N gười Á đông thường sanh hoạt trên sông, ở Việt Nam nhất là vùng đồng bằng sông Cửu và vùng mũi; nói chữ là thương-hồ, buôn bán trên sông, hồ, chữ bình dân gọi là chợ nổi; ghe thuyền tấp nập ngược xuôi, chè cháo trên sông, trên rạch như trên đất, nhà ở dựng trên nước lợp tôn, lợp ngói, cũng cây cảnh, cũng gà vịt, mèo chó như cảnh quê làng xóm; chẳng thấy chi lạ mà có cảm giác vui mắt, suôn tai qua điệu hò, câu hát hay vọng cổ sáu câu làm cho tâm hồn lạc quan yêu đời. Nhưng ở miền Trung lối sống trên sông khác hẳn, nhất là ở cố đô Huế. Xưa đò ngang đò dọc từ các ngọn nguồn xa chuyên chở, xuôi về kinh đô đông đúc, chen lấn, ồn ào làm cho sông thêm phần uế tạp; lắm khi không ngửi được mùi hương mà rặc mùi mắm ruốt, không còn thấy chi là làn sóng lăn tăn. Cứ thế mà lênh đênh trên sóng nước, vô tư cắm sào cạnh miệng chợ Đông Ba. Sầm uất, huyên náo đủ các thị dân khắp nơi. Nhà nước cũ không nỡ lòng đuổi việc làm ăn của họ, phớt lờ như giả điếc. Tới năm 75 người ngoài Bắc vào Nam cải cách đời sống văn minh hiện đại; xô mấy vạn đò, vạn chài, vạn bán buôn trên sông và đò đưa khách ở sông đào Gia hội xa chốn phố chợ và làm sạch thành phố để ‘đô thị hóa’. Dân ngu chả hiểu chữ nghĩa cứ ù lì; tức mình mấy ông chơi trò cho đi học tập ‘mút mùa’ khi đó mới giựt mình. May thay; qua thời kỳ nhà nước đổi mới thị trường, mấy vạn lén lút ‘nằm vùng’ chở khách làm ăn. Sông Hương trở nên ồn ào như xưa. Lâu dần dân Bắc hóa ra dân Nam (làm chơi ăn thiệt, có sao nói vậy, học tánh thực thà mà giàu nhanh) lợi dụng tình người mấy vạn đò như đồng khởi làm ăn theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa; đưa khách, mánh mung, chôm chiả. Nhưng; được cái dân Huế bảo thủ, luôn chịu đựng nắng mưa, mặc nhiên; có khi cũng phải thừa hưởng. Hưởng cái thanh lịch trên sông như mấy ông vua bà chúa thời nhà Nguyễn. Xưa du thuyền nghe ca nhạc chầu văn, ca Huế, nam ai, nam bằng, tứ đại cảnh, cung phi mỹ nữ dâng rượu hả hê quên hết, quên luôn cả hoàng triều. Nay hiện đại hơn (thập niên 60) ăn chơi trên sông là thượng lưu, trí thức, kẻ có tiền; thường gọi kín là ‘ngủ đò’ nghe qua tưởng nóng nực tìm sông nước để dỗ giấc ngủ ngon. Mà thiệt! ngủ trên sông đêm trăng, gió thổi hiu hiu, xung quanh là sóng nước vỗ bì bạch nghe sướng tai vô cùng, bất giác nghe tiếng ọt ẹt của chèo cộc chạm tiếng nước nghe thích thú hơn. Cũng chiếu hoa, chăn gấm, gối phụng, màng the trang trí đèn dầu lạc, lước qua tợ như thư phòng của bậc hiền nhân đang soạn văn thư. Đúng! Đó là chỗ thư giản cho công tử, các cậu ấm, ông nghè... Ai mà trách cứ, cho đó là chọn lựa đúng chỗ vừa kín đáo, vừa bày tỏ cái tấm lòng của kẻ thi nhân mặc khách. Đèn khuya làm mấy cậu hay sanh chứng đòi ăn sương đêm. Huế độc chiêu món này, có đủ nem công chả phụng phục vụ tới nơi, tới chốn vì đó là chốn tài tử đa xuân tứ. Có vị ngứa miệng hỏi chủ vạn -Nè! có bún bò, có cơm hến, có nem lụi, thịt nướng và có…? -Dạ thưa; không thiếu, đặc sản vịt lộn bầu (có vị chưa nghe, thấy) ngài đã dùng qua chưa? -Dạ thưa ăn một hột ngủ ngon lắm. Chủ vạn nói. -Ờ cho nếm thử coi. Chủ chơi nói. Quả thật; cái gì quê mùa là cái nguyên chất mới ra lò.
Ngủ đò còn truyền lưu tới hôm nay; sau 75 biến dạng thành đò đưa khách ra giữa dòng ngắm trăng, nghe nhạc du dương, cười nói tự do, đám hạ giới sướng quá văng tục. Sông Hương không còn gợn sóng lăn tăn mà hóa ra lăng nhăng. Huế cổ kính, Huế đẹp, Huế thơ, Huế mộng nếu tìm thấy đích thực cái cổ kính tàn tích phong kiến một thời vang bóng thì mới thấy Huế. Điều đó quả là hiếm. Nó phôi pha, nó ngắt nghẽo để đi vào thiên thu; giờ chỉ là ảo ảnh không thực. Đò xưa không hoa lá cành, không rồng bay, phượng múa, không kèn, không trống. Xưa nó trọng cái lăn tăn thâm trầm, kín đáo để rớt xuống đó tiếng chuông chùa từ xa vọng về ‘đố ai quét sạch lá rừng’ mà Phạm Duy, Văn Cao và nhiều văn nghệ sĩ khác đã một lần phải thao thức để được sống lại cuối đời ở chốn bồng lai tiên cảnh này. Nói thiệt để khỏi mất lòng; Huế ngó rứa mà bạc: đãi khách hơn đãi chủ.-Rứa răng! ■
