Việt Văn Mới
Việt Văn Mới


ÂM BẢN & DƯƠNG BẢN



Lời mở sách

Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nàng Tiên Thứ Bảy từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ…
    Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản để phác họa đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, vì vậy sẽ chỉ nói qua về nó như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ, giúp người đọc bước vào cái thế giới sáng tạo tinh thần của xứ sở “ít người nhiều ma” sẽ được miêu tả theo lối người viết “học đòi - học lỏm” từ kiệt tác “Nghệ nhân & Margarite” của nhà văn M. Bulgacov - “con sói cô độc” của văn học Nga…
    Bộ phim nhựa (thông dụng là cỡ 35mm, hay phim 3x4) trước tiên phải quay bằng phim Négatif, gọi tắt là phim Nê - Âm bản, sau đó in đem in tráng thành phim Positif, phim Pô - Dương bản, rồi đem dựng (montage) và xử lý các khâu kỹ thuật phức tạp về âm thanh & hình ảnh để thành bộ phim hoàn chỉnh, sau đó mới chiếu lên màn ảnh lớn qua máy chiếu phim. Trong thực tế, có khá nhiều hộp phim Négatif của không ít nhà làm phim độc lập các nước Âu - Mỹ đã không/ chưa được in tráng sang phim Positif để xây dựng thành bộ phim, bởi không có kinh phí làm hậu kỳ (Đặc biệt ở Pháp, Nhà nước khuyến khích mọi ý tưởng sáng tạo điện ảnh, nhưng chỉ tài trợ cho giai đoạn tiền kỳ quay phim Nê mà thôi). Còn ở nền điện ảnh nước ta, chẳng những không thể có nổi những thước/ hộp phim Négatif như thế, mà ngay ý tưởng để quay ra chúng cũng sẽ bị bóp chết ngay từ trứng nước - một khi dám liều trệch hướng phương pháp sáng tác Hiện thực XHCN, tức là góp phần (hay chủ đạo) tôn vinh Chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng mà trong đó, mỗi con người của Tổ chức thiêng liêng hay ăn theo Tổ chức đó buộc phải “lấp lánh như một vì sao” theo hình mẫu sắt thép của một “Nghệ sĩ cung đình” thì mới có thể được coi là có Giá trị chính thống…
    Nhiều Ý tưởng & Đề cương chi tiết loại đó của người viết cuốn sách này - dù bị bóp chết hay may mắn “chạy trốn” và “ẩn dật” được, - lâu nay chỉ được “Xi-nê mồm” theo cách nói vui của dân làm phim, hiện giờ sẽ tạm trở thành Âm bản, biết đâu tới lúc nào đó sẽ biến thành Dương bản - chắc chúng cũng tương đồng với những gì được nói đến trong bộ phim “100 Years" lấy cảm hứng từ quá trình ủ 100 năm của chai rượu Louis XIII Cognac của giới làm phim Hollywood thực hiện vào năm 2015, kể về hình ảnh Trái đất một trăm năm trong tương lai nhưng để dành đến 100 năm sau mới ra mắt khán giả…
    Còn Dương bản là những gì người viết đã nghĩ, đã thể hiện ra giấy hoặc đã lên màn ảnh mà tác giả của chúng may mắn không bị mắc vào tội “yêu thư yêu ngôn” như các cụ trung thực nhà ta xưa kia từng mắc phải, thậm chí còn được trao các giải thưởng này nọ… Có điều, cái phần “Dương bản” đó cũng chỉ là bề nổi của một tảng băng, là niềm mơ ước vô vọng về cái phần chìm kia còn là “Âm bản” không biết đến bao giờ, vì vậy vô tình nó cũng chỉ là một thứ “Âm bản” nhợt nhạt nhiều khi vô vị… Trong quá trình nỗ lực biến Âm bản thành Dương bản cho những ý đồ sáng tạo tâm huyết của bản thân, lắm khi những người viết & người làm phim còn lương tâm - trong khi phải “cầm đèn chạy trước ô tô” tự kiểm duyệt cho lành, vô tình đã phải làm kẻ thiếu lương thiện, dối trá bản thân và dối trá người biên tập & người duyệt phim duyệt kịch bản (scenario), vì thế Âm bản và Dương bản có lúc trở thành mớ bát nháo tầm thường đáng bị ném vào sọt rác văn hóa… Cuốn sách này có thể chỉ là một cố gắng tuyệt vọng trong việc tái hiện những Âm bản thành Dương bản, và phục hồi những Dương bản đã bị lỗi không do tác giả, với một nỗi buồn cùng nỗ lực chống lại bao sự thù ghét, đố kỵ, nghi ngờ, chèn ép từng đổ lên đầu tác giả và một vài nhà điện ảnh cùng chí hướng - song chống lại chỉ bằng sự thật và lòng thương cảm cho chính những người gây ra những điều đó; có lẽ bởi người viết tâm đắc với lời nhắn nhủ của nhà văn Milan Kundera trong tập tiểu luận Les testaments trahis (Những di chúc bị phản bội): “Trong thế giới của tính tương đối tiểu thuyết, không có chỗ cho hận thù: nhà tiểu thuyết nếu viết một cuốn tiểu thuyết với mục đích thanh toán hận thù - dù là hận thù riêng tư hay hận thù ý thức hệ - thì chắc chắn hoàn toàn sẽ rơi vào hố chết chìm về mỹ học!”.
    Âm bản còn là những ý tưởng rời rạc, những ghi chép vụn vặt dành cho các Dự án phim ảnh mà tác giả mới chỉ tâm sự bằng Nhật ký với cô con gái sinh viên đang “rắp ranh” bước vào nghề chông gai của tác giả - cái nghề ở một xứ sở mà liều lĩnh bước vào sẽ bị mang tiếng (và mang tội) là “sinh nhầm địa lý”…
    Trong thời đại Kỹ thuật số và bắt đầu tràn ngập công nghệ AL, câu chuyện về Âm bản liên quan đến Sự thật của đời sống & lịch sử chắc còn có ý nghĩa đặc biệt và lâu dài, bởi nhiều Sự thật đã bị bóp méo xuyên tạc nhằm phục vụ những mưu đồ chính trị không lương thiện của lợi ích nhóm, lợi ích giai cấp, góp phần làm đảo lộn Giá trị xã hội và đầu độc Dân trí… Các kỹ xảo tinh vi hiện đại đã là phương tiện hữu hiệu để biến Âm bản & Dương bản trở thành các tấm bình phong cho Đạo đức và Lý tưởng của riêng tầng lớp thống trị…
    Tác giả thấy cần kể lại câu chuyện về một bức ảnh kỳ lạ mà tác giả đã phải làm cả một bộ phim tài liệu khoa học (documentaire scientifique) để bênh vực người chụp: Đó là bức ảnh nổi tiếng đang được treo tại chính điện của Đền Đô - Bắc Ninh, mang tên "Bát đế vân du". Khi nhà nhiếp ảnh Hòang Tuấn Đại, nguyên là một phi công, vào đúng ngày lễ hội rằm tháng 3 năm Đinh Sửu tại Đền Đô đã vô tình “hình tượng hoá” được khí thế rồng bay của triều đại nhà Lý tám triều vua - ứng với tám áng mây trắng toả trên nóc điện. Tác phẩm thể hiện sự giao thoa kỳ lạ giữa con người và thiên nhiên, khiến dân ta không khỏi bồi hồi xúc động về sự huyền bí kỳ diệu của đời sống tâm linh. Nhưng bức ảnh từ khi ra đời đã gây ra sự kinh ngạc cùng nhiều bàn cãi, phản bác quyết liệt! Không ít người có trách nhiệm cho rằng bức ảnh “Bát đế vân du” là giả, đó chẳng qua chỉ là ảnh ghép, ảnh sửa bằng kỹ xảo điện ảnh, fotoshop. Tác giả còn bị quy kết là tuyên truyền mê tín bậy bạ, uy tín nghề nghiệp và cả "sinh mệnh chính trị" bị đe dọa, dù một số vị nguyên là lãnh đạo quốc gia đã khen ngợi bức ảnh. Ông Đại đã chạy dáo dác nhiều nơi để thuyết minh, tìm chỗ dựa. Nhưng ngay cả tiếng nói của Hội nghề nghiệp có các nhà nhiếp ảnh đoạt giải Quốc tế cũng quá mỏng manh! Trước tình cảnh ấy, đoàn làm phim chúng tôi quyết định thành lập, và đã tới Đền Đô vào dịp lễ kỷ niệm 999 năm ngày đức Lý Thái Tổ đăng quang, có tác giả Hoàng Tuấn Đại đi cùng. Chúng tôi đã quan sát ở đúng góc mà nghệ sĩ từng chụp. Ông Đại nói rõ về yếu tố kỹ thuật khi chụp, như khẩu độ (11), tốc độ (125/s), tiêu cự ống kính (80mm), loại máy (Nikon) loại ống kính (Télé room 35-125), loại phim (Khi về nhà riêng, ông Đại đã lục lại cho người làm phim "mục sở thị" mấy tấm phim négatif 35mm 100 ISO của hãng AGFA Đức, gồm năm tấm, được bấm máy liên tiếp cùng vị trí, mà tấm đẹp nhất thể hiện đầy đủ tám vầng mây ở nóc điện chính là bức “Bát đế vân du” này). Ông Đại chụp tấm hình vào lúc khoảng 12h trưa ngày trung tuần tháng 3 ÂL - tức là vào ngày 21 tháng 4 năm 1997. Vị trí mặt trời trong ngày này tạo ánh sáng trên đỉnh ngọn cây và chóp kiệu trước sân phản ánh đúng thời gian. Đó chính là ánh sáng chiếu gần như vuông góc tạo nên phần sáng trên ngọn cây và bóng đổ ở chóp kiệu. Đoàn làm phim đã làm hình ảnh 3D mô tả về các vị trí tương quan của các vật thể chụp, ánh sáng mặt trời, góc chụp… để giúp khán giả hiểu rõ hơn về ánh sáng phân bổ trên tấm ảnh là hoàn toàn chính xác với ngoại cảnh lúc đó. Ông Đại chỉ tay vào cái chóp kiệu màu đỏ sát nóc đền ở trên ảnh: "Kiệu Thánh Mẫu (tức thân mẫu của Đức Lý Thái Tổ) chỉ xuất hiện mỗi năm một lần, đi từ chùa Dạm tới Đền Đô, và có ở đây vào lúc chính ngọ ngày vua Lý Thái Tổ đăng quang!”. Vì cũng đi theo kiệu đức Thánh Mẫu về Đền Đô để quay tư liệu, nên người làm phim đã xác nhận được đúng thời điểm chụp bức ảnh!
    Sau đó, trong các bài giảng cho sinh viên đạo diễn, tác giả không ít lần đem tấm phim négatif “Bát Đế vân du” cùng một số đoạn phim quay âm bản (phim âm bản thông dụng -đen trắng hoặc màu- dành cho máy chụp ảnh và máy quay phim điện ảnh đều cùng cỡ 35mm, những người chụp ảnh thường lấy phim quay négatif còn thừa sau mỗi đợt quay phim tự lắp vào mobil phim để chụp.) hiếm hoi còn sót lại của chính mình làm “giáo cụ trực quan”, mong giúp các bạn trẻ đồng nghiệp chuẩn bị đi vào thế giới “Âm bản” của lịch sử dân tộc và đời sống hiện tại bằng ống kính máy quay thời Kỹ thuật số sẽ có thêm một “La bàn” đáng tin cậy…
    Và chung quy lại, cuốn sách nhỏ này chỉ nhằm tới cái đích khiêm nhường là Tri ân phần nào các thế hệ Điện ảnh Việt Nam - trong đó có những nghệ sĩ tài năng đã gặp phải số phận bi thảm bởi không gặp thời, song trên miền Mây Trắng vẫn đang đau đáu hy vọng các thế hệ Điện ảnh tiếp nối thực hiện giấc mơ của mình, để nền Điện ảnh nước nhà mau chóng có tên trên Bản đồ Điện ảnh Thế giới - cũng có nghĩa hầu hết những gì là Âm bản sẽ trở thành Dương bản trong ánh sáng của máy quay phim và ánh sáng của chủ nghĩa Nhân văn toàn cầu…
    Cuốn sách có 07 chương Âm Bản và 03 chương Dương Bản, xen kẽ nhau.
     Xin giới thiệu một chương trong tập tiểu thuyết.

     MA NAT

             . ÂM BẢN MỘT: CUỘC ĐỐI THOẠI
               CỦA HAI NHÀ ĐIỆN ẢNH TRONG MỘT CƠ NGƠI HOANG TÀN


N guyễn Thế, một “nhà làm phim độc lập” (khái niệm mới được du nhập vào Việt Nam mấy năm nay từ các nền điện ảnh lớn) bước tới cánh cổng to rộng vốn mở toang hoang từ lâu, nhìn vào bên trong phần Nội - Ngoại thất của một cơ sở sản xuất phim lớn nhất nước và toàn xứ Đông Dương trong hơn nửa thế kỷ.

Nếu một họa sĩ thiết kế phim truyện đang có ý định xây dựng bối cảnh về một Tổng công ty, hay một Gia tộc từng có thời hoàng kim nay bị phá sản, rồi bị thời gian vùi trong lãng quên chắc sẽ phải reo lên sung sướng, vì cái bối cảnh tự nhiên đang bày ra kia có giá trị thuyết phục hơn bất kỳ sự tưởng tượng của những họa sĩ điện ảnh tài ba nhất.

Nhưng hôm nay Thế tới đây không phải để làm thay, làm đỡ cho công việc của họa sĩ thết kế - như anh vẫn thường làm theo thói quen nghề nghiệp, trong hoàn cảnh của anh, mà vì lời nhắn gửi của một chị nhân viên dựng phim, con gái một nhà quay phim có tên tuổi đặc biệt quý mến Thế và từng hò hẹn sẽ làm phim với anh: “Đạo diễn ơi, anh hay viết báo, anh viết bài cho cơ quan cũ với, VFS đang bị cố tình cho chìm xuồng, xóa sổ rồi, buồn quá. Mà giờ ở VFS, các cây cổ thụ cây đa cây đề, các NSND, NSƯT về hết rồi, toàn hội trẻ không thể bảo vệ nổi, không có tiếng nói. Không hy vọng đòi lại, nhưng ít ra cũng phải trả lại công bằng cho cán bộ Hãng chứ anh? Tôi thì về hưu cùng các anh chị rồi, nhưng nhìn Hãng mà cả đời bố mẹ cống hiến và hơn 30 năm tôi công tác tại đây mà xót xa quá…”. Bài báo sẽ viết cần đến cảm xúc được hâm nóng của anh - đồng nghiệp cũ của mấy trăm cán bộ công nhân viên của Hãng đang tuyệt vọng kêu cứu khắp nơi, may ra sẽ là một trong những giọt nước làm đầy tràn cốc nước lỳ lợm theo chủ nghĩa “mackeno” của các cấp có trách nhiệm. Có thể anh đã ảo tưởng - như bao ảo tưởng của anh trở hành bong bóng xà phòng suốt mấy chục năm trong nghề, nhưng vẫn phải ảo tưởng, bởi nếu không còn cảm hứng ảo tưởng thì anh chẳng có lý do nào nữa để tiếp tục cầm bút, cầm máy quay…

Trước khi bước qua cổng Hãng, đập vào mắt Thế là mảng tường long tróc vôi vữa nham nhở bị dán các tờ quảng cáo “Thông cống”, “Chữa yếu Sinh lý”, “Sửa Ti vi-Tủ lạnh”…, và thực hài hước, có cả một tờ thông báo to đùng nghễu nghện lấn át các “đồng nghiệp”: “Tuyển sinh lớp năng khiếu Diễn viên điện ảnh đặc biệt” của một công ty Truyền thông tư nhân chưa ai nghe đến tên bao giờ! Cũng ở bức tường này, đã từng “được” trưng lên cả tháng ròng một bản công bố chữ to của Ban lãnh đạo Hãng để cảnh cáo công khai những người đã đi làm phim ngoài Hãng cho một bộ phim của Thế! Anh bất giác thở dài, cúi đầu bước qua cổng vô tình giống một người lính thất trận…

Sát cổng ra vào là phòng Bảo vệ cơ quan, gian phòng như tổ chim hoặc lều canh nương của đồng bào miền núi kể từ buổi “sinh thời” của nó giờ lại càng trở nên thảm hại với mạng nhện bụi bậm chăng phủ. Tại bàn nhỏ đựng văn thư cơ quan của nơi được các nghệ sĩ mệnh danh là “trấn thủ lưu đồn”, Thế đã nhận được nhiều lá thư của học trò cũ, bạn bè “giáo khổ” Tây Bắc, và đặc biệt là những bức thư gửi từ Nga, từ Đức… Vào cơ quan mới này, đúng vào thời kỳ Giá – Lương – Tiền, Thế có dịp làm quen với một người bạn trẻ tên là Thế Dũng. Dũng chịu khó lắng nghe những nhận xét, bàn luận ở quán nước ngoài cổng Hãng sau mỗi lần cơ quan chiếu phim học tập. Cậu ta chỉ là một phụ động, đang thử việc; và có lẽ ra, sau vài ba phim đi phụ động sẽ được chính thức nhận vào làm thư ký trường quay - nếu cái suất đó không được tổ chức để giành cho con cháu “sếp” trong Hãng! Uất hận, Dũng xin đi xuất khẩu lao động. Trước khi đi, Dũng và Thế đã có cả một đêm chuyện trò. Trong tâm hồn cậu thanh niên chất phác ấy ấp ủ biết bao khát vọng văn chương và điện ảnh. Dũng buồn buồn nói với Thế: “Nhất định em sẽ quay trở lại nơi mà em đã bị hất đi, bằng chính những tích lũy kiến thức và lao động nghệ thuật của em”… Biết Dũng đi Nga, lại thích đọc sách, Thế đã tìm mấy cuốn tiểu thuyết dịch cũ trong tủ sách riêng đem tặng cậu ta, như: Một tổ quý tộc, Những đốm lửa, Rừng Nga, Những linh hồn chết, Làm gì?… Nhìn Dũng sung sướng ứa nước mắt, Thế chợt hiểu rằng đó là món quà lớn nhất đối với Dũng từ trước tới nay… Thế rồi, anh đã liên tục nhận được những bức thư của Dũng gửi từ Xibiri. Sự chờ đợi của Thế khi tìm thư mỗi lần đến cơ quan khiến nhiều người tưởng rằng anh có một người ở nước ngoài! Thời gian đó, có người thân quen đang ở Liên Xô, ở Đức, ở Tiệp… cũng có nghĩa là ít phải quan tâm đến việc phân phối hàng hoá của cơ quan, không phải bức xúc đến khốn khổ khi lốp xe đạp bị nổ thì lại được phân chiếc Pê-đan!… Thế đã theo dõi bước đường tinh thần của chàng trai ham học hỏi, yêu nghệ thuật, và đồng cảm sâu xa với nỗi gian khổ của Dũng nơi tuyết trắng rừng Taiga. Anh đã tìm đọc lại những cuốn sách Nga đã dịch có liên quan đến Xibiri để có thể cảm thông hơn với Dũng, và có thể ra lời khuyên nên hữu ích gì cho tư cách một người anh tinh thần, một người thầy, như Dũng từng đề nghị… Sau hai năm như vậy, Dũng đột nhiên bặt tin. Rồi cũng đột nhiên, Dũng liên hệ lại với Thế và thông báo rằng: cậu ta đã sang Cộng hòa liên bang Đức, và mở một cửa hàng ẩm thực Việt. Sau đó, Dũng yêu cầu anh tìm giúp những cuốn sách về văn học, sân khấu, điện ảnh mà Dũng cần. Và điều làm Thế ngạc nhiên cảm động nhất, là Dũng hỏi anh về những cuốn sách dịch tác phẩm của Parternắc, Xôngiênitxưn, Bungacov, Kron - loại sách lúc đó vẫn còn là “quốc cấm không thành văn bản” đối với các Đảng viên cỡ “thủ lĩnh” Hãng và “thủ lĩnh” Xưởng… Môt thư điện tử của Dũng gửi Thế có đoạn: “Em cảm thấy có nhu cầu phải viết ra tất cả những gì mình đã trải qua… Giờ, em không vất vả kiếm sống như trước, em thấy biết ơn những năm tháng sống ở Hãng phim, ở Xibiri. Và biết ơn văn học, nhất là văn học Nga…”.

Trong cảnh hoang tàn, Thế chợt nhớ đến Dũng như một người bạn tri âm tri kỷ hiếm hoi của mình. Vậy là cậu ta đã “ôm đầu máu” chạy khỏi nơi này trước anh, đã sớm may mắn thoát nạn từ lâu trước khi “con thuyền Điện ảnh” xứ này bị chìm, thoát bao nỗi đau đớn bị nghi kỵ và trù dập đến bẹp dí như con sâu róm - những kẻ không thể và không bao giờ có nổi “Thẻ Đỏ” mà dám mơ mộng cao siêu về nghệ thuật, dám mang khát vọng đẹp về Điện ảnh!… Thế giơ máy ảnh chụp lia lịa các chi tiết, các góc của “bối cảnh” phim tưởng tượng kia, để sau khi gửi đăng kèm bài báo sẽ gửi cho Dũng, để cậu ta nếu vẫn còn máu mê với Nàng tiên thứ Bảy biết đâu sẽ có sáng kiến gì hay ho góp vào công cuộc phục hưng Điện ảnh, phục hồi Hãng phim, dù vô vọng thì cũng đỡ tủi cho ước mộng Điện ảnh vỡ nát của nhiều người, và làm đồng minh bất đắc dĩ của anh!

Thế bước tới phòng Tài vụ, cách phòng Bảo vệ dăm bước chân, đó là nơi không chỉ để lĩnh lương, lĩnh tiền hợp đồng, mà còn là nơi mỗi kỳ giáp Tết nhiều người cơ quan đến để nhận mấy cục “bánh bao đen”: đó là các mẩu phim négatif - từ các hộp phim quay thừa của những đoàn làm phim cắt ra và đóng gói giấy đen để “làm quà” cho các tay máy ảnh trong cơ quan làm dịch vụ - phim quay đen trắng loại ORWO NP55 mà chụp ảnh đám ma đám cưới hay chân dung người đẹp thì miễn chê, bởi độ mịn tuyệt hảo của loại phim Nê chỉ dành cho những écran-màn ảnh lớn!

Thế bước tới một căn buồng đóng kín cửa, phía trên có tấm biển gỗ đã mục và xiên xẹo còn lờ mờ chữ: XƯỞNG LÀM PHIM… của ông đạo diễn Xưởng trưởng. Đây là Xưởng đầu tiên Thế được phân vào khi về Hãng nhận công tác. Kỷ niệm sâu đậm nhất tại đây là, ông Xưởng trưởng đã cho anh bài học đầu tiên của “sự nghiệp cày thuê cuốc mướn” chữ nghĩa: Năm đó Thế được Ban Giám đốc Hãng giao phim, nhưng rồi phải buộc nhường lại phim này, và chỉ làm phó đạo diễn cho ông Xưởng trưởng. Ông là Nghệ sĩ Nhân dân, chuẩn bị “hạ cánh an toàn”, ông cần làm đạo diễn chính của một phim có dính dáng đến lịch sử sắp vào guồng sản xuất. Thế buộc phải cắn răng đồng ý. Ông ấy rất vui, và bảo thẳng anh: “Bác rất thích được làm việc với một đồng nghiệp hay đọc sách, lại có bằng văn chương, vì như vậy phim sẽ có gốc chắc chắn của văn học!” Ôi, đáng quý và đáng yêu quá, lời động viên rất chính xác và cũng rất có nghề! – Thế từng chua chát thầm nghĩ… Sau đó, suốt gần hai tháng trời, “thằng bé” đã làm thay công việc khó khăn nhất của một đạo diễn chính, cũng là công việc then chốt, quan trọng nhất của quy trình sản xuất phim: viết Kịch bản phân cảnh (Scénario technique, dành cho các bộ phận sáng tạo và kỹ thuật trong một đoàn làm phim, tựa như bản thiết kế chi tiết trong việc xây dựng công trình). Như thế lại được tiếng là “học nghề” của một đạo diễn kỳ cựu, khi mỗi lần ông ấy đọc duyệt từng phân đoạn thì gật gù: “Đó, phải viết như thế, đúng, đúng là những điều bác đã ấp ủ lâu nay! Cám ơn đồng nghiệp trẻ đã thể hiện được tư tưởng của bác! Và cháu rất có tiến bộ trong ngôn ngữ điện ảnh… Tuy nhiên, cần đặc biệt chú ý tới những tình tiết, chi tiết liên quan đến chủ đề tư tưởng phim, bởi phim của chúng ta là phim của nền điện ảnh XHCN ưu việt có âm hưởng chủ đạo là ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, hay lãng mạn cách mạng, không thể len vào dù chỉ một chút dư âm của sự hoài nghi, u ám, chủ nghĩa cá nhân ích kỷ…”.

Và như để kẻ học nghề phải trả công xứng đáng cho những bài giảng làm ù tai của ông, khi kịch bản phân cảnh được cộp dấu vào sản xuất, thì tác giả thực sự của nó bị gạt bắn ra khỏi cương vị phó đạo diễn - thay vào đó là một phó đạo diễn khác giỏi giang hơn Thế nhiều lần trong các quan hệ xã hội và có khả năng kiếm thêm kinh phí tài trợ cho đoàn phim về ăn, ở, đi lại, quảng cáo, cùng các chi phí khác phi sản xuất…

Còn Thế, sau khi bị cướp quyền “cầm cờ” đạo diễn chính, rồi cả công sức lao động một cách lịch sự, đến tên cũng không có trên générique - màn chữ phim một cách đáng đời như thế, giúp cho “người thầy đầu tiên” của mình “hạ cách an toàn xuống miền lãng quên”, anh đành tự an ủi: “Âu cũng là một bài học đầu tiên cho kẻ làm nghề, nhất là với những kẻ chỉ có chữ mà không có thứ gì khác bảo kê cho nó… Coi như một lần “cày thuê cuốc mướn chữ nghĩa” thành công, mặc dù chẳng được xu rỉ nào! Đến như các nhà văn tài ba có mấy ai đã sống được bằng nhuận bút, còn mình chỉ là thằng thợ viết thôi, lại là thợ viết hạng bét, có gì mà buồn!”.

Thế bước sang căn buồng kế bên, biển gỗ rơi đâu mất, song anh nhớ đó là XƯỞNG LÀM PHIM…, và ở đây đã diễn ra lần “cày thuê cuốc mướn” thứ hai của anh - so với lần thứ nhất thì có hậu và có âm hưởng “lãng mạn” hơn - tất nhiên không phải là “lãng mạn cách mạng”: Một ông đạo diễn cũng khá kỳ cựu tên tuổi nổi danh cả nước (cũng sắp đến lúc “hạ cánh an toàn xuống miền lãng quên”) đã trịnh trọng mời Thế đi ăn trưa, rồi khi trở về Xưởng lúc không có ai đã hạ giọng sòng phẳng với anh: “Chú mày chưa làm phim nên kinh nghiệm chưa có nhiều, rồi sẽ được giao phim xứng đáng thôi! Nhưng mấy cậu đạo diễn gốc dân văn mới vào ngành thì anh tin lắm, yêu lắm… Anh chuẩn bị vào phim, lo nhiều thứ, không có thời gian tâm trí đâu viết phân cảnh… Anh tin là chú làm giúp anh được… - Ông nhìn xoáy vào Thế, thấy đúng là thằng ngớ ngẩn, chứ không phải là kẻ lọc lõi biết cò kè mặc cả, nên tỏ niềm thương cảm thật sự - Yên tâm, anh trả chú mày bằng một nửa nhuận bút kịch bản của anh, được chưa? Bọn cầm bút chúng mày đói bỏ mẹ, đừng làm cao nữa!” Cái bỗ bã thân thiết và chân tình đó của ông đã thuyết phục được Thế, và anh đã nhận lời mà vẫn tìm cách giữ được thể diện cho một đạo diễn nhớn là ông. Sau đó, qua bè bạn học cùng khóa, Thế được biết mình không phải là người duy nhất được ông ấy (và mấy đạo diễn kỳ cựu khác) thuê viết kịch bản phân cảnh! Lần đó, Thế đủ tiền mua được một chiếc xe máy Win cũ, để tập “bay như gió” vào công việc, dù không phải bao giờ cũng xuôi chèo mát mái, nhưng bớt ngớ ngẩn đi và đồng thời có dịp hiểu thêm ý nghĩa của cái gốc văn chương trong nghệ thuật điện ảnh…

Thế ngước nhìn lên tầng hai – nơi có các văn phòng của Giám đốc và phó Giám đốc. Bao kỷ niệm với người thầy dạy nghề đáng kính của anh, đạo diễn, NSND Trần Đắc - phó giám đốc nghệ thuật Hãng chợt quay về dồn dập… Mấy năm trước, Thế có viết bài báo về ông: “Một nghệ sĩ cô đơn, một người thầy nhân hậu” in trên “Thế giới Điện ảnh”, phần kết bài báo kể lại chuyện: “Trong một cuộc họp tổng kết cuối năm của Hãng phim truyện VN, có các quan khách của Bộ Văn hóa-Thông tin và Cục Điện ảnh, trong khi các diễn văn chúc tụng đang diễn ra, chính mắt tôi được chứng kiến một cảnh thoạt tiên khiến tôi ngỡ ngàng: đạo diễn Trần Đắc ngồi ghế bên dưới, điềm nhiên giở tiền thưởng ra đếm - bất chấp phép lịch sự giả dối, như một cách phản ứng lại sự vô bổ của các cuộc họp chỉ mang tính hình thức, hơn thế, chỉ là sự che đậy khéo léo cho những cuộc đấu đá tranh giành quyền lực và lợi lộc... Lúc đó, tôi thấy xót xa thương ông. Còn bây giờ, chi tiết buồn đó chỉ làm tôi thấy chạnh thương mình, song lại có thêm tình mến thương và lòng kính trọng đối với ông - một người nghệ sĩ chân chính và cô độc... Giờ đây, nơi bên kia thế giới, ông có được thanh thản hơn?”

Thầy ơi, lúc này nơi bên kia thế giới, thầy có buồn hơn trước khung cảnh “mờ mờ nhân ảnh” Người - Ma, Vinh quang - Đổ nát của Hãng ta?

Tới phòng Họp cơ quan, Thế bồi hồi nhớ lại buổi cuối cùng của cuộc thi vào ngành Điện ảnh diễn ra tại đây (do Cục Điện ảnh, trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội và các Hãng phim cả nước liên kết tổ chức thi tuyển đại học Tu nghiệp cho các chức danh nghề nghiệp: Biên kịch, Đạo diễn, Họa sĩ thiết kế, Chủ nhiệm phim). Hôm đó, Thế được một vị trong Ban Giám khảo (gồm các nhà điện ảnh nổi tiếng và các GS,TS. nghệ thuật học) hỏi một câu: “Theo anh, nhân vật chính của văn học nghệ thuật thời đại ta là gì?” Với sự háo hức của người sắp bước vào nghề nghiệp mới mẻ hằng ao ước, Thế trả lời: “Thưa, nhân vật thời đại, theo một học giả Bungari, đó là người có trí tuệ của một nhà bác học, có trái tim của một chiến sĩ, và tâm hồn của một nhà thơ!” Cả Ban Giám khảo ngẩn ra giây lát, nhìn nhau, chắc tự hỏi không hiểu kẻ “trái khoáy” này từ đâu ra, cớ sao không thèm nhắc tới Nhân vật Công - Nông - Binh mà tất cả các giáo trình Đại học văn chương, nghệ thuật lúc đó coi là Thần tượng, là hạt nhân tri thức mỹ học XHCN? Nhưng Thế vẫn “vượt Vũ Môn” để vào được ngành điện ảnh; mơ ước cháy bỏng bao năm của anh được thực hiện, có điều anh không thể biết rằng: đó cũng là lúc anh chuẩn bị tiếp nhận bao vỡ mộng đang há miệng chờ đón mình…

Thế đi hết các khu chức năng trong Hãng rồi bước tới một không gian sát Hồ Tây, hiện đang được chủ Hãng mới cho thuê làm một nhà hàng nổi… Đó cũng là nơi trước kia có một dãy nhà tập thể bằng tre nứa của Hãng… Thế nhớ, một trong những việc đầu tiên của anh khi về nhận công tác ở Xưởng phim (sau thành Hãng ) là tìm đến căn phòng của nhà biên kịch người Thái Cầm Kỷ, mang theo chai rượu nút lá đặt trước mặt ông: "Tây Bắc là quê hương thứ hai của em. Xin ra mắt đàn anh!" Nhà Điện ảnh xứ hoa Đào tròn xoe mắt nhìn Thế từ đầu tới chân rồi reo lên: "Hay quá, tớ đang cô độc đây!" Lúc đó, tên tuổi ông đã vang danh với các kịch bản được dựng thành phim có nhiều người xem hâm mộ, đoạt cả giải Quốc tế, còn Thế thì mới lẫm chẫm vào nghề; nhưng điều đó không hề ngăn cách hai người có biết bao buổi trò chuyện tâm đắc trong căn phòng tồi tàn này, rồi sau đó là căn phòng ngăn đôi ở khu tập thể cũ kỹ Hoàng Hoa Thám... Cứ sau mỗi buổi chiếu phim học tập của cơ quan vào tối thứ tư, ông lại lôi kéo Thế ngồi bàn luận tới khuya… Cầm Kỷ sống cảnh gà trống nuôi con nhiều năm ròng sau khi người vợ đầu là một ca sĩ bỏ đi xuất khẩu lao động. Nói đến ông, mọi người thường lắc đầu thương hại. Lúc nào ông cũng là người túng thiếu nghèo khổ nhất trong giới nghệ sĩ điện ảnh. Ông đã buộc phải rời Hãng trở về quê hương nhiều lần để tìm đường kiếm sống - làm phim truyền thống cho các xã các huyện, viết các vở kịch ngắn cho ngành truyền thông địa phương, lên núi phá hoang trồng ngô khoai sắn, nuôi gia cầm cùng vợ con (người vợ thứ hai của anh là một cán bộ Đoàn tại Sơn La)… Ông vẫn cặm cụi viết, song những kịch bản tâm huyết của ông dần trở nên lạc lõng thảm hại giữa "chợ trời" phim ảnh, chẳng một ông chủ hãng phim nào - kể cả ông giám đốc của Xưởng phim truyện to nhất nước này đang trả lương bèo bọt và thất thường cho ông -, có thể mỉm cười chào đón ông nữa. Bởi lúc đó cả ngành Điện ảnh trong tình trạng cấp cứu, lại đang bị ngập lụt trong thứ phim đã đi vào từ điển tiếng Việt hiện đại: "Phim mì ăn liền" - nghĩa là cái thứ phim câu khách bằng mọi giá, kể cả chà đạp lên sự liêm sỉ tối thiểu! Giai đoạn Cầm Kỷ viết kịch bản "Vùng rừng nóng bỏng", cứ được trường đoạn nào ông lại gọi Thế tới bắt nghe và góp ý, bên chén rượu trắng và đĩa lạc luộc. Kịch bản đề cập tới sự cần thiết phải giao đất giao rừng cho dân với một chính sách để dân có thể sống được mà không phải phá rừng đốt nương- điều càng ngày càng nóng bỏng trước sự nhức nhối cấp bách về thiên nhiên & môi trường sinh thái cần được bảo vệ, về phương thức làm ăn để thoát nghèo đói, về môi trường văn hóa mang đậm bản sắc của các dân tộc Tây Bắc đã, hay đang có nguy cơ bị dìm vĩnh viễn trong nước lạnh hoặc bị xúc gọn vào bảo tàng... Nhưng cái tập kịch bản vang vọng tiếng kêu thống thiết của loài chim lửa - nộc phay kia cùng nhiều tập kịch bản ngồn ngộn sự sống khác chứa đựng huyết lệ của Cầm Kỷ đã rơi tõm vào khoảng không đáng sợ, bị ném vào sọt rác của Âm bản!... Biết làm sao được, khi còn tồn tại những người có trách nhiệm thiếu lương thiện hay thiển cận khiến cả ngành Văn hóa lẫn Điện ảnh lao đao tựa bị lũ quét, khi mà những ông chủ sản xuất phim hiện tại (cả Tư nhân lẫn Nhà nước) đang cay cú đến mờ mắt với những canh bạc phim ảnh hốt ra vàng nhờ khoe chân dài, váy ngắn, ngực phơi lưng hở của những "siêu mẫu siêu sao" và trưng bày cuộc sống vương giả hoặc nhầy nhụa tình dục mà nếu có đem phim lên chiếu không phục vụ đồng bào miền núi thì cũng chỉ là một điều oái oăm đến xót xa, hơn thế, một sự điếm nhục!

Nỗi đau nghề đau đời của người anh đồng nghiệp đã rời xa cõi trần vào lúc này như làm sống lại và khía thêm vào nỗi cay đắng tràn ngập lòng Thế nửa tiếng trước, bên cửa Xưởng phim cũ: Giai đoạn Cầm Kỷ viết kịch bản "Đường rừng" kể lại chuyện người thanh niên yêu nước Lò Văn Giá dẫn bốn tù chính trị vượt ngục Sơn La rồi khi trở về bị giặc giết hại, ông thường xuyên tìm gặp trao đổi với Thế, vì đã đọc những truyện ký của anh viết từ thời “giáo khổ Tây Bắc” về nhà ngục khét tiếng này. Chính ông đã đề nghị với Ban giám đốc & Hội đồng nghệ thuật Hãng giao kịch bản trên cho Thế, một đạo diễn mới tốt nghiệp nhưng có nhiều hiểu biết về Tây Bắc, và được chấp thuận ngay. Nhưng một đạo diễn Đảng viên lâu niên kiêm Xưởng trưởng đã nì nèo Lãnh đạo Hãng xin được làm phim này, coi như cuộc "cúng giỗ" cuối cùng của ông trong loại phim "cúng cụ"; thế là tay "đạo diễn trẻ" đương nhiên bị gạt bắn ra ngoài guồng làm phim - kể cả chức danh phó hay trợ lý đạo diễn, sau khi đã kỳ công ngồi viết kịch bản phân cảnh kỹ thuật cả tháng trời với tư cách là đạo diễn chính!

Rồi Thế chậm rãi quay trở lại lối cũ dẫn ra cổng Hãng. Từ xa, trong cái “bối cảnh Thiên tạo” không dành cho bất kỳ cuốn phim négatif nào, Thế có cảm tưởng vừa xuất hiện từ màn sương ký ức một nữ diễn viên điện ảnh cao tuổi - đó là Nghệ sĩ Nhân Dân nổi danh, người từng được tôn vinh trong vài Festival Film quốc tế hệ thống XHCN (tiêu biểu là LHF Mascơva). Chị đang đứng trân trân thỉnh thoảng chùi nước mắt ngậm ngùi, dễ khiến cho người lần đầu tiên đến chốn hoang vắng này nghĩ rằng: đang có một cảnh quay phim sử dụng hoàn toàn ánh sáng tự nhiên còn máy quay thì được giấu ở một trong những cửa sổ mục nát tầng hai bị toang ra tựa lỗ châu mai thời kháng chiến chống Pháp.

Ở khoảng cách mà để nếu lấy được trung cảnh hẹp cần tới ống kính télé 400mm, Thế cũng có thể nhận ngay ra chị, nhưng chị chẳng chú ý đến Thế, và chắc chẳng biết Thế là ai, bởi anh thuộc loại đàn em tận mấy lứa sau của các nghệ sĩ Xưởng phim sau trở thành Hãng phim. Anh bước tới gần chị và chào. Chị diễn viên lau vội nước mắt tràn trề trên má.

- Chào em…

Chị nhíu mày như muốn nhớ lại tay này là ai, đã gặp bao giờ. Thế không để chị phải thắc mắc lâu hơn, anh nói nhỏ:

- Chị ạ, em hiểu tâm trạng của chị… Mới tuần trước em vào đây, em đã muốn chảy máu mắt trước cảnh các ông chủ mới của Hãng ném ra sân những vật dụng quý giá đối với người làm nghề phim truyện mà em từng phải “thuê chui” để làm phim ngoài, như mấy bộ quần áo lính Pháp lính khố đỏ, vài khẩu Muscơtông!…

Chị diễn viên mắt sáng lên:

- Hóa ra, em cũng là người trong nghề, và có gắn bó với Hãng?

Thế gật đầu.

- Lúc nãy, em nhớ lại lời than vãn gần như cầu xin em của một chị nhân viên dựng phim, con gái của nhà quay phim nổi tiếng Nguyễn Quang…

- Ồ! Anh Nguyễn Quang! Chị đã từng làm phim với nhà quay phim Nguyễn Quang đó! Từ lúc chuyển vào phía Nam theo gia đình, chị chưa lần nào được liên hệ với ảnh… - Chị diễn viên kỳ cựu đất Bắc sau hơn ba chục năm rời Hãng phim đã nói đặc giọng Sài Gòn. Gặp lại người cùng cơ quan, giữa khung cảnh tan hoang của chốn làm nghề từng là “cái nôi” nghệ thuật của mình, chị diễn viên như tạm quên đi nỗi ngậm ngùi lúc trước để được sống lại thời xuân sắc và vinh quang chói lọi. Chị thân tình kéo tay Thế bước đi trên con đường rải mấy lớp lá khô, chỉ tay liên tục, như quên mất rằng Thế còn thông thạo nơi này hơn chị:

- Chắc em cũng nhận ra: sau tấm pano phim cũ nát kia là cầu thang lên các văn phòng Giám đốc và Phó Giám đốc phụ trách nghệ thuật; mấy gian phòng ở dưới, bên trái là các xưởng làm phim 1,2,3,4… Phía sau cùng là các phòng Tổ chức, Tài vụ, Kỹ thuật… Kia là lối dẫn vào phòng họp Hãng, phòng chiếu phim, trường quay, xưởng in tráng…

Thế cũng chợt sôi nổi không kém chị :

- Vâng, bắt đầu từ đây tạo giới hạn của Hãng ta với địa phận của trường Chu Văn An, tức trường Bưởi cũ và Hồ Tây… Chắc chị biết: Hồ Tây cũng là địa bàn sinh sống những năm cuối đời của đôi vợ chồng thi sĩ đặc biệt có số phận vất vưởng, là Phùng Quán. Em có đôi lần được ngồi xem nhà thơ Phùng Quán câu cá trộm ở Hồ Tây; và một lần duy nhất mời được ông vào xem phim học tập tại cơ quan mình - phim Ý “Anh em nhà Rocco” của đạo diễn Visconti…

Thế chợt dừng lại. Anh thấy mình nói hớ khi nhận ra thái độ khó chịu của chị diễn viên khi anh nhắc đến một tên tuổi của nhóm Nhân văn giai phẩm. Như có búa nhỏ gõ nhẹ vào đầu anh: Chị ấy là Đảng viên kỳ cựu trong giới tinh hoa mà sự sáng ngời của Lý lịch đã góp phần không nhỏ tạo nên bề dày kỳ tích diễn xuất mà cả giới điện ảnh phải thèm thuồng, nhất là qua những vai chính là Cán bộ Đảng, Tình báo quân Giải phóng, Biệt động nằm vùng… Trong các cuộc họp Chi bộ của Hãng ngoài này hay Hãng trong kia, chắc chắn chị là người được quán triệt hoặc ở vai trò quán triệt các Đảng viên khác về tư tưởng phòng chống các nọc độc phản Cách mạng ẩn náu trong các vần thơ, trang sách, phát ngôn, cảnh phim, thoại kịch của những đối tượng văn nghệ đáng nghi ngờ và thực sự đã bị đưa vào “máy chém” cải huấn đích đáng - như ông Phùng Quán nọ!

Thế câm lặng bên Ngôi sao điện ảnh khét tiếng một thời, và nếu chị không nổi tiếng đến thế và anh từng quen thân với chị, giữa khung cảnh hoang tàn đổ nát này, anh sẽ kể cho chị nghe vài cuộc “đấu tố” tư tưởng khó mà tin nổi dẫn đến những kết cục bi thảm của mấy nghệ sĩ tài năng, vài “vụ án” không bao giờ được ghi lại chính thức hay mãi mãi chìm trong đống phim négatif - nếu được quay trộm - về nhiều âm mưu thâm hiểm nhằm “giết chết” sinh mệnh chính trị - nghề nghiệp lẫn nhau giữa các thế hệ điện ảnh mang danh “trí thức”, “văn nghệ sĩ có công với Cách mạng” trong Hãng mà Thế đã âm thầm bí mật sưu tầm, nghe ngóng, ghi chép suốt nhiều năm qua… Và anh sẽ kể chị nghe toàn bộ sự thật ô nhục về cuộc “Cổ phần hóa Hãng phim” dẫn đến cảnh “Điêu tàn” không kém của thi sĩ họ Chế này! Nếu thấy chị “chịu” được những điều khó nhằn đó, anh sẽ giới thiệu cho chị nội dung cuốn “Trò chơi” - cuốn tiểu thuyết tuy không phải là đặc sắc nhất của nhà văn Nga Iu.V. Bondarev nhưng lại là tác phẩm nói rất kỹ, rất thấm thía về sự suy đồi, tha hóa của một trong những nền điện ảnh lớn thế giới kể từ khi tuân theo định hướng sáng tác XHCN và những “nghệ sĩ lớn” dần biến thành “ông quan” nghệ thuật có “sứ mệnh” là thực hiện chỉ thị từ trên xuống tới các “nghệ sĩ bé” (về chức vụ) nhằm tạo ra các tác phẩm phục vụ thật tốt đường lối cao cả của Chính quyền và đồng thời cũng xa cách dần các giá trị nhân văn phổ quát của nhân loại… “Cái đít ngồi ghế Giám đốc Mosfilm” - theo cách nói của Bondarev - đã lấn át hết, tới chỗ thống trị tư duy sáng tạo của không ít nghệ sĩ điện ảnh Liên xô có lương tâm một thời… Còn nền điện ảnh đàn em, sinh sau đẻ muộn ở nước ta tuy không mắc “căn bệnh ung thư” tới độ trầm trọng như sự miêu tả của Bondarev, song lại không có đủ nội lực để tự vượt thoát và tự “xạ trị” như “ông lớn Mosfilm”, nên đã bị “đầu độc” một lần tới gần chết vào đầu những năm 90 thế kỷ trước - khi Liên Hiệp Điện ảnh VN đã có chủ trương hãm hại nó bằng nhiều phương thức khá tàn độc - trong đó có việc xóa bỏ tất cả các rạp chiếu phim và chuyển chúng thành các thứ kinh doanh ăn uống hay văn hóa lặt vặt không dính líu gì tới Nàng tiên thứ Bảy!… Hãng phim, cùng cả nền điện ảnh dân tộc chết lâm sàng từ đó; những phim sử thi hoành tráng ca ngợi chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng và Lãnh tụ vĩ đại một cách chân thành nhất cũng không cứu nó thoát khỏi cảnh ngắc ngoải. Rồi tới khi chủ trương cổ phần hóa đưa ra đã là phương thức thật lý tưởng cho tầng lớp “Mafia” (hay gần giống Mafia) trong ngành Văn hóa - Điện ảnh, những “hậu duệ” của Liên hiệp Điện ảnh trước đây bây giờ nhảy vào ngang nhiên xâu xé cả nền Điện ảnh đang thở hắt, với quy luật trơ tráo của thời kinh tế thị trường dị dạng tiếp tay cho “thương vụ 4 Thụy Khuê” mà một nhà văn từng công tác ở Cục Điện ảnh đã phải thốt lên: “Đó là một thương vụ Mua - Bán đến ăn cướp cũng phải chào thua!”

Năm ngoái, khi có dịp phải đi qua phố Thụy Khuê, Thế có nghé vào cổng Hãng phim cũ, đúng cái lúc ông chủ mới của Hãng - những người chẳng cần biết Điện ảnh là gì ngoài số tiền họ đã bỏ ra “mua như ăn cướp” để làm chủ khu đất vàng lớn sát Hồ Tây (cùng khu đất của Hãng tại Đồn Đất, Sài Gòn) - ném hết ra ngoài sân toàn bộ kho phục trang, đạo cụ phó mặc cho mưa nắng, bởi với họ, đó chỉ là mấy thứ “đồng nát” vô giá trị, làm bẩn kho của họ. Cũng như họ đâu thèm quan tâm những người làm nghề sẽ đau xót đến chảy máu mắt ra sao, không thèm đếm xỉa đến đời sống và nghề nghiệp của người làm phim giờ đang như “cá nằm trên thớt” chờ “ơn huệ” của ông chủ mới… Hiện giờ, những ông chủ mới của Hãng phim ấy đã phải nhè ra, bởi khó “ăn tươi nuốt sống” được miếng mồi béo bở cùng phe nhóm bên trên… Nhưng số phận của cả Hãng phim cùng hàng trăm nghệ sĩ, cán bộ công nhân viên vẫn còn trong giai đoạn “Sống cùng Lịch sử” - như tên một bộ phim truyện gần đây, “Sống cùng Lịch sử” với Vinh và Nhục của một nền Điện ảnh chịu nhiều thua thiệt và kém cỏi so với các đàn anh đàn chị trong khu vực chứ chưa dám so với cả thế giới…

Ghi chép của Thế dành cho bài báo sẽ viết:

Hãng phim truyện Việt Nam (VFS) trong quá trình Cổ phần hoá đã bán cho Công ty Vận tải thuỷ (VIVASO) đơn vị chuyên kinh doanh cát sỏi với giá 32 tỷ - đúng là “Ăn cướp cũng chào thua”! Sau một thời gian hoạt động của công ty này trong lĩnh vực sản xuất phim, thì Hãng phim truyện Việt Nam ngày càng xuống cấp về cơ sở vật chất lẫn hoạt động phim ảnh, đúng hơn là hoàn toàn tê liệt. Cái cảnh “5 K” đã diễn ra như một định mệnh quái ác với cán bộ, công nhân viên và nghệ sĩ Hãng phim trong suốt những năm qua kể từ khi diễn ra sự kiện “Cổ phần hóa": Không phim - Không lương - Không bảo hiểm y tế - Không bảo hiểm xã hội - Không việc làm. Thậm chí, một bộ phim đã được duyệt kinh phí sản xuất trước khi chuyển đổi hình thức quản lý - kinh doanh cũng bị đổ kế hoạch, chỉ vì người lãnh đạo mới không biết cách điều hành sản xuất phim! Tổ chức sản xuất một bộ phim hài Tết thì người trong tổ thiết kế đã phải khiếu nại về hành vi thiếu nợ của nhà sản xuất! Nhân sự VFS phải tự bung ra ngoài tìm phim để làm… Đã rõ trước Thanh thiên bạch nhật: Vivaso - chủ đầu tư Hãng phim truyện Việt Nam hoàn toàn không có năng lực quản lý trong lĩnh vực sản xuất phim ảnh, không có chuyên môn điện ảnh, tư cách đạo đức nghề nghiệp tính bằng số âm!

Cho đến thời điểm cuối tháng 5/2022, Văn phòng Thủ tướng Chính phủ đã có công văn chuyển đến Bộ Văn hóa -Thể thao-Du lịch và Công ty cổ phần, đầu tư & phát triển phim truyện Việt Nam: Yêu cầu 2 bên (Bộ Văn hóa-Thể thao-Du lịch và Vivaso) nhanh chóng giải quyết dứt điểm thủ tục thoái vốn giữa chủ đầu tư Vivaso và Bộ. Nhưng Vivaso không chịu rút vốn khỏi Hãng phim truyện Việt Nam, vẫn ở lì đeo bám bằng cách mở rộng kinh doanh mặt bằng của Hãng phim làm bãi thuê đỗ xe, cho thuê số 6 Thái văn Lung -TP. HCM làm quán café. Và việc Bộ Văn hóa-Thể thao-Du lịch im lặng trước sự chây lì của Vivaso, im lặng trước mọi chỉ thị của Văn phòng Thủ tướng Chính phủ cùng kết luận của Thanh tra Chính phủ là một hành động thực khó hiểu!

Thế nhận thấy chị diễn viên có mối quan tâm thực sự đến số phận của Hãng phim và cả nền Điện ảnh đang chết lâm sàng, nên anh quyết tâm nói cho chị nghe những gì mà anh biết:

- …Nhưng chị ạ, xét cho cùng, nếu chỉ trách mỗi Vivaso thì cũng hơi oan cho họ, bởi họ đã hành động theo quy luật của Kinh tế thị trường, đúng yêu cầu của quy trình Cổ phần hóa, giữa lúc nền Điện ảnh nhiều năm mang danh Cách mạng kia gần như bị phá sản, thua lỗ, không có người xem vì chủ yếu là những đề tài mang nặng tuyên truyền chính trị, phim nặng tính “cúng cụ” - mà cả một thời rất dài nếu muốn xem loại phim đó cũng chẳng còn rạp đâu mà xem, sau khi Liên hiệp Điện ảnh đã xóa sổ các rạp chiếu phim nhựa, biến chúng thành quán bia, vũ trường, câu lạc bộ văn hóa phường…

Anh chỉ tay ra phía cổng Hãng mở tênh hênh:

- Chị ơi, giữa cái thời chị và các bậc thầy điện ảnh của chị em ta đang lâng lâng tự hào với những tác phẩm điện ảnh ca ngợi lý tưởng Cách mạng cao đẹp được trao giải chiếu cố tại mấy Liên hoan phim quốc tế, thì Ban Giám đốc Hãng trưng ra Bảng chữ to treo trước cổng kia kìa, để cảnh cáo, để bêu nhục những người làm phim lương thiện, trong đó có thằng em của chị đây…

Chị diễn viên giật mình, nhăn mặt lại:

- Cớ sao thế em? Các em mắc lỗi gì ư?

- Họ cảnh cáo những người đã đi làm phim ngoài Hãng cho em - dù họ đã làm đủ định mức lao động của cơ quan…

- Vô lý thế - chị ngắt lời.

- Chỉ vì em đã không đưa kinh phí tài trợ Cục Điện ảnh về cho Hãng thực hiện phim của em… Người bạn em làm trưởng phòng Kỹ thuật của Hãng, một nhà quay phim K5 cũ đã bí mật giúp bạn là chọn thuê phương tiện lành lặn nhất và mời mấy ánh sáng viên, kỹ thuật viên đi giúp đoàn phim quay xa ở miền núi, rồi sau đó cũng bị phát hiện và bị Đảng bộ Hãng kiểm điểm lên xuống… Rồi tên tuổi anh ấy cũng bị bêu lên trên Bảng chữ to kia!

Chị diễn viên lắc đầu nhẹ, nhưng vẻ mặt vẫn băn khoăn như không tin lời Thế. Anh đang trong đà say máu “tố khổ”:

- Trước đó cả chục năm, điện ảnh Việt Nam đã rơi vào cơn khủng hoảng trầm trọng, từng phải lên tiếng cấp cứu thảm thiết, và nền điện ảnh Cách mạng đáng tự hào đã phải nhường sân cho hàng loạt "phim mì ăn liền" với những cái tên phim câu khách lộ liễu trắng trợn! Ở trong ấy, giữa cái Lò chính sản xuất các phim mỳ ăn liền, chị lạ gì nữa?

Chị diễn viên gật đầu xác nhận.

- Gần đây, sau khi một cuốn sách viết về diễn viên Châu Nhuận Phát ra đời, em có viết bài báo nhỏ: “Hoan nghênh Châu Nhuận Phát”, bởi đó là một nhân cách đáng quý, nhất là đã không chấp nhận “Đường lưỡi bò” của bọn bá quyền Trung Nam Hải! Nhưng đó cũng là diễn viên lừng lẫy của một nền Điện ảnh thương mại một dạo đã góp phần “hạ đo ván” nền Điện ảnh VN ốm yếu què quặt mà trong một bài báo viết cho báo “Đại Đoàn Kết” ba chục năm trước em có nói đến, kèm theo hai tấm ảnh: ảnh diễn viên Châu Nhuận Phát đang cầm súng lục chĩa vào ảnh Diễn viên Thu Hà… Như thế là sự thê thảm của nền Điện ảnh dân tộc đã diễn ra suốt mấy thập niên qua, không đợi đến lúc ngắc ngoải để Cổ phần hóa: nền điện ảnh ấy vốn đã ốm o gầy mòn, không được bồi bổ, bị ăn chặn tứ phía, lại thường xuyên bị “ăn hiếp” bởi những kẻ tự đắc tự mãn, vừa dốt nát vừa tham lam ở các cấp…

Chị diễn viên cắn môi lại vẻ tức tối và bất lực. Thế bảo:

- Nếu chị không ngại đọc những sự thật đau lòng đến trần trụi của ngành ta, em sẽ gửi cho chị mấy bài viết đã đăng báo chính thống của em viết từ hơn ba chục năm trước tới gần đây nhất nhé, chị sẽ hiểu thêm vì sao có cảnh ngộ này - Thế chỉ tay ra “bối cảnh” tàn tạ hoang vu. Nhưng chị diễn viên lắc đầu:

- Không! Chị không muốn đọc đâu! Chị nhớ ra em rồi, từ lúc mấy đạo diễn phải rời Hãng vào Sài Gòn tìm mối làm phim, chị đã được nghe kể về em, đã đọc các bài báo của em viết về ngành mình, nhưng lúc đó chị không tin. Còn bây giờ, những điều đó sẽ chỉ khiến chị thêm đau lòng…

Thế định nói thêm: “và khiến chị thêm tiếc nuối với các vinh quang của chị; lẽ nào các Bằng khen, Huy chương, Danh hiệu cao quý chị đoạt được lại có nguồn gốc từ sự bê bối khủng hoảng kia?… Nhưng Thế chợt thấy thương hại chị diễn viên, anh không nỡ nói thêm gì nữa, bởi nếu chị có nghe thì chắc không chịu đựng nổi điều này: sự phá sản của cả một nền Điện ảnh dân tộc cũng có phần đóng góp đáng kể của nhiều tác phẩm điện ảnh ca ngợi Chiến thắng bằng mọi giá của “Bên thắng cuộc”, vẫn được gọi là “Phim Cúng cụ” - trong đó, nhân vật chính và chính diện là chị cùng các đồng nghiệp diễn xuất tài hoa đã nhiệt thành cho khán giả trong nước và thế giới dễ dàng nhận ra tính thù hằn giai cấp tới độ “Thù muôn đời muôn kiếp không tan” ẩn sâu hoặc lộ diện giữa Thanh thiên bạch nhật trong hình ảnh những chiến sĩ hoặc nông dân cầm vũ khí bảo vệ Tổ quốc… Một nhà điện ảnh Pháp nổi danh từng bảo: “Bộ phim thực chất là một bài thơ được viết bằng ánh sáng”, còn ở ta, phần lớn các bộ phim thời “hoàng kim” của Điện ảnh cách mạng thực chất chỉ là những bản lên án - tố cáo - tố khổ - lời kêu gọi sự thương hại, được viết bằng ánh sáng gay gắt của sự căm hờn thù hận… Sự thù hận đó tạo thành mạch máu chính của cả một “nền văn nghệ minh họa” - theo cách nói của một nhà văn sớm thức ngộ trước cái “hố thẳm” mà nhiều văn nghệ sĩ Việt hiện đại đang lao vào tựa những con thiêu thân, và nó còn hằn vết tới tận hôm nay khiến các trang sách và các màn ảnh lớn nhỏ vẫn nhuộm đỏ máu người như một sự tuyên bố ngầm quyết liệt xóa bỏ lời kêu gọi Hòa hợp Hòa giải thực sự mà hàng ngày vẫn ra rả trên các phương tiện truyền thông!

Thế nhớ lại hai bài trong một loạt bài báo Thế viết thời bị Hãng cắt lương phải phiêu bạt cùng nhiều đạo diễn già - trẻ vào Sài Gòn tìm đường cứu nghề. Anh sẽ tìm cách thuyết phục chị đọc chúng, cùng nhiều tài liệu chính thức đã công bố (chứ không phải của Mạng xã hội và truyền miệng), hy vọng chị sẽ là “Nhân chứng” sống có sức nặng không nhỏ trong việc đưa “thương vụ mua bán” Hãng phim đầy phi lý và ô nhục này ra “thanh thiên bạch nhật”; đồng thời - điều này quan trọng hơn - như vậy là chị sẽ cùng Thế thắp nén hương không chỉ tưởng nhớ mà còn thay mặt cả nền điện ảnh Tạ lỗi - Sám hối trước linh hồn các nghệ sĩ điện ảnh đã chết tức tưởi sau các cuộc truy bức tư tưởng & kiểm soát bữa ăn, và các nghệ sĩ điện ảnh đã hy sinh anh dũng trong các mặt trận phía Nam trước năm 75 giữa lúc cầm máy quay!

ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM - VÕ SĨ KHÔNG CÂN SỨC

1. Những cú nốc-ao!

Khi phần đông khán giả Việt Nam đã “quen hơi bén tiếng" phim Hồng Kong, khi các ông chủ trường quay ở xứ xở “lung linh ánh đèn màu” nọ hỉ hả thấy chính sách tiếp thị và kế hoạch kinh doanh điện ảnh lâu dài của họ có hiệu quả vượt ngoài sự mong đợi, thì cũng là lúc điện ảnh Việt Nam bị “nốc ao” và ngắc ngoải chờ một phát súng lục - của Châu Nhuận Phát chẳng hạn, kết liễu.

Ở một tờ báo chuyên ngành, có người viết sau khi đã dài dòng khen chê phim Hồng Kong đã đi tới một kết luận có tính “thực tiễn”: “Ai muốn làm phim nghệ thuật để đoạt giải thưởng quốc tế hãy cứ làm. Điện ảnh ở đây, chủ yếu dựa vào tầng lớp khán giả đông nhất, thị trường đông nhất và cuối cùng cũng là món lợi nhuận kếch xù nhất” (Điện ảnh TP. HCM số 15.10.1990). Bênh vực những phim Hồng Kông dễ dãi, tác giả công kích sâu cay vào một loại phim mà điện ảnh chúng ta giờ vẫn thiếu vắng: phim có giá trị tư tưởng & nghệ thuật cao, kết quả của sự tìm kiếm sáng tạo độc đáo - những bộ phim có khả năng gây được ấn tượng sâu bền, dù nặng nề chăng nữa nhưng đó chính là con đường lớn đầy chông gai của một nền điện ảnh đích thực.

Nhưng chúng ta hãy quay lại với “võ đài” hiện tại. Các “võ sĩ" điện ảnh Việt Nam không “nặng nề” chút nào như người ta vẫn định kiến, mà ngược lại “nhẹ cân lạng” về cả nội dung tư tưởng lẫn hình hài: từ cấu trúc cốt truyện, tâm lý nhân vật đến các chi tiết sống, từ điều kiện làm phim, phổ biến phim đến kĩ thuật các bản phim (négatif và positif)… Nhiều “lời khẩn cầu” cấp bách, nhiều lúc rơi tõm vào chốn hư không; còn sự chai lỳ, câm điếc của những người, những cấp có trách nhiệm và có thẩm quyền đã mặc nhiên cho nền điện ảnh “rơi tự do”, vô tình tiếp tay cho sự ra đời như nấm của hàng đống phế phẩm điện ảnh! Đó là chưa kể đến những vụ móc ngoặc để được giao làm phim, để mua bán phim có lợi cả đôi bên, cùng sự thiếu sót và bất lực thảm hại của các luật lệ… khiến cho “võ đài điện ảnh” Việt Nam mỗi lúc càng bị phủ thêm màn u ám.

Thực ra, ở trên đó vẫn còn vài “hiệp sĩ cô độc”. Những tác phẩm điện ảnh ít nhiều có giá trị nghệ thuật vẫn âm thầm tìm hướng đi cho cả ngành, giữa lúc nhiều địa phương, cơ quan phát hành và chiếu bóng gần như tẩy chay phim Việt Nam bằng một bản án không tuyên bố nhưng nghiệt ngã. Với một phim “trôi nổi” mua với giá vài trăm ngàn đồng có thể thu lời hàng triệu, tội gi mà chiếu phim nội địa vắng khách - dù đã buộc phải bỏ ra hàng chục đến hàng trăm triệu đồng (Kinh phí Nhà nước) để mua nó? Thôi thì mạnh ai nấy được. Việc làm phim và tìm “đầu ra” cho phim trở thành những “phi vụ làm ăn” chụp giật, bịp bợp và chớp nhoáng quay vòng vốn, bất chấp khán giả, bất chấp mọi quy luật về chức năng giáo dục và thẩm mỹ. Người người làm phim, nhà làm phim - cái cảnh tượng mới trông thì tưởng nức lòng, ra chiều “khởi sắc”, xem kỹ ra thì thật tuyệt vọng! “Lợi nhuận kếch xù!”! Lời kêu gọi hấp dẫn ấy không chỉ làm lao đao nhiều nghệ sĩ đáng kính trọng, khiến họ chấp thuận “luật chơi” của đám “võ sĩ nghiệp dư” đang ganh đua uốn éo chiều theo đủ mọi thị hiếu tạp nham, mà còn khiến cho cả Liên hiệp Điện ảnh cũng nhảy ra tổ chức “làm phim thể nghiệm” - mà kết quả thực sự “thể nghiệm” đó (thực chất là “làm tiền”) khiến nhiều người xem phải ê chề xấu hổ… Những “võ sĩ” còn giàu tâm huyết thì bị dồn đến chân tường, bị thương tích băng bó đầy mình (giống như nhiều máy quay phim cổ lỗ ở các hãng phim), phải bán bớt phương tiện và mặt bằng hành nghề để kiếm sống qua ngày. Người làm phim bế tắc, nhà làm phim đau đầu, những người làm công tác phát hành phim và chiếu bóng cũng ngộp thở. Cái giá của lợi nhuận trong nghệ thuật điện ảnh khiến cái “võ đài” thiêng liêng đó trở thành bãi chiến trường : người võ sĩ thất trận - nền điện ảnh dân tộc đáng thương đã tới lúc không còn đủ sức để kêu cứu nữa!

2. Ở đâu, những ông bầu của võ đài?

Họ vẫn tồn tại ở đâu đó. Chỉ có điều, dưới sự chỉ đạo của các “ông bầu” làm phim bằng mọi giá, những "võ sĩ" điện ảnh đang mất phương hướng, bị nhiễu loạn, lại è cổ ra chịu đựng những cú đấm thôi sơn của kinh doanh lỗ lãi. Bị nhốt chung vào một cái “rọ” bùng nhùng của cơ thể quá lỗi thời, quá bất hợp lý, các "võ sĩ" bị dồn đến cùng đường đôi khi đã “đánh lộn” lẫn nhau… Ngành chiếu bóng thì phải è cổ nộp ngân sách cho địa phương, còn ngành phát hành phim thì hoảng hồn trước chỉ tiêu kế hoạch nộp ngân sách Nhà nước mỗi lúc một tăng cao. Năm 89, 90, năm nào ngành phát hành phim cũng bị lỗ hàng tỷ đồng, nhưng nghe nói năm 91 khả năng chỉ tiêu giao nộp còn tăng cao hơn nữa! Trong khi một đồng chí Thứ trưởng thay mặt Bộ Văn hóa - Thông tin Thể thao và Du lịch tuyên bố: “Không thể nhìn văn hóa nghệ thuật như một ngành kinh tế, tự hạch toán và thăng bằng thu chi, mà phải tài trợ cho nó, vì doanh thu chủ yếu của văn hóa nghệ thuận là doanh thu tinh thần, tư tưởng và thẩm mỹ” (Sài Gòn giải phóng 6-1-1991) thì có lẽ chỉ tiêu doanh thu theo pháp lệnh cho ngành điện ảnh đã được ấn định. Để đạt được con số doanh thu ấy, liệu người ta có dám chiếu phim liền trong vòng một tuần không? Nên chăng, cứ tiếp tục dùng tiền thu được ở phát hành phim để vừa mua phim vừa mua phim Việt Nam nhét vào trong kho, vừa nộp ngân sách? Cái vòng luẩn quẩn, sẽ không bao giờ chấm dứt. Để có một số tiền khổng lồ như thế, người ta buộc phải tiếp tục mở rộng của chào mời phim ngoại nhập bằng đủ kiểu, nghĩa là thị trường điện ảnh Việt Nam sẽ còn phải “ngập lụt” bởi chính những “ông bầu” đang tâm hạ sát các “võ sĩ” của mình!

Đến lúc nào mới xuất hiện những “ông bầu” thực sự có hiểu biết về nghệ thuật điện ảnh, toàn tâm toàn ý với các “võ sĩ” của mình, đồng thời tạo điều kiện giúp họ mở mày mở mặt với thiên hạ?

Tp.HCM 1990 (Báo Đại Đoàn kết)

ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM ĐI VỀ ĐÂU?

Dường như, song song với những biểu hiện đáng mừng của một nền kinh tế thời mở cửa là sự “đua nở” của phim ảnh (không chỉ là “ khởi sắc” như nhận định của một vị quan chức điện ảnh). Trên các phương tiện thông tin đại chúng, những “tít” phim mới đua nhau xuất hiện ngày một dồn dập. Các công ty chiếu bóng địa phương không còn kêu ca về chuyện thiếu tiết mục điện ảnh nội địa mà nạn phim ngoại nhập lậu đành tạm lùi vào “hậu trường”. Điện ảnh đã tỏ ra rất nhạy cảm với cơ chế mới cùng những thị hiếu thời thượng; hơn ở đâu hết và hơn ai hết, nó đang là một “chiến sĩ tiên phong” của thương trường văn hóa.

Bất cứ một nền điện ảnh nước nào cũng có một loại phim thương mại mà người ta vẫn gọi là “phim chợ”, phim loại ba với mục tiêu lớn nhất là cung cấp món ăn giải trí cho đông đảo khán giả. Nhưng để duy trì một nền nghệ thuật điện ảnh đích thực, để có một đội ngũ sáng tạo điện ảnh luôn được bổ sung bằng những tài năng mới và để có được những tác phẩm “rửa mặt” cho quốc thể trong các liên hoan phim lớn quốc tế, thì ngay đến những “con sói già” của điện ảnh Pháp, Anh, v.v. cũng cần đến sự tài trợ đáng kể của nhà nước. Hàn quốc đang đầu tư mạnh cho điện ảnh như một phương cách truyền bá văn hóa hữu hiệu... Trông người mà ngẫm đến ta, quả thực đáng lo ngại! Những bộ phim nhựa và vidéo đã và đang ra lò hàng loạt và được quảng cáo rùm beng chỉ có thể chứng minh hùng hồn cho sự suy thoái về trình độ nghề nghiệp lẫn thẩm mỹ của giới làm phim (cả chuyên nghiệp lẫn nghiệp dư), sự xuống cấp về thưởng thức thẩm mỹ của người xem. Tình trạng này đã ở mức báo động! Nhiều bài báo ở trung ương lẫn địa phương đã bày tỏ sự lo lắng, buồn phiền và chê trách. Điều đáng buồn hơn cả là việc làm phim đã trở thành một phương tiện kiếm sống đơn thuần và dễ dãi (thậm chí gần như một sự chụp giật), một cách vun quén sự giàu sang cho cá nhân. Không kể đến những kẻ “ngoại đạo” háo danh ham tiền nhảy bổ vào điện ảnh để kiếm chác, ngay cả một số không ít các nghệ sĩ đã có tên tuổi, vị trí nhất định trong ngành cũng trở nên mê muội trước những vụ “apphe” trong thị trường phim ảnh (và phim trường)! Một bộ phim làm về lãnh tụ (tiêu tốn tới gần hai tỷ đồng) cũng trở thành “phi vụ” làm ăn béo bở, rồi sau đó thì “bộ phim vĩ đại” được nhét vào kho. Không có gì đáng ngạc nhiên khi một đạo diễn có tiếng tăm ở phía nam chấp nhận làm một bộ phim nhiều tập hoàn toàn dựa theo một cốt truyện phim Hồng Kông, một đạo diễn được phong nghệ sĩ ưu tú ở phía Bắc mang danh “làm phim thể nghiệm” (do LHĐA cũ bày vẽ) để cho ra đời một sản phẩm đáng xấu hổ… Song, điều đáng ngạc nhiên là những nghệ sĩ đáng kính trọng đó đã không hề có một chút áy náy, băn khoăn nào, họ còn ngang nhiên tuyên bố trước công luận: họ cần phải làm phim để sống, cần phải chiều theo ý muốn của kẻ có tiền! Gần đây nhất, một đạo diễn thuộc loại “có cỡ” để thanh minh cho hàng loạt phim kém cỏi làm theo lối “chạy sô” của mình, đã trả lời phỏng vấn như sau: “Điều trước hết đối với riêng tôi là cần phải tồn tại bởi vì tôi không thể không làm phim”… “nhiều đồng nghiệp của tôi, chỉ vì không chịu đổi mình, đành phải sống cơ cực. Muốn làm phim tử tế, tôi phải có thật nhiều tiền”… “Bây giờ người ta đang sửa lại cái “thói quen nghèo khổ” đó, không có gì buộc tôi không như họ”. Thực là thảm hại, và đáng buồn quá! Chưa cần nói đến những mỹ từ to tát: sứ mệnh nghệ thuật, danh dự người nghệ sĩ, v.v, chỉ cần nói đến lòng tự trọng tối thiểu của người làm nghề, người ngoài cũng cảm thấy xót xa, tủi hổ thay! Thế nào là “chịu đổi mình” ? Phải chăng ông đạo diễn đạt kỷ lục về số lượng làm phim nọ muốn nói tránh đi cái sự thật: “chịu đổi mình” cũng có nghĩa là “tự hạ mình”, “tự bán rẻ tài năng và nhân cách của mình”? Đến nay những “tấm gương” như thế không chỉ còn đếm trên đầu ngón tay được nữa. Họ đã đang “chơi” trò chơi phim ảnh như những con gấu đập những đõ ong đầy mật, dù lũ ong có túa ra đốt chí chết bọn trẻ con đang đứng bâu quanh hâm mộ họ cũng chẳng làm họ mảy may động tâm!

Trong suốt một thời gian dài, tất cả những “thể nghiệm” điện ảnh để kiếm ra tiền, để “móc túi” khán giả hầu như đều đã được sử dụng. Còn những thể nghiệm nghiêm túc về nội dung- nghệ thuật thì bị quên lãng, bị coi rẻ, không được ủng hộ (ngoài những lời cổ động chung chung). Những người ôm ấp khát vọng sáng tạo thực sự thì bị coi là không tức thời- tệ hơn, là những kẻ điên rồ, phải sống trong cảnh đói rách, mệt mỏi, chán nản. Cả guồng máy điện ảnh ầm ầm lao theo cái đích doanh thu. Lợi nhuận khổng lồ của phim ảnh phần lớn rơi vào túi những kẻ thức thời cơ hội và những kẻ lợi dụng vị trí công tác để xoay xở mờ ám. Và nhan nhản trên màn ảnh là những nhân vật sang trọng thuộc tầng lớp trên hoặc những kẻ mới phất lên giàu có làm người xem phát thèm rỏ rãi. Những con người sống động với chiều sâu tâm lý chân thật của các tầng lớp xã hội dần dần biến mất khỏi màn ảnh để nhường chỗ cho những hình nhân xa lạ, khóc, cười, thọc lét và ba hoa những triết lý học mót rởm đời. Phim dành riêng cho thiếu nhi gần như vắng bóng…

Nhìn bức tranh toàn cảnh của điện ảnh Việt Nam, không thể không lo ngại. Giai đoạn phim quay thông dụng bằng vật liệu ORWO đã chấm dứt, bước sang giai đoạn phải dùng vật liệu đắt hơn gấp mấy lần (phim AGFA, KODAK, v.v), kinh phí làm phim sẽ phải tăng vọt. Trong khi đó, cơ cấu tổ chức phát hành, chiếu bóng trên toàn quốc chưa được cải tổ một cách đáng kể mà quy trình công nghệ sản xuất phim đã lạc hậu so với thế giới đến nửa thế kỷ. Công chúng xem phim hàng ngày bị ngạt thở với hàng đống thứ phẩm điện ảnh nội địa. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ điện ảnh tựa như chuyện ăn cháo loãng cầm hơi. Những người được đào tạo tử tế, nhất là những người có khuynh hướng thẩm mỹ tích cực , có nhiệt huyết đối với sự nghiệp điện ảnh dân tộc thì sống trong cảnh cầu may…

Điện ảnh Việt Nam sẽ đi về đâu? Trên “võ đài” điện ảnh quốc tế, điện ảnh Việt Nam còn là một “võ sĩ” bủng beo, gầy còm, không cân sức đến bao giờ?... Những điều day dứt, trăn trở của những người hoạt động điện ảnh có tâm huyết hi vọng sẽ tìm được sự đồng cảm sâu xa và những biện pháp mạnh bạo, hữu hiệu của những người lãnh đạo điện ảnh, những cấp có trách nhiệm của Nhà nước.

Những “ông bầu” đích thực của Điện ảnh Việt, theo hình mẫu “Ông hoàng Hollywood" mà dân làm phim nước nào cũng mơ ước cho đến hôm nay vẫn chưa thấy bóng dáng ở chân trời nào của xứ sở! Trong lúc đó, thì việc “đục nước béo cò”, những người có tiền song chẳng hiểu quái gì về Điện ảnh nhảy xô vào mong hốt bạc từ những thứ ngoài nghệ thuật Điện ảnh - là chuyện hiển nhiên, dể hiểu!

Tp HCM - 1990 ( Báo Đại đoàn kết )

Nếu chị diễn viên chịu đọc mấy bài báo tép này, Thế sẽ có cớ để nhẹ nhàng nói với chị: Vậy đó chị, “họa phúc hữu môi phi nhất nhật” (Nguyễn Trãi) - họa phúc có mầm đâu chỉ một buổi, cái sự tan hoang này khiến chị phải khóc đã được chuẩn bị từ lâu rồi, có gì mà phải phí hoài nước mắt, thưa bà chị, nữ diễn viên điện ảnh nổi tiếng, nữ Nghệ sĩ Nhân Dân đáng kính và đáng thương?.  ■




VVM.26.03.2026.

| UNIVERSELLE LITERATUR | UNIVERSAL LITERATURE | LITERATURA UNIVERSAL | LETTERATURA UNIVERSALE | УНИВЕРСАЛЬНАЯ ЛИТЕРАТУРА |
- newvietart@gmail.com -