HOA KỲ TRONG ĐỆ NHỊ THẾ CHIẾN
HUYỀN THOẠI VÀ MẶT TRÁI CỦA
CUỘC ĐỔ BỘ TẠI BÃI BIỂN NORMANDIE
C
hiến dịch Overlord là kết quả của một quá trình chuẩn bị chiến lược lâu dài bắt đầu từ năm 1943.
Quân Đồng minh đóng quân tại Anh, đang chuẩn bị một cuộc tấn công lớn vào bờ biển Normandie,
nhằm mục đích giành được chỗ đứng ở Tây Âu. Vào đêm ngày 5-6 tháng 6 năm 1944, hàng ngàn lính nhẩy dù được
thả xuống đất Pháp, trong khi đó vừa vào lúc bình minh trên năm bãi biển – Utah, Omaha, Gold, Juno và Sword –
đã trở thành bối cảnh của một cuộc đổ bộ quân sự lớn lao chưa từng có.
Tổng cộng, hơn 150.000 binh lính
đã đổ bộ vào Pháp ngay ngày đầu tiên này: quân Mỹ ở phía tây và quân Anh và Canada ở phía đông
và một số lượng rất giới hạn quân đội Pháp trong Lực lượng Pháp Tự do của Tướng De Gaulle,
hơn 3.000 người, đã tham gia cuộc đổ bộ ngày 6 tháng 6 cùng quân đội của 3 nước Đồng minh
(vì bị Tổng Thống Mỹ Roosevelt gạt ra rìa không cho De Gaulle, người cầm đầu chính phủ Pháp Tự do,
biết về địa điểm, ngày giờ cuộc đổ bộ).
Mức độ bạo lực của cuộc chiến rất cao, đặc biệt là ở bãi biển Omaha, nơi quân đội Mỹ phải
chịu tổn thất nặng nề. Trong những tuần tiếp theo, các thị trấn vùng Normandie dần dần được giải phóng,
nhưng cũng phải trả giá rất đắt vì những cuộc giao tranh ác liệt và các trận ném bom trên không của lực lượng
Đồng minh.
Trong trí tưởng tượng, trận đổ bộ là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng, của
lòng dũng cảm, của một sự hợp tác quốc tế của những người thiện tâm yêu chuộng công bình bác ái ,
cũng như viễn ảnh lý tưởng về mối tương trợ liên kết giữa những người lính
giải phóng Đồng Minh với người dân được giải phóng ở địa phương Normandie.
Thảm hại thay , đằng sau truyền thuyết cao đẹp đó, thực tế lại vô cùng đen tối, phức tạp.
Người dân vùng Normandie Pháp,
bị chiếm đóng trong gần bốn năm, nay lại phải hứng chịu toàn bộ hậu quả của trận đổ bộ với các trận ném bom khủng khiếp liên tục,
tàn phá gây tổn thất thường dân nặng nề.
Người Normandie lại phải đối mặt với cuộc sống vô cùng bấp bênh hàng ngày: thiếu nước , thiếu thực phẩm, đường sá bị tắc nghẽn bởi đoàn
xe quân sự, cơ sở hạ tầng bị phá hủy.
Normandie của nước Pháp vừa mới được giải phóng đã được chứng kiến sự huy
hoàng của cơ quan hậu cần Mỹ với
những mặt hàng hiếm do lính GI Mỹ mang đến đặc biệt là 4 "C"
(Chocolate, Cigarettes, Chewing Gum và Coca-Cola - Xôcôla , Thuốc lá, Kẹo chewing gum và CôCa CôLa) những món
hàng sản xuất kỹ nghệ Made In USA
nhanh chóng trở thành một thứ tiền tệ để trao đổi và thúc đẩy thị trường chợ đen phát triển mạnh mẽ.
Vì vậy, tuy rằng người dân Normadie chào đón những người GI một cách nồng nhiệt
chân tình, nhưng vẫn không thể che giấu một sự bất mãn nào đó của cuộc sống hàng ngày phải chịu sự hiện diện thường trực của một
đội quân Mỹ. vừa là những anh hùng giải phóng lại vừa là những kẻ đi xâm lược kiểu mới : kế hoạch AMGOT -(1).
“Chúng tôi được nhìn thấy một người trong đám lính đang cười cợt đưa cho một thanh nữ một miếng kẹo cao su… nhưng không một ai
trong đám lính tiến ra để đến giúp em bé gái đang cầm chiếc xô hứng nước ở gần đó . »
— Lời nói thu nhận được tại Carentan (Lưu trữ truyền miệng, 1945)
Những ngày, những tháng sau cuộc đổ bộ
ngày 06 tháng 6 được đánh dấu bằng một loạt tình trạng căng thẳng, đau đớn và đôi khi qua những bạo lực mà ít khi được nhắc đến.
Những câu hỏi tế nhị - liên quan đến tình dục, mại dâm cưỡng bức hoặc tự nguyện, bạo lực tình dục,
trao đổi kinh tế và văn hóa không một chút nhân từ bình đẳng nào - dần dần xuất hiện và làm phức tạp thêm câu chuyện về một
cuộc giải phóng thường được mô tả như một cảnh thân ái, đoàn kết những người lính-cứu tinh và một dân tộc luôn biết ơn.
và sự
GIẢI PHÓNG NORMANDIE CỦA NGƯỜI MỸ HOÀN TOÀN KHÔNG ĐỒNG NGHĨA VỚI MỘT CUỘC GIẢI PHÓNG CAO ĐẸP MỘT CHÚT NÀO !. .
. HUYỀN THOẠI VỀ NGƯỜI CHIẾN SĨ GIẢI PHÓNG HUÊ KỲ :
Nhiều người lính trẻ đổ bộ lên Normandie vì khi còn nhỏ đã được nghe những câu chuyện thuật lại của cha, ông mình,
những người đã có dip tới châu Âu trong Thế Chiến Thứ Nhất trong tinh thần "La Fayette, nous voilà"(2) : một nước Pháp
trong mơ, vùng đất đầy niềm
vui và đầy lãng mạn.
Báo chí Mỹ sau chiến tranh tiếp tục tuyên truyền hình ảnh của một quân đội giải phóng Mỹ thật rộng rãi
trong quân đội, ngoài dân sự
càng góp phần tạo nên hình ảnh về một nước Pháp tự do, nơi rượu vang và phụ nữ rất dễ dàng.
Nhiều bài báo, đôi khi cường điệu, mô tả thẳng nước Pháp như một "nhà thổ" lớn, một nơi có thú vui khoái
lạc và tự do tình dục. Sự miêu tả phóng đại này đã thổi bùng lên trong trí tưởng tượng của một thế hệ
thanh niên Mỹ khi họ đến chiến đấu trên đất châu Âu vì họ tin rằng nhiệm vụ quân sự của họ sẽ đi đôi với
cơ hội gặp gỡ trai gái lãng mạn và sau đó những thú vui nhục dục có ngay tức thời .
Trong một cuốn sách mà tất cả các nhà xuất bản ở Mỹ đều từ chối không cho in ấn, phát hàng . Như bà Fiona Reid đã nói : chỉ muốn
"thực sự đưa ra giả thuyết rằng tình dục đóng vai
trò trung tâm trong lịch sử quyền lực của Hoa Kỳ sau Thế chiến thứ hai", tác giả giải thích trong "Times of Higher Education".
Bà Fiona Reid tiếp tục viết : "Chiến dịch Normandie không chỉ được trình bày với lính Mỹ như một 'cuộc phiêu lưu dâm dục'
nơi những người sống sót
sau cuộc đổ bộ Ngày D sẽ nhận được thân thể của phụ nữ Pháp làm chiến lợi phẩm",
"mà những tiếp xúc tình dục này còn sẽ phần lớn quyết định
mối quan hệ quyền lực trong trật tự hậu chiến mới"
Fiona Reid viết tiếp "Tôi không có thể tin vào được những gì dưới mắt tôi đang thấy khi đọc những tài liệu thông
tin trong kho lưu trữ của Quân đội Hoa Kỳ mà các nhà sử học quân sự Mỹ đã tìm mọi cách dấu diếm, gạt qua một bên
để tránh tự chuốc lấy những nguy hiểm cho chính bản thân họ" .
“Người Pháp ở đất nước Mỹ chúng ta luôn được coi là những người phù phiếm, sống vì
tình yêu và lạc thú. Người ta bảo những người lính chúng tôi: “Các bạn sẽ thấy, ở đó dễ lắm…”
— John Davis, một lính bộ binh Mỹ viết trong một bức thư năm 1945.
Những hình ảnh tuyên truyền mạnh mẽ nằm sâu trong ký ức mọi người về cuộc đổ bộ Normandie: cảnh quay người lính
Mỹ nhận nụ hôn từ một cô gái trẻ Pháp. Cảnh lá cờ Mỹ tung bay trên một chiếc xe díp, xe tăng...
Những bức ảnh này, do báo chí Mỹ hoặc quân đội Mỹ công bố thật rộng rãi, nhằm 2 mục đích khích lệ tinh thần
của quân đội Mỹ và trấn an dư luận ở hậu phương Mỹ .
Theo sự nghiên cứu của một người Mỹ khác, nhà nữ sử học người Mỹ Mary Louise Roberts thì, chính chính quyền Mỹ đã tạo
ra "huyền thoại những người lính GI nam tính": dũng cảm, yêu nước, được công nhận như những vị anh hùng.
Tất cả mọi hoạt động tuyên truyền của Mỹ đều triệt để khai thác ý tưởng về một nước Pháp quyến rũ, nữ tính đang đón đợi
những người giải phóng GI.
Giải phóng cứu nước Pháp cũng có nghĩa là chiếm được trái tim của phụ nữ Pháp ngay.
Cái nhìn kết hợp giữa chiến đấu quân sự và phiêu lưu dâm đãng này làm thỏa mãn cái TA của người lính trẻ Hoa Kỳ,
được chính quyền Mỹ cố tình khuyến khích với cùng lúc 2 lời hứa hẹn : thực hiện một nhiệm vụ cao cả và được đền đáp bằng xác thịt.
Hiển nhiên sự tuyên truyền rầm rộ và có kế hoạch này đâu chỉ nhằm vào chuyện đổ bộ Normandie mà còn để thực hiện một
mưu đồ chiến lược khác lớn lao của nước Mỹ : AMGOT -(1) .
. “GIs AND WOMEN" : MẶT TỐI CỦA CUỘC ĐỔ BỘ D-DAY :
Là một chuyên gia về lịch sử phụ nữ ở Pháp, bà Mary Louise Roberts, một nhà nữ sử học người Mỹ,
giáo sư đại học Đại học Wisconsin - đã nghiên cứu rất kỹ lưỡng từ kho
lưu trữ của người Normandie và của chính người Mỹ để xuất bản cuốn sách có tựa đề bằng tiếng Anh “Những gì binh
lính làm. Tình dục và lính Mỹ ở Pháp trong Thế chiến thứ II» ( «What Soldiers Do. Sex and the American GI in World War II France» -
Những gì người lính làm: Tình dục và lính
Mỹ ở Pháp trong Thế chiến thứ II).
Đổ bộ vào Normandie vào tháng 6 năm 1944, lính GI Mỹ không chỉ là những
anh hùng giải phóng huyền thoại mà còn là những tên côn đồ đi tới nước Pháp trong tinh thần của một
"cuộc phiêu lưu dâm dục".
"GIs and Women" của Mary Louise Roberts do The University of Chicago Press xuất bản năm 2013,
có phụ đề rõ ràng: "Tình yêu, hiếp dâm và mại dâm thời giải phóng".
Những gì xảy ra ở Normandie "không phải là một bí mật lớn đối với người dân tại vùng này, nhưng chắc
chắn là một điều bất ngờ (hoặc có thể không bất ngờ) đối với người Mỹ", bà giáo sư tại Đại học Wisconsin đã phát biểu như vậy vào
tháng 5 năm 2013, khi cuốn sách được phát hành tại Hoa Kỳ. Theo bà, ngày nay, "người Mỹ vẫn chỉ luôn biết
đến huyền thoại cũ kỹ với hình ảnh những người lính GI lực lưỡng nhưng hồn nhiên , trong sáng ."
Theo bà Mary Louise Roberts, tình dục, mại dâm hoặc hiếp dâm là một trong những phương cách để người Mỹ "áp đặt quyền lực" của họ lên một
quốc gia đã, đang suy yếu. Báo chí quân sự của nước Mỹ kể về " Giải phóng Pháp như một tiểu thuyết lãng mạn,
chụp ảnh những người lính Mỹ hôn những phụ nữ trẻ người Pháp" . "Sau đó, họ rút
từ đó ra cái huyền thoại về một GI là "vị cứu tinh" của một quốc gia phụ nữ". Bà lưu ý mọi người bằng một câu chuyện hài hước
của người dân vùng Normandie đã làm rỏ thêm điều tuyên truyền này : "Khi người Đức đến, những người đàn ông phải
ẩn náu. Nhưng khi người Mỹ đến, những người phụ nữ phải tìm chỗ ẩn trốn cho thật kỹ".
Ở thành phố Le Havre hay thành phố Cherbourg, "có rất nhiều hành vi tác hại", từ việc ve vãn phụ nữ Pháp,
ngay cả khi có mặt chồng của họ, đến những cuộc vui thú "ngoài trời, giữa ban ngày, trong công viên, nghĩa trang,
trên đường rầy xe lửa", dẫn đến những vụ cưỡng hiếp. "Người dân Le Havre không thể ra ngoài bách bộ mà không
chứng kiến một cảnh quan hệ tình dục của lính GI Mỹ", bà nói sau khi nghiên cứu thư từ của vị thị trưởng Pháp vào thời kỳ đó,
ông Pierre Voisin, người đã phàn nàn với chính Đại tá Thomas Weed, chỉ huy quân đội Mỹ trong khu vực.
Bà Mary Louise Roberts cho biết, các cấp chỉ huy quân sự Mỹ cũng "công khai" lên án những sự việc này nhưng vẫn như cố tình
để tiếp tục xảy ra.
Bà M.L. Roberts cho
biết thêm chính tuyên truyền của Mỹ "họ đã quảng bá chiến dịch Normandie như một cuộc phiêu lưu dâm dục" để thúc
đẩy GI. lên đường chiến đấu ở một đất nước mà sự hiểu biết của họ rất hạn hẹp .
Cuốn sách trích dẫn các văn bản tuyên truyền mô tả nước Pháp là "một nhà thổ tuyệt vời nơi có 40
triệu người theo chủ nghĩa khoái lạc sinh sống". Cả ngay trong các bài học ngoại ngữ đăng trên tờ báo vận động
tranh cử Stars and Stripes, lính Mỹ được dạy cách nói tiếng Đức là "mày muốn một điếu thuốc" hoặc "mày đứng dậy",
trong khi tiếng Pháp thì "bà rất xinh đẹp, thưa bà" và "bố mẹ cô có nhà không?", nhà sử học kể.
“Khi chúng tôi đến Le Havre, chúng tôi thấy các cô gái xếp hàng gần các trại,......
chúng tôi không biết nên cười hay nên khóc. »
— Lời khai của một người lính Mỹ ở La Havre năm 1945.
Bà Mary Louise Roberts viết tiếp : "Một khi đã bắt đầu hành động, ham muốn tình dục của lính GI rất khó có thể còn kiềm chế được nữa".
Cuốn sách dành hai chương nói về các vụ hiếp dâm theo các tài liệu từ tháng 10 năm 1944,có
"152 binh lính đã bị truy tố", nhưng ... trong đó lại có 130 người da đen - «GI Jody».
Theo bà thì đấy chính là dấu hiệu của
"chủ nghĩa phân biệt chủng tộc lâu đời" của người Mỹ, quân đội Mỹ nhưng cũng lại lây sang cả người Pháp,
"những người Pháp nhanh chóng lên án người da đen".
Cũng chính một số phụ nữ Pháp cũng góp phần không nhỏ vào việc phủ nhận công lý này khi đưa ra những lời
khai có định kiến rất sâu sắc về chủng tộc . Jennifer Schuessler mạnh dạn đưa ra giả thuyết trên tờ "New York Times",
"có lẽ" vì nhu cầu đổ lỗi cho một bên thứ ba, một chủng tộc khác về sự sỉ nhục của cuộc chiếm đóng.
Do đó, trên lưng người lính da đen, vật tế thần lý tưởng cho cả người Mỹ và người Pháp, mà
một sự hòa giải Pháp-Mỹ nhất định phải đạt được - ít ra là trong vấn đề tình dục.
"Tôi không muốn hạ thấp lòng anh hùng của
những người lính Mỹ, những gì họ đã làm thật qúa vĩ đại", nhà nữ sử học Mary Louise Roberts thẳng thắn nói, "nhưng tôi muốn đưa người
Pháp trở lại bức tranh để nói rằng Normandie cũng là một câu chuyện về con người,
chứ chắng phải là một câu chuyện anh hùng nào cả !. ".
. Tình dục như một món hàng được tôn vinh: mại dâm và sự thống trị :
Vào cuối chiến tranh, hàng ngàn lính GI Mỹ đồn trú tại các thành phố ở Pháp, thị trường mại dâm được phát triển rộng. Những lời khai và
tài liệu từ thời kỳ này cho thấy, trong những tháng sau cuộc đổ bộ, tình dục đã trở thành một "mặt hàng" được coi trọng,
cũng giống như rượu hoặc một số loại thực phẩm thông dụng hàng ngày.
Các tờ báo quân sự, như Panther Tracks, thậm chí còn liệt kê bàng danh sách giá cả một gái mại dâm ở Paris và các thành phố khác. Một số lời khai,
chẳng hạn như lời khai của một người lính Mỹ đề cập cùng lúc chiếc bánh mì và phụ nữ trong một câu, minh họa cho sự bình thường hóa của
nghề mại dâm.
Ở những thành phố như Le Havre, chính quyền địa phương và người dân phàn nàn rằng không gian công cộng đã trở
thành nơi diễn ra các hoạt động quan hệ tình dục trả tiền, cả ngày lẫn đêm: tại các đống đổ nát, công viên hoặc thậm chí
cả trong nghĩa trang. Những phụ nữ đứng đắn không ai còn dám ra ngoài một mình nữa vì sợ bị quân lính Mỹ đồn trú ở gần đó quấy rầy.
“Ở Paris, bạn thường có thể tìm thấy quảng cáo trên các tờ báo phát hành chui : một GI có thể đổi một chiếc vớ lụa lấy
"một đêm đi chơi trong thị trấn". »
— Lời của Lawrence Cane, sĩ quan hậu cần Mỹ năm 1947.
Trước tình hình này, chính quyền Pháp ở các thành phố , chính quyền địa phương tìm mọi cách cố gắng ứng phó:
thành lập các đội tuần tra cảnh sát,
đưa gái mại dâm ra xa Paris nhưng nhanh chóng các cô này quay lại vì bị thúc đẩy bởi lợi nhuận qúa dễ dàng.
Những đề nghị về việc thiết lập nhà thổ được "quản lý"
và kiểm soát về mặt y tế đã được đưa ra nhưng bị ... quân đội Hoa Kỳ từ chối .
Quân đội Mỹ đổ lỗi cho chính quyền dân sự địa phương,
nhưng chính những người chỉ huy Quân đội Hoa Kỳ buộc lòng phải
quan tâm khi tỷ lệ nhiễm trùng hoa liễu tăng vọt, đe dọa đến khả năng chiến đấu của lính Mỹ .
Rồi những bọc cao su sản xuất kỹ nghệ tại lãnh thổ Mỹ được cấp phát cho lính GI xử dụng
và những người chỉ huy này thiết lập các nhà thổ quân sự “sạch”.
Về phần người dân Pháp, họ vẫn phải chứng kiến cuộc
sống hàng ngày của họ càng lúc càng sa đọa, tồi tệ hơn khi mà các đơn vị quân đội Mỹ vẫn sẵn sàng tiêu dùng những gì
được họ coi là "sản phẩm" đặc trưng của Pháp.
Phải chờ tới ngày 7 tháng 3 năm 1966, Tướng de Gaulle, Tổng thống nước Cộng hòa Pháp,
đã điện thoại trực tiếp với đồng cấp người Mỹ, Tổng thống Lyndon Johnson rằng : ông đã quyết định rút nước Pháp ra
khỏi bộ chỉ huy chung
của NATO và yêu cầu lực lượng vũ trang
Mỹ đang đồn trú trên lãnh thổ Pháp phải lập tức rút (cút) ra khỏi lãnh thổ Pháp.
. CHUYỆN Ở NƯỚC VIỆT NAM TA :
Nói chuyện người lại sực nhớ đến chuyện ta : chúng tôi nhớ đến Việt Nam, miền Nam ViệtNam thì đúng hơn, trong chiến tranh
Bắc-Nam.
Cũng vẫn trang bị 4 món Sô-Cô-La, Salem Pall Mall, CoCa CoLa, Sì-Uynh Gôm nhưng bổ xung thêm món Whisky ông già chống gạy (món hàng này thì chỉ có
các bậc sĩ quan cấp Tá của quân lực VNCH mới biết sử dụng) ... ngày 8 tháng 3 năm 1965 lính GI Mỹ anh dũng đổ bộ tại bãi biển
Đà Nẵng (cũng lại đổ bộ ở bãi biển)
tham chiến oánh bọn Cộng Sản miền Bắc xâm lược .
Cũng vẫn như sau cuộc đổ bộ của GI tại bãi biến Normandie, nơi nào có lính Mỹ trú đóng là phải có những Bar, những Động thiên
thai với hàng chục, hàng trăm...thiếu nữ vì hoàn cảnh bom đạn
chiến tranh phải buộc lòng từ bỏ quê hương làng mạc
để trở thành kiều nữ .
Ngay cả tại cái SàiGòn đẹp lắm Sàigòn ơi, SàiGòn ơi cũng góp phần không nhỏ
vào việc phát triển không chỉ ở cấp thấp mà còn được đẩy lên cấp cao như các tiệm nhẩy đầm (tiếng tây gọi là dancing) để cùng lúc
vừa xiết chặt mối hữu nghị - tình thânthể Việt-Mỹ gắn bó mà lại còn giải quyết nạn thất nghiệp với những nghề bán buôn gái, dẫn gái, gác động ....
Một câu ca dao vào thời kỳ đó mà chúng tôi chắc chắn rất ít người đàn ông ở miền Nam không biết:
Rớt tú tài anh đi trung sĩ
Em ở nhà lấy Mỹ nuôi con
Bao giờ xong việc nước non
Anh về anh có Mỹ con anh bồng.
Nước Việt cũng phải chờ cho tới ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì "mối tình thânthể Việt-Mỹ" mới chấm dứt.
Uổng qúa xá, cũng tại vì mấy anh chàng bộ đội dép râu từ miền Bắc lội bộ vào xâm lăng chớ
nếu không thì ngày hôm nay miền Nam nước ta đã ... tự nhiên thành một tiểu bang của Hoa Kỳ vĩ đại rồi !. Uổng qúa xá !.
-/.
La Sérénité - 23.02.2025-10.30 với nhiều tài liệu tham khảo.
1- AMGOT : Allied Military Government of Occupied Territories- Chính quyền quân sự Hoa Kỳ tại các Lãnh thổ bị chiếm đóng.
2- La Fayette, nous voilà - Lafayette, chúng tôi đến đây - câu nói của Charles E. Stanton, trong bộ tham mưu lực lượng Hoa Kỳ
khi đến giải phóng nước Pháp trong Đệ Nhất Thế Chiến,
bầy tò lòng biết ơn của người Mỹ đối với
Hầu tước De La Fayette quyết định lên đường đến Bắc Mỹ vào tháng 4 năm 1777 hỗ trợ George Washington trong cuộc chiến chống lại thực dân Anh.
VVM.24.2.2025.
C
hiến dịch Overlord là kết quả của một quá trình chuẩn bị chiến lược lâu dài bắt đầu từ năm 1943.
Quân Đồng minh đóng quân tại Anh, đang chuẩn bị một cuộc tấn công lớn vào bờ biển Normandie,
nhằm mục đích giành được chỗ đứng ở Tây Âu. Vào đêm ngày 5-6 tháng 6 năm 1944, hàng ngàn lính nhẩy dù được
thả xuống đất Pháp, trong khi đó vừa vào lúc bình minh trên năm bãi biển – Utah, Omaha, Gold, Juno và Sword –
đã trở thành bối cảnh của một cuộc đổ bộ quân sự lớn lao chưa từng có.
Tổng cộng, hơn 150.000 binh lính
đã đổ bộ vào Pháp ngay ngày đầu tiên này: quân Mỹ ở phía tây và quân Anh và Canada ở phía đông
và một số lượng rất giới hạn quân đội Pháp trong Lực lượng Pháp Tự do của Tướng De Gaulle,
hơn 3.000 người, đã tham gia cuộc đổ bộ ngày 6 tháng 6 cùng quân đội của 3 nước Đồng minh
(vì bị Tổng Thống Mỹ Roosevelt gạt ra rìa không cho De Gaulle, người cầm đầu chính phủ Pháp Tự do,
biết về địa điểm, ngày giờ cuộc đổ bộ).
Mức độ bạo lực của cuộc chiến rất cao, đặc biệt là ở bãi biển Omaha, nơi quân đội Mỹ phải
chịu tổn thất nặng nề. Trong những tuần tiếp theo, các thị trấn vùng Normandie dần dần được giải phóng,
nhưng cũng phải trả giá rất đắt vì những cuộc giao tranh ác liệt và các trận ném bom trên không của lực lượng
Đồng minh.
Trong trí tưởng tượng, trận đổ bộ là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng, của
lòng dũng cảm, của một sự hợp tác quốc tế của những người thiện tâm yêu chuộng công bình bác ái ,
cũng như viễn ảnh lý tưởng về mối tương trợ liên kết giữa những người lính
giải phóng Đồng Minh với người dân được giải phóng ở địa phương Normandie.
Thảm hại thay , đằng sau truyền thuyết cao đẹp đó, thực tế lại vô cùng đen tối, phức tạp.
Người dân vùng Normandie Pháp,
bị chiếm đóng trong gần bốn năm, nay lại phải hứng chịu toàn bộ hậu quả của trận đổ bộ với các trận ném bom khủng khiếp liên tục,
tàn phá gây tổn thất thường dân nặng nề.
Người Normandie lại phải đối mặt với cuộc sống vô cùng bấp bênh hàng ngày: thiếu nước , thiếu thực phẩm, đường sá bị tắc nghẽn bởi đoàn
xe quân sự, cơ sở hạ tầng bị phá hủy.
Normandie của nước Pháp vừa mới được giải phóng đã được chứng kiến sự huy
hoàng của cơ quan hậu cần Mỹ với
những mặt hàng hiếm do lính GI Mỹ mang đến đặc biệt là 4 "C"
(Chocolate, Cigarettes, Chewing Gum và Coca-Cola - Xôcôla , Thuốc lá, Kẹo chewing gum và CôCa CôLa) những món
hàng sản xuất kỹ nghệ Made In USA
nhanh chóng trở thành một thứ tiền tệ để trao đổi và thúc đẩy thị trường chợ đen phát triển mạnh mẽ.
Vì vậy, tuy rằng người dân Normadie chào đón những người GI một cách nồng nhiệt
chân tình, nhưng vẫn không thể che giấu một sự bất mãn nào đó của cuộc sống hàng ngày phải chịu sự hiện diện thường trực của một
đội quân Mỹ. vừa là những anh hùng giải phóng lại vừa là những kẻ đi xâm lược kiểu mới : kế hoạch AMGOT -(1).
“Chúng tôi được nhìn thấy một người trong đám lính đang cười cợt đưa cho một thanh nữ một miếng kẹo cao su… nhưng không một ai
trong đám lính tiến ra để đến giúp em bé gái đang cầm chiếc xô hứng nước ở gần đó . »
— Lời nói thu nhận được tại Carentan (Lưu trữ truyền miệng, 1945)
Những ngày, những tháng sau cuộc đổ bộ
ngày 06 tháng 6 được đánh dấu bằng một loạt tình trạng căng thẳng, đau đớn và đôi khi qua những bạo lực mà ít khi được nhắc đến.
Những câu hỏi tế nhị - liên quan đến tình dục, mại dâm cưỡng bức hoặc tự nguyện, bạo lực tình dục,
trao đổi kinh tế và văn hóa không một chút nhân từ bình đẳng nào - dần dần xuất hiện và làm phức tạp thêm câu chuyện về một
cuộc giải phóng thường được mô tả như một cảnh thân ái, đoàn kết những người lính-cứu tinh và một dân tộc luôn biết ơn.
và sự
GIẢI PHÓNG NORMANDIE CỦA NGƯỜI MỸ HOÀN TOÀN KHÔNG ĐỒNG NGHĨA VỚI MỘT CUỘC GIẢI PHÓNG CAO ĐẸP MỘT CHÚT NÀO !. .
. HUYỀN THOẠI VỀ NGƯỜI CHIẾN SĨ GIẢI PHÓNG HUÊ KỲ :
Nhiều người lính trẻ đổ bộ lên Normandie vì khi còn nhỏ đã được nghe những câu chuyện thuật lại của cha, ông mình,
những người đã có dip tới châu Âu trong Thế Chiến Thứ Nhất trong tinh thần "La Fayette, nous voilà"(2) : một nước Pháp
trong mơ, vùng đất đầy niềm
vui và đầy lãng mạn.
Báo chí Mỹ sau chiến tranh tiếp tục tuyên truyền hình ảnh của một quân đội giải phóng Mỹ thật rộng rãi
trong quân đội, ngoài dân sự
càng góp phần tạo nên hình ảnh về một nước Pháp tự do, nơi rượu vang và phụ nữ rất dễ dàng.
Nhiều bài báo, đôi khi cường điệu, mô tả thẳng nước Pháp như một "nhà thổ" lớn, một nơi có thú vui khoái
lạc và tự do tình dục. Sự miêu tả phóng đại này đã thổi bùng lên trong trí tưởng tượng của một thế hệ
thanh niên Mỹ khi họ đến chiến đấu trên đất châu Âu vì họ tin rằng nhiệm vụ quân sự của họ sẽ đi đôi với
cơ hội gặp gỡ trai gái lãng mạn và sau đó những thú vui nhục dục có ngay tức thời .
Trong một cuốn sách mà tất cả các nhà xuất bản ở Mỹ đều từ chối không cho in ấn, phát hàng . Như bà Fiona Reid đã nói : chỉ muốn
"thực sự đưa ra giả thuyết rằng tình dục đóng vai
trò trung tâm trong lịch sử quyền lực của Hoa Kỳ sau Thế chiến thứ hai", tác giả giải thích trong "Times of Higher Education".
Bà Fiona Reid tiếp tục viết : "Chiến dịch Normandie không chỉ được trình bày với lính Mỹ như một 'cuộc phiêu lưu dâm dục'
nơi những người sống sót
sau cuộc đổ bộ Ngày D sẽ nhận được thân thể của phụ nữ Pháp làm chiến lợi phẩm",
"mà những tiếp xúc tình dục này còn sẽ phần lớn quyết định
mối quan hệ quyền lực trong trật tự hậu chiến mới"
Fiona Reid viết tiếp "Tôi không có thể tin vào được những gì dưới mắt tôi đang thấy khi đọc những tài liệu thông
tin trong kho lưu trữ của Quân đội Hoa Kỳ mà các nhà sử học quân sự Mỹ đã tìm mọi cách dấu diếm, gạt qua một bên
để tránh tự chuốc lấy những nguy hiểm cho chính bản thân họ" .
“Người Pháp ở đất nước Mỹ chúng ta luôn được coi là những người phù phiếm, sống vì
tình yêu và lạc thú. Người ta bảo những người lính chúng tôi: “Các bạn sẽ thấy, ở đó dễ lắm…”
— John Davis, một lính bộ binh Mỹ viết trong một bức thư năm 1945.
Những hình ảnh tuyên truyền mạnh mẽ nằm sâu trong ký ức mọi người về cuộc đổ bộ Normandie: cảnh quay người lính
Mỹ nhận nụ hôn từ một cô gái trẻ Pháp. Cảnh lá cờ Mỹ tung bay trên một chiếc xe díp, xe tăng...
Những bức ảnh này, do báo chí Mỹ hoặc quân đội Mỹ công bố thật rộng rãi, nhằm 2 mục đích khích lệ tinh thần
của quân đội Mỹ và trấn an dư luận ở hậu phương Mỹ .
Theo sự nghiên cứu của một người Mỹ khác, nhà nữ sử học người Mỹ Mary Louise Roberts thì, chính chính quyền Mỹ đã tạo
ra "huyền thoại những người lính GI nam tính": dũng cảm, yêu nước, được công nhận như những vị anh hùng.
Tất cả mọi hoạt động tuyên truyền của Mỹ đều triệt để khai thác ý tưởng về một nước Pháp quyến rũ, nữ tính đang đón đợi
những người giải phóng GI.
Giải phóng cứu nước Pháp cũng có nghĩa là chiếm được trái tim của phụ nữ Pháp ngay.
Cái nhìn kết hợp giữa chiến đấu quân sự và phiêu lưu dâm đãng này làm thỏa mãn cái TA của người lính trẻ Hoa Kỳ,
được chính quyền Mỹ cố tình khuyến khích với cùng lúc 2 lời hứa hẹn : thực hiện một nhiệm vụ cao cả và được đền đáp bằng xác thịt.
Hiển nhiên sự tuyên truyền rầm rộ và có kế hoạch này đâu chỉ nhằm vào chuyện đổ bộ Normandie mà còn để thực hiện một
mưu đồ chiến lược khác lớn lao của nước Mỹ : AMGOT -(1) .
. “GIs AND WOMEN" : MẶT TỐI CỦA CUỘC ĐỔ BỘ D-DAY :
Là một chuyên gia về lịch sử phụ nữ ở Pháp, bà Mary Louise Roberts, một nhà nữ sử học người Mỹ,
giáo sư đại học Đại học Wisconsin - đã nghiên cứu rất kỹ lưỡng từ kho
lưu trữ của người Normandie và của chính người Mỹ để xuất bản cuốn sách có tựa đề bằng tiếng Anh “Những gì binh
lính làm. Tình dục và lính Mỹ ở Pháp trong Thế chiến thứ II» ( «What Soldiers Do. Sex and the American GI in World War II France» -
Những gì người lính làm: Tình dục và lính
Mỹ ở Pháp trong Thế chiến thứ II).
Đổ bộ vào Normandie vào tháng 6 năm 1944, lính GI Mỹ không chỉ là những
anh hùng giải phóng huyền thoại mà còn là những tên côn đồ đi tới nước Pháp trong tinh thần của một
"cuộc phiêu lưu dâm dục".
"GIs and Women" của Mary Louise Roberts do The University of Chicago Press xuất bản năm 2013,
có phụ đề rõ ràng: "Tình yêu, hiếp dâm và mại dâm thời giải phóng".
Những gì xảy ra ở Normandie "không phải là một bí mật lớn đối với người dân tại vùng này, nhưng chắc
chắn là một điều bất ngờ (hoặc có thể không bất ngờ) đối với người Mỹ", bà giáo sư tại Đại học Wisconsin đã phát biểu như vậy vào
tháng 5 năm 2013, khi cuốn sách được phát hành tại Hoa Kỳ. Theo bà, ngày nay, "người Mỹ vẫn chỉ luôn biết
đến huyền thoại cũ kỹ với hình ảnh những người lính GI lực lưỡng nhưng hồn nhiên , trong sáng ."
Theo bà Mary Louise Roberts, tình dục, mại dâm hoặc hiếp dâm là một trong những phương cách để người Mỹ "áp đặt quyền lực" của họ lên một
quốc gia đã, đang suy yếu. Báo chí quân sự của nước Mỹ kể về " Giải phóng Pháp như một tiểu thuyết lãng mạn,
chụp ảnh những người lính Mỹ hôn những phụ nữ trẻ người Pháp" . "Sau đó, họ rút
từ đó ra cái huyền thoại về một GI là "vị cứu tinh" của một quốc gia phụ nữ". Bà lưu ý mọi người bằng một câu chuyện hài hước
của người dân vùng Normandie đã làm rỏ thêm điều tuyên truyền này : "Khi người Đức đến, những người đàn ông phải
ẩn náu. Nhưng khi người Mỹ đến, những người phụ nữ phải tìm chỗ ẩn trốn cho thật kỹ".
Ở thành phố Le Havre hay thành phố Cherbourg, "có rất nhiều hành vi tác hại", từ việc ve vãn phụ nữ Pháp,
ngay cả khi có mặt chồng của họ, đến những cuộc vui thú "ngoài trời, giữa ban ngày, trong công viên, nghĩa trang,
trên đường rầy xe lửa", dẫn đến những vụ cưỡng hiếp. "Người dân Le Havre không thể ra ngoài bách bộ mà không
chứng kiến một cảnh quan hệ tình dục của lính GI Mỹ", bà nói sau khi nghiên cứu thư từ của vị thị trưởng Pháp vào thời kỳ đó,
ông Pierre Voisin, người đã phàn nàn với chính Đại tá Thomas Weed, chỉ huy quân đội Mỹ trong khu vực.
Bà Mary Louise Roberts cho biết, các cấp chỉ huy quân sự Mỹ cũng "công khai" lên án những sự việc này nhưng vẫn như cố tình
để tiếp tục xảy ra.
Bà M.L. Roberts cho
biết thêm chính tuyên truyền của Mỹ "họ đã quảng bá chiến dịch Normandie như một cuộc phiêu lưu dâm dục" để thúc
đẩy GI. lên đường chiến đấu ở một đất nước mà sự hiểu biết của họ rất hạn hẹp .
Cuốn sách trích dẫn các văn bản tuyên truyền mô tả nước Pháp là "một nhà thổ tuyệt vời nơi có 40
triệu người theo chủ nghĩa khoái lạc sinh sống". Cả ngay trong các bài học ngoại ngữ đăng trên tờ báo vận động
tranh cử Stars and Stripes, lính Mỹ được dạy cách nói tiếng Đức là "mày muốn một điếu thuốc" hoặc "mày đứng dậy",
trong khi tiếng Pháp thì "bà rất xinh đẹp, thưa bà" và "bố mẹ cô có nhà không?", nhà sử học kể.
“Khi chúng tôi đến Le Havre, chúng tôi thấy các cô gái xếp hàng gần các trại,......
chúng tôi không biết nên cười hay nên khóc. »
— Lời khai của một người lính Mỹ ở La Havre năm 1945.
Bà Mary Louise Roberts viết tiếp : "Một khi đã bắt đầu hành động, ham muốn tình dục của lính GI rất khó có thể còn kiềm chế được nữa".
Cuốn sách dành hai chương nói về các vụ hiếp dâm theo các tài liệu từ tháng 10 năm 1944,có
"152 binh lính đã bị truy tố", nhưng ... trong đó lại có 130 người da đen - «GI Jody».
Theo bà thì đấy chính là dấu hiệu của
"chủ nghĩa phân biệt chủng tộc lâu đời" của người Mỹ, quân đội Mỹ nhưng cũng lại lây sang cả người Pháp,
"những người Pháp nhanh chóng lên án người da đen".
Cũng chính một số phụ nữ Pháp cũng góp phần không nhỏ vào việc phủ nhận công lý này khi đưa ra những lời
khai có định kiến rất sâu sắc về chủng tộc . Jennifer Schuessler mạnh dạn đưa ra giả thuyết trên tờ "New York Times",
"có lẽ" vì nhu cầu đổ lỗi cho một bên thứ ba, một chủng tộc khác về sự sỉ nhục của cuộc chiếm đóng.
Do đó, trên lưng người lính da đen, vật tế thần lý tưởng cho cả người Mỹ và người Pháp, mà
một sự hòa giải Pháp-Mỹ nhất định phải đạt được - ít ra là trong vấn đề tình dục.
"Tôi không muốn hạ thấp lòng anh hùng của
những người lính Mỹ, những gì họ đã làm thật qúa vĩ đại", nhà nữ sử học Mary Louise Roberts thẳng thắn nói, "nhưng tôi muốn đưa người
Pháp trở lại bức tranh để nói rằng Normandie cũng là một câu chuyện về con người,
chứ chắng phải là một câu chuyện anh hùng nào cả !. ".
. Tình dục như một món hàng được tôn vinh: mại dâm và sự thống trị :
Vào cuối chiến tranh, hàng ngàn lính GI Mỹ đồn trú tại các thành phố ở Pháp, thị trường mại dâm được phát triển rộng. Những lời khai và
tài liệu từ thời kỳ này cho thấy, trong những tháng sau cuộc đổ bộ, tình dục đã trở thành một "mặt hàng" được coi trọng,
cũng giống như rượu hoặc một số loại thực phẩm thông dụng hàng ngày.
Các tờ báo quân sự, như Panther Tracks, thậm chí còn liệt kê bàng danh sách giá cả một gái mại dâm ở Paris và các thành phố khác. Một số lời khai,
chẳng hạn như lời khai của một người lính Mỹ đề cập cùng lúc chiếc bánh mì và phụ nữ trong một câu, minh họa cho sự bình thường hóa của
nghề mại dâm.
Ở những thành phố như Le Havre, chính quyền địa phương và người dân phàn nàn rằng không gian công cộng đã trở
thành nơi diễn ra các hoạt động quan hệ tình dục trả tiền, cả ngày lẫn đêm: tại các đống đổ nát, công viên hoặc thậm chí
cả trong nghĩa trang. Những phụ nữ đứng đắn không ai còn dám ra ngoài một mình nữa vì sợ bị quân lính Mỹ đồn trú ở gần đó quấy rầy.
“Ở Paris, bạn thường có thể tìm thấy quảng cáo trên các tờ báo phát hành chui : một GI có thể đổi một chiếc vớ lụa lấy
"một đêm đi chơi trong thị trấn". »
— Lời của Lawrence Cane, sĩ quan hậu cần Mỹ năm 1947.
Trước tình hình này, chính quyền Pháp ở các thành phố , chính quyền địa phương tìm mọi cách cố gắng ứng phó:
thành lập các đội tuần tra cảnh sát,
đưa gái mại dâm ra xa Paris nhưng nhanh chóng các cô này quay lại vì bị thúc đẩy bởi lợi nhuận qúa dễ dàng.
Những đề nghị về việc thiết lập nhà thổ được "quản lý"
và kiểm soát về mặt y tế đã được đưa ra nhưng bị ... quân đội Hoa Kỳ từ chối .
Quân đội Mỹ đổ lỗi cho chính quyền dân sự địa phương,
nhưng chính những người chỉ huy Quân đội Hoa Kỳ buộc lòng phải
quan tâm khi tỷ lệ nhiễm trùng hoa liễu tăng vọt, đe dọa đến khả năng chiến đấu của lính Mỹ .
Rồi những bọc cao su sản xuất kỹ nghệ tại lãnh thổ Mỹ được cấp phát cho lính GI xử dụng
và những người chỉ huy này thiết lập các nhà thổ quân sự “sạch”.
Về phần người dân Pháp, họ vẫn phải chứng kiến cuộc
sống hàng ngày của họ càng lúc càng sa đọa, tồi tệ hơn khi mà các đơn vị quân đội Mỹ vẫn sẵn sàng tiêu dùng những gì
được họ coi là "sản phẩm" đặc trưng của Pháp.
Phải chờ tới ngày 7 tháng 3 năm 1966, Tướng de Gaulle, Tổng thống nước Cộng hòa Pháp,
đã điện thoại trực tiếp với đồng cấp người Mỹ, Tổng thống Lyndon Johnson rằng : ông đã quyết định rút nước Pháp ra
khỏi bộ chỉ huy chung
của NATO và yêu cầu lực lượng vũ trang
Mỹ đang đồn trú trên lãnh thổ Pháp phải lập tức rút (cút) ra khỏi lãnh thổ Pháp.
. CHUYỆN Ở NƯỚC VIỆT NAM TA :
Nói chuyện người lại sực nhớ đến chuyện ta : chúng tôi nhớ đến Việt Nam, miền Nam ViệtNam thì đúng hơn, trong chiến tranh
Bắc-Nam.
Cũng vẫn trang bị 4 món Sô-Cô-La, Salem Pall Mall, CoCa CoLa, Sì-Uynh Gôm nhưng bổ xung thêm món Whisky ông già chống gạy (món hàng này thì chỉ có
các bậc sĩ quan cấp Tá của quân lực VNCH mới biết sử dụng) ... ngày 8 tháng 3 năm 1965 lính GI Mỹ anh dũng đổ bộ tại bãi biển
Đà Nẵng (cũng lại đổ bộ ở bãi biển)
tham chiến oánh bọn Cộng Sản miền Bắc xâm lược .
Cũng vẫn như sau cuộc đổ bộ của GI tại bãi biến Normandie, nơi nào có lính Mỹ trú đóng là phải có những Bar, những Động thiên
thai với hàng chục, hàng trăm...thiếu nữ vì hoàn cảnh bom đạn
chiến tranh phải buộc lòng từ bỏ quê hương làng mạc
để trở thành kiều nữ .
Ngay cả tại cái SàiGòn đẹp lắm Sàigòn ơi, SàiGòn ơi cũng góp phần không nhỏ
vào việc phát triển không chỉ ở cấp thấp mà còn được đẩy lên cấp cao như các tiệm nhẩy đầm (tiếng tây gọi là dancing) để cùng lúc
vừa xiết chặt mối hữu nghị - tình thânthể Việt-Mỹ gắn bó mà lại còn giải quyết nạn thất nghiệp với những nghề bán buôn gái, dẫn gái, gác động ....
Một câu ca dao vào thời kỳ đó mà chúng tôi chắc chắn rất ít người đàn ông ở miền Nam không biết:
Rớt tú tài anh đi trung sĩ
Em ở nhà lấy Mỹ nuôi con
Bao giờ xong việc nước non
Anh về anh có Mỹ con anh bồng.
Nước Việt cũng phải chờ cho tới ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì "mối tình thânthể Việt-Mỹ" mới chấm dứt.
Uổng qúa xá, cũng tại vì mấy anh chàng bộ đội dép râu từ miền Bắc lội bộ vào xâm lăng chớ
nếu không thì ngày hôm nay miền Nam nước ta đã ... tự nhiên thành một tiểu bang của Hoa Kỳ vĩ đại rồi !. Uổng qúa xá !.
-/.
La Sérénité - 23.02.2025-10.30 với nhiều tài liệu tham khảo.
1- AMGOT : Allied Military Government of Occupied Territories- Chính quyền quân sự Hoa Kỳ tại các Lãnh thổ bị chiếm đóng.
2- La Fayette, nous voilà - Lafayette, chúng tôi đến đây - câu nói của Charles E. Stanton, trong bộ tham mưu lực lượng Hoa Kỳ
khi đến giải phóng nước Pháp trong Đệ Nhất Thế Chiến,
bầy tò lòng biết ơn của người Mỹ đối với
Hầu tước De La Fayette quyết định lên đường đến Bắc Mỹ vào tháng 4 năm 1777 hỗ trợ George Washington trong cuộc chiến chống lại thực dân Anh.
VVM.24.2.2025.
những mặt hàng hiếm do lính GI Mỹ mang đến đặc biệt là 4 "C"
(Chocolate, Cigarettes, Chewing Gum và Coca-Cola - Xôcôla , Thuốc lá, Kẹo chewing gum và CôCa CôLa) những món
hàng sản xuất kỹ nghệ Made In USA
nhanh chóng trở thành một thứ tiền tệ để trao đổi và thúc đẩy thị trường chợ đen phát triển mạnh mẽ.
Vì vậy, tuy rằng người dân Normadie chào đón những người GI một cách nồng nhiệt
chân tình, nhưng vẫn không thể che giấu một sự bất mãn nào đó của cuộc sống hàng ngày phải chịu sự hiện diện thường trực của một
đội quân Mỹ. vừa là những anh hùng giải phóng lại vừa là những kẻ đi xâm lược kiểu mới : kế hoạch AMGOT -(1).
Em ở nhà lấy Mỹ nuôi con
Bao giờ xong việc nước non
Anh về anh có Mỹ con anh bồng.
1- AMGOT : Allied Military Government of Occupied Territories- Chính quyền quân sự Hoa Kỳ tại các Lãnh thổ bị chiếm đóng.
2- La Fayette, nous voilà - Lafayette, chúng tôi đến đây - câu nói của Charles E. Stanton, trong bộ tham mưu lực lượng Hoa Kỳ khi đến giải phóng nước Pháp trong Đệ Nhất Thế Chiến, bầy tò lòng biết ơn của người Mỹ đối với Hầu tước De La Fayette quyết định lên đường đến Bắc Mỹ vào tháng 4 năm 1777 hỗ trợ George Washington trong cuộc chiến chống lại thực dân Anh.
