ĐOÁ QUỲ THIÊN THU




Đ ang đứng xớ rớ giữa biển người chờ tới lượt khám tại Bệnh viện Ung Bướu Sài Gòn, tôi chợt nghe sau lưng có ai gọi tên mình. Tôi quay lại. À, Giáng Hương, cô em ruột của người bạn gái thời hoa niên của tôi. Cách nay bốn mươi năm, tôi từ Phan Thiết lên xứ hoa anh đào đi học trong hai năm. Mấy năm trước đây, tôi có gặp lại em một lần tại Phan Thiết, khi em xuống thăm người dì sống ở thành phố biển này, nên tôi nhận ra em ngay. Em hỏi tôi: “Sao lâu rồi anh không về Đà Lạt?” Ừ, em hỏi tôi một câu thật hay. “Về Đà Lạt” ư? Cảm ơn từ “về” của em nhiều lắm. Vậy ra, em vẫn coi tôi là người anh trong nhà. Tôi hỏi thăm tình hình gia đình. Giáng Hương nói, chị Quỳ Hoa vừa nghỉ hưu rồi, còn em thì vẫn còn dạy ở Bùi Thị Xuân. Nhắc đến Quỳ Hoa, tôi thoáng áy náy, nhưng không muốn cho Giáng Hương biết, nên vội lảng qua hỏi chuyện về bệnh tình của em. Em có nói bị khối u ở đâu đó phải xạ trị, vô hoá chất và uống thuốc liên tục cả năm nay, giờ xuống tái khám. Chắc tóc em đã rụng hết rồi…

Gia đình Giáng Hương có bốn chị em gái; chị lớn tham gia phong trào sinh viên đấu tranh, bị tù, khi thả ra, chị thoát ly lên rừng rồi hy sinh. Còn lại ba chị em, giờ quây quần sống chung trong căn nhà cũ ấm cúng của ba má để lại, nơi cuối con dốc đầy hoa quỳ vàng gần nhà thờ Con Gà (tên gọi quen thuộc của người Đà Lạt). Căn nhà này chứa nhiều kỉ niệm của tôi với Quỳ Hoa, với gia đình. Ngày còn tại thế, ba má Quỳ Hoa thương tôi như con, hễ lâu lâu, tôi không đến là nhắc, bảo nhắn tôi tới chơi. Em gái út tên là Bội Châu, tánh tình như con trai, mạnh mẽ, đốp chát, hát và chơi ghi ta khá hay, lại biết uống rượu, nên chơi với tôi khá hợp tánh.

Cách nay vài năm, trong dịp đi dự trại sáng tác tổ chức tại “Nhà sáng tác Đà Lạt”, tôi cùng một người bạn viết văn ở chung phòng có ghé thăm nhà. Mấy chị em mừng lắm, tổ chức một bữa tiệc ngoài trời đêm, đốt lửa giữa sân nhà. Khuôn sân ngày xưa khá rộng, trồng đủ các loại hoa, nhiều nhất là hoa hồng. Nơi góc sân có một cây hồng cổ thụ, mùa trái chín hồng rực cả cây. Dưới gốc hồng đặt một tảng lá vuông vức, phẳng mặt, vừa đủ chỗ cho hai người ngồi. Đó là nơi hình như chỉ dành riêng cho tôi và Quỳ Hoa ngồi bên nhau vào những buổi tối. Hồi đó, Đà Lạt lạnh hơn bây giờ nhiều lắm, càng về khuya càng buốt. Có những đêm trời quá lạnh, sương xuống ướt cả đầu tóc và vai, nhưng chúng tôi lại thấy thật ấm áp lạ kì. Hình như chúng tôi chỉ ngồi như vậy thôi, nói rất ít, hai tay thì thủ trong áo blouson. Bây giờ nhớ lại, thấy thật là buồn… cười. Mảnh sân bây giờ đã được lát gạch ra tới cổng. Tôi không còn thấy tảng đá ở sân nữa, nhưng không dám hỏi, sợ làm đau lòng cả hai. Con suối bên hông nhà, nước trong vắt chảy giữa những khóm trúc do ba Quỳ Hoa trồng, không còn âm thanh róc rách của ngày xưa. Tôi vẫn mường tượng nghe được tiếng suối vọng về từ kí ức, những âm thanh mơ hồ xốn xang trong tim mình. Đêm cuối đông, trời lạnh căm, mờ mờ sương khói; mọi người tự cầm que nướng thịt trên lửa than được cời ra từ đống lửa, nói chuyện và uống rượu… Anh bạn tôi bị hút vào câu chuyện của Quỳ Hoa và Giáng Hương; vả lại, anh cũng không biết uống rượu, nên chỉ còn có tôi và Bội Châu ngồi đối ẩm. Bội Châu nói rằng, rượu này em ngâm với linh chi Tây nguyên lâu rồi, để dành cho anh, bây giờ anh uống đi, em thay mặt ba chị em tiếp rượu anh. Tôi phục tửu lượng của Bội Châu quá. Bình rượu to đầy nhốc cứ rót đều mỗi lượt hai ly, mỗi người một ly không có châm chước. Cho đến khi đống lửa chỉ còn le lói than hồng thì bình rượu cũng gần cạn. Không biết tại sao, tối đó, tôi uống cả đống rượu như vậy mà không thấy say. Đầu óc vẫn tĩnh táo, nhưng trái tim thì mềm nhão ra. “Xin có một lần uống chén muộn phiền. Nhà im đứng, cửa cài đóng then…”. Nghe Bội Châu hát “ Vườn xưa” của Trịnh Công Sơn mà lòng tôi tê tái. Sự công phá của kí ức buồn dội về có sức mạnh như thuốc nổ. “Tình yêu như trái phá, con tim mù loà…” mà! Bội Châu đâu còn trẻ trung nữa. Em cũng đã bước vào tuổi “tri thiên mệnh” rồi. Tôi hỏi em về chuyện riêng. Em nói với tôi giọng như triết gia: “ Cái dại nhất trong cuộc đời mỗi con người, chính là đã tự nguyện tìm đến nhốt mình vào những ngục tù biết trước. Em không dại đến mức đó!”. Em vội chuyển đề tài, có lẽ sợ tôi hỏi tiếp về chuyện kia: “Lúc này mà có con mực một nắng còn roi rói, thả vào lửa than, dậy mùi thơm lừng cả xóm, ngon hết sẩy” . Em vừa nhắc khéo tôi về chuyện từ Phan Thiết lên mà không mang theo mực một nắng. Em đã có lần nói với tôi: “Mồi nhậu số một trên thế giới là mực một nắng Phan Thiết”. Tôi không biết em căn cứ vào đâu mà đưa ra đánh giá hớp như vậy. Nhưng với riêng tôi thì công nhận Bội Châu nói có lý.

Hình như trong tối đốt lửa đó, tôi không nói với Quỳ Hoa câu nào. Tôi tin Quỳ Hoa hiểu tôi… Bội Châu nói: “Anh đọc thơ nghe đi!”. Tôi làm theo lời Bội Châu, nhưng chỉ làm một nửa. Tôi đọc khe khẽ, chỉ vừa đủ cho Bội Châu nghe, bài thơ viết từ những ngày xưa ấy, mà tôi coi như bài thơ định mệnh viết cho Quỳ Hoa.

HOA QUỲ
Ta về đây xứ sương mù
Trả cho hoa nửa mùa thu nắng vàng
Hoa quỳ ơi, cứ mãi vàng
Để ta làm nắng hoang mang giữa đời…

Không biết Bội Châu có nghe được câu thơ nào không, chỉ thấy em trầm ngâm nhìn xuống li rượu rồi chầm chậm cầm lên uống từng hớp nhỏ như đang đắm chìm trong dòng suy nghĩ của riêng mình. Tôi lén nhìn Quỳ Hoa, không biết Quỳ Hoa có nghe được lời thơ không, sao đôi mắt ngó trân vào đống lửa chỉ còn than hồng le lói phản chiếu lên ánh mắt long lanh ngấn nước. Tôi vội cầm bình rượu rót tràn li rồi uống cạn. Hình như khói từ đống lửa bay vào mắt tôi cay xè…

Từ nơi sâu thẳm nhất trong lòng tôi, Quỳ Hoa luôn là đoá hoa quỳ vàng mãi với thiên thu.  ■




VVM.19.04.2026.

| UNIVERSELLE LITERATUR | UNIVERSAL LITERATURE | LITERATURA UNIVERSAL | LETTERATURA UNIVERSALE | УНИВЕРСАЛЬНАЯ ЛИТЕРАТУРА |
- newvietart@gmail.com -