm của Từ dài đến 10 dòng thơ:
2465. Bó thân về với triều đình,
Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu.(22)
Nhưng chàng đã không phân biệt được rõ ràng, đã lẫn lộn giữa đúng và sai trong hành xử của mình trước tên Hồ Tôn Hiến quỷ quyệt và Nguyễn Du đã rất chính xác khi dùng từ láy hồ đồ tả tâm trạng của Từ lúc đó:
2461. Tin vào gửi trước trung quân,
Từ công riêng hãy mười phân hồ đồ.(23)
Vì vậy khi nghe lời nàng nói mặn mà, thế công Từ mới trở ra thế hàng dẫn đến những trễ tràng trong quân ngũ:
2503. Tin lời thành hạ yêu minh,
Ngọn cờ ngơ ngác, trống canh trễ tràng.(24,25)
2505. Việc binh bỏ chẳng giữ giàng,(26)
Vương sư dòm đã tỏ tường thực hư.
Từ láy ngơ ngác dành cho ngọn cờ của quân quan Từ Hải thật là sáng tạo, ngọn cờ được nhân cách hóa như không định thần được trước sự việc diễn biến quá bất ngờ. Trong khi tiếng trống đánh cầm canh chỉ sự canh gác của quân lính thì trễ nải, chậm trễ, muộn màng dành cho từ láy sau trễ tràng, biểu hiện việc binh không gìn giữ gì nữa, nhiều sơ suất mà Nguyễn Du đã sử dụng bằng từ láy giữ giàng, và cả ba từ láy này đều được dùng ở vị trí vị ngữ trong một thế ngữ pháp bình thường như một lời miêu tả khách quan.
Rồi đến cái hờ hững của Từ Hải, coi việc quân chỉ ở mức làm lấy có, không có sự chú ý nào để ra đầu cửa viên:
2511. Từ công hờ hững biết đâu,(27)
Đại quan lễ phục ra đầu cửa viên.
Ngay cả khi đã sa vào bẫy của Hồ Tôn Hiến, chàng vẫn là một con người có khí phách qua hai từ láy dạn dày và nhơn nhơn:
2517. Tử sinh liều giữa trận tiền
Dạn dày cho biết gan liền tướng quân.(28)
2519. Khí thiêng khi đã về thần,
Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng.(29)
2521. Trơ như đá, vững như đồng,
Ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng dời.
Trong cảnh hằm hằm sát khí, hào lũy tan hoang, Kiều đến nơi thì vẫn còn hai từ láy hoàn toàn nữa bời bời, trơ trơ nói lên chí khí anh hùng của chàng:
2527. Trong vòng tên đá bời bời,(30)
Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ trơ.(31)
Sau đó khi phải đối diện với Hồ Tôn Hiến, kẻ phản phúc đã hèn nhát lừa giết chồng mình, Thúy Kiều đã ngang nhiên ca ngợi Từ Hải lại bằng từ láy nói lên khí phách của Từ: vẫy vùng và ngang tàng. Nàng cũng nhắc đến cái chết của chàng bằng từ láy có âm hưởng mạnh tan tành thịt xương, trời bể ngang tàng:
2549. Rằng: Từ là đấng anh hùng,
Dọc ngang trời rộng vẫy vùng bể khơi.(32)
2551. Tin tôi nên quá nghe lời,
Đem thân bách chiến làm tôi triều đình.
2553. Ngỡ là phu quý, phụ vinh,
Ai ngờ một phút tan tành thịt xương.(33)
2555. Năm năm trời bể ngang tàng, (34)
Dẫn mình đi bỏ chiến trường như không…
Cuối cùng xin cho Từ Hải một mảnh đất nhỏ nhô ra sông bằng từ thiển thổ một doi để che đậy chôn cất cho kín với từ láy đắp điếm kết thúc cuộc đời oanh liệt của người anh hùng trong đớn đau và tủi hổ của nàng Kiều:
2561. Xin cho thiển thổ một doi,
Gọi là đắp điếm lấy người tử sinh.(35)
Về sau, trong đoạn Tái hồi Kim Trọng, Kim được ông già họ Đô kể lại đến lúc Kiều gặp được Từ Hải và nói phải tìm hỏi tiếp Thúc Sinh thì mới biết rõ câu chuyện về sau… Và Thúc Sinh đã ca ngợi Từ bằng hai từ láy vẫy vùng, đùng đùng để diễn tả khí phách của chàng:
2921. Gặp nàng thì ở Châu Thai,
Lạ gì quốc sắc thiên tài phải duyên.
2923. Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên,(36)
Làm nên động địa kinh thiên đùng đùng.(37)
2925. Đại quân đồn đóng cõi đông,
Về sau chẳng biết vân mồng làm sao.
Đùng là từ mô phỏng tiếng nổ to gọn và đanh như tiếng súng, tiếng pháo, nhưng khi thành từ láy Đùng đùng biểu thị tiếng nổ liên tiếp với nghĩa rộng như giông tố sấm sét, miêu tả hành động anh hùng của Từ. Đây là những từ láy cuối cùng Nguyễn Du viết về Từ Hải. Riêng từ vẫy vùng nói về một con người có thói quen hành động tự do, tùy thích, không chịu một sự kiềm chế nào đã được dùng ba lần trong Truyện Kiều thì đều tập trung vào một mình Từ Hải. Một lần trong lời tác giả khi giới thiệu chàng, một lần khi Kiều ca ngợi chàng trước Hồ Tôn Hiến, và một lần trong lời Thúc Sinh kể lại với Kim Trọng ở trên. Điều đáng nói nữa ở đây là tuy từ vẫy vùng được dùng đến ba lần nhưng ở những vị trí khác nhau:
+ Khi ở cuối câu trong lời giới thiệu: “Giang hồ quen thú vẫy vùng” - vẫy vùng tuy là động từ nhưng được dùng bổ nghĩa cho danh từ thú thành một cụm từ đặc biệt để giới thiệu người anh hùng nghệ sĩ trong Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.
+ Khi ở giữa câu “Dọc ngang trời rộng vẫy vùng bể khơi” thì từ láy này đúng là một động từ có nghĩa đen chỉ sự bơi lội tự do của loài sống dưới nước mà nghĩa bóng là tự do hoạt động, mặc sức tung hoành theo cách nói của Kiều để ca ngợi Từ Hải.
+ Khi thì ở đầu câu “Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên”, từ láy này với chức năng trạng ngữ được đảo lên đầu để nhấn mạnh tạo thêm sức biểu cảm của câu thơ.
Ba lần dùng một từ nhưng không lần nào giống lần nào, ở mỗi vị trí trong câu bát, từ láy này đều phát huy được hết sức mạnh của mình, chính điều này đã góp phần làm nên sức cuốn hút kỳ diệu ở Truyện Kiều, đọc mãi vẫn còn có thể tìm ra nhiều điều cần khám phá. Đó cũng là một nét ưu ái của Nguyễn Du đối với người anh hùng của mình. Từ láy vẫy vùng cùng với một loạt từ láy khác như: đường đường, mênh mang, đùng đùng, nghênh ngang, ngang tàng… quả đã giúp nói lên cái khí phách của Từ.
Nhưng cũng thật đáng tiếc vì những từ láy xuất hiện sau chữ hồ đồ là những từ: ngơ ngác, hờ hững… đã dẫn đến cái chết đầy phẫn uất của Từ, dù đã được cứu lại bằng những từ dạn dày, nhơn nhơn, rồi đứng giữa trời trơ trơ trong những lời ca ngợi của Thúy Kiều. Ta hãy cùng xem những từ láy nào dẫn đến cái chết của Từ. Trước hết là tâm lý mười phân hồ đồ. Từ Hải tưởng rằng đầu hàng chỉ là hàng thần lơ láo của kẻ lạc lõng bỡ ngỡ trong quan trường, chứ có biết đâu đầu hàng là chết. Đó là hai từ láy đầu tiên đưa chàng đến chỗ chết. Đến khi nghe lời Kiều nói mặn mà để chàng hờ hững biết đâu rồi từ đó là cảnh ngọn cờ ngơ ngác, trống canh trễ tràng và việc binh bỏ chẳng giữ giàng… Do đấy Hồ Tôn Hiến mới quyết kế thừa cơ. Vậy là chính những từ láy trên đây đã hủy hoại sự nghiệp của Từ.
Dành 37 từ láy rất đúng việc, đúng người, đúng chỗ, để vẽ ra được tính cách, hành động, đời sống riêng cũng như lột tả được nét tâm lý sâu xa của Từ Hải chứng tỏ Nguyễn Du không chỉ có một vốn từ láy thật là dồi dào, phong phú mà còn biết vận dụng chúng một cách linh hoạt đến tài tình. Chúng ta cũng nên để ý rằng 21/37 tức là quá nửa số từ láy được sử dụng ở đây thuộc về giai đoạn đầu vinh hoa phú quý của Thúy Kiều, cũng là điều Nguyễn Du ưu ái dành cho Từ. Nghiên cứu mối quan hệ của từ láy với câu thơ Truyện Kiều, ta hiểu thêm vì sao người Việt ta lại quen thuộc và yêu quý Truyện Kiều đến thế. -./.