Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
      

AI LÊN PHỐ KỲ LỪA



S au nhiều năm ăn Tết nguyên đán ở xứ người, thiếu vẽ mặn mà của quê nhà và cái hương vị ngày xưa, chúng tôi về quê ăn Tết ở Hà nội với cháu tôi năm 2014. Ở Pháp thì phong tục bản xứ là họ ăn lễ Noel, sau đó l̉à Tết dương lịch vội vàng vì sau đó phải bắt đầu làm việc lại. Hội hè gia đình hay bạn bè chỉ có một buổi tối để họp nhau ăn uống.Còn tết Việt thì rơi vào ngày làm việc nên được tổ chức vào cuối tuần trứơc hoặc sau tết để gia đình xum họp.

Lúc còn là sinh viên thì chúng tôi họp nhau lại đi nhà hàng ăn uống sau có chùa thì tụ nhau lại làm văn nghệ chờ đón giao thừa rồi đi hái lộc.

Ngày xưa tôi ăn Tết ở Sàigòn cho đến khi xuất ngoại, cho nên về Hà nội để muốn biết đàng ngoài ăn tết ra sao? Và sau đó lên tham quan phố Kỳ Lừa.

Chúng tôi ở khách sạn phố Mã mây thì tiện lội bộ ra bờ hồ.Ngày 30 tháng chạp thì hàng quán đóng cửa, phải ra hàng rong ăn uống. Các tiệm cơm phở đóng cửa vì ai nấy đều về quê ăn Tết. Ngoài đường phố thiên hạ nhộn nhịp, vội vàng mua sắm cành đào, chậu quất, hoa thuỷ tiên và hai cây mía cho ông bà, ông vải làm gậy chống về ăn Tết với con cháu.Không có mai vàng ở Sàigòn xưa. Nhiều cửa hàng đốt vàng mã ngoài đường để tiễn biệtt năm cũ, ngày nay tiền âm phủ in tiền 100 đô la, các cụ ngày nay giàu sụ tha hồ ăn tiêu ở cõi âm.

Chung quanh hồ Gươm đèn đuốc sáng rực cửa hàng tấp nập, đẩy dẫy kẻ mua người bán và du khách. Các cô cậu tung tăng đi dạo mát ,chụp hình, ăn kem rất thi vị.

Tối trước đêm giao thừa , thành phố tổ chức bắn pháo bông ở bờ hồ có quay truyền hình, thiên hạ đông ngẹt và pháo bắn hơn giờ đẹp không kém gì pháo bắn ngày quốc khánh của Pháp. Các đài truyền hình chiếu cảnh đón giao thừa ở hoàng thành Thăng Long,Huế, thành Hồ là Sàigòn cũ…

Tấ́t cả mọi sinh hoạt đều ngừng lại 7 ngày, các tiệm cơm phở đóng cửa ngày trong 3 ngày đầu. Chỉ có vài quán hàng mở cửa như hàng rong vặt,hàng bánh cuốn, MacDo không có, bún chả cũng không...

Người Hà nội ăn Tết trong gia đình như chúng tôi ngày xưa.Giao thừa không tiếng pháo thời thiếu hẵn không khí Tết. Mồng một, tôi kiếm được ít sôi gấc và tiệm gà nầm (gà chiên trong tý dầu chấm muối tiêu). Mồng hai mới thấy các cụ và người cao tuổi ra dạo cảnh hay hóng gíó ở bờ hồ. Mồng bốn tết chúng tôi ra bến xe đò đi Đồng Đăng tham quan phố Kỳ lừa mà ai cũng nghe bài ru em từ thuở nằm nôi:

’’Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,
Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh,
Ai lên xứ Lạng cùng anh,
Bõ công bác mẹ sinh thành ra em…”.

Những câu thơ trong lời hát ru thuở nhỏ của bà, của mẹ, hẳn đã khiến bao người, dù cách xa quê hương, vẫn mong một lần được đặt chân đến xứ Lạng kể trong bài ru em…

Kỳ Lừa là một địa điểm mà ai đặt chân tới TP.Lạng Sơn cũng muốn đến một lần. Bởi con phố này không chỉ là nơi buôn bán sầm uất nổi tiếng mà còn là một địa danh văn hóa đã ăn sâu vào tiềm thức người dân xứ Lạng, từ xa xưa cho đến tận ngày nay…

Nhiều người sẽ tưởng tượng đây là một con phố lớn, rộng dài và là phố chính của TP. Lạng Sơn. Nhưng thực ra, Kỳ Lừa lại là một con phố nhỏ thuộc phường Hoàng Văn Thụ . Theo lịch sử thì người lập ra phố này là Tả Đô đốc, Hán Quận Công Thân Công Tài, đời Hậu Lê. Đền thờ ông được lập ở cuối phố gọi là đền Tả Phủ. Đồng Đăng là ải địa đầu tiếp giáp với Trung Hoa. Các sứ đoàn phải qua nơi này để đi xứ Trung quốc. Các cuộc xâm lăng đường bộ của quân Bắc phương cũng qua nơi đây.

Giá xe gấp đôi giá ngày thường vì là dịp Tết. Chúng tôi đi qua châu Hữu Lủng là nơi các tôn thất nhà Lý bị Trầ̀n thủ Độ đầy lên để nhờ quân Mông Cổ tiêu diệt họ.

Con đường đi qua Chi Lăng nằm giữa hai bên đồi núi, quân Tàu ngày xưa xâm chiếm Đại Việt đi qua chốn này : Thoát Hoan chui vào ống đồng tẩu thoát, Liễu Thăng bị chém, Tôn sĩ Nghị bại tẩu…

Vào thị xã Lạng Sơn thì cờ quạt đỏ ối ca ngợi bác và đảng, loa mắc trên cột đèn tuyên truyền chỉ thị của nhà nước. Nơi vùng tỉnh lỵ xa xôi thì sinh họat khác Hà nội.

Nhà trọ của chúng tôi ở trong khu phố yên tỉnh không có hàng quán chung quanh, đường xá vắng vẽ vì còn là ngày Tết. Ăn uống phải đi lên chợ Kỳ Lừa.

Chợ Kỳ Lừa ở phường Hoàng Văn Thụ là chợ chính của thị xã Lạng Sơn không chỉ là nơi mua bán, trao đổi hàng hóa mà còn là nơi gặp gỡ, giao lưu văn hóa của đồng bào các dân tộc vùng núi. Các cửa hàng trong nhà lồng chợ đóng cửa, chỉ có vài hàng phở bún còn mở cửa thôi. Chợ đêm cũng đóng cửa,

Tuy nhiên có một chợ của đồng bào thiểu số họp lại mua bán các thứ rau quả của vườn họ. Nơi đây có nhiều dân tộc Thái,Nùng, Tày, Kinh, Dao, Hoa... nhận định qua y phục của họ. Phố Kỳ Lừa còn nổi tiếng với những quán ăn. Người Lạng Sơn cũng có khác đôi chút với những đô thị khác, bữa cơm gia đình không nhất thiết phải phụ nữ nấu ở nhà, mà tìm thấy ngay ở những quán ăn. Cũng đủ vị cả, rau luộc, cà muối, thịt rang, cá kho... Ở đây, việc cả gia đình đi ăn cơm quán hết sức bình thường, chứ không phải có sự kiện gì quan trọng thì người ta mấy dắt nhau ra quán

Tôi không thấy cái quang cảnh đã mô tả trong sách Lạng Sơn Đoàn Thành đồ của Nguyễn Nghiễm (soạn năm 1758) phác họa diện mạo của phố Kỳ Lừa khi đó thật rõ nét “Phố xá nối tiếp nhau, thổ dân và người Trung Quốc ở lẫn với nhau. Phố có chợ tháng họp 6 phiên, buôn bán mọi thứ hàng hóa…”. Những bức ảnh của người Pháp chụp cuối thế kỷ XIX cho thấy phố chợ Kỳ Lừa khi đó thật đông vui, sầm uất. Những ngôi nhà ống lợp ngói máng, có mái hiên san sát liền kề ở mặt phố mang đậm phong cách kiến trúc Trung Hoa vừa là nơi ở, vừa là cửa hiệu buôn bán. Trong chợ, “người Thổ và người Tàu” chen chân mua bán nhộn nhịp. Hàng hóa rất phong phú với nông sản, nông cụ, đồ trang sức, nón lá, vàng hương, đồ đựng bằng gốm, thuốc lá, thuốc lào, hàng tạp hóa.

Và Kỳ Lừa thì ở cách Đồng Đăng 15 km.

Quá nửa đêm, khoảng 2 giờ sáng, tôi nghe tiếng cửa phòng của nhà trọ đập rẩm rầm và tiếng quát tháo ẫm ỷ, thì ra công an đi xét phòng. Họ mở cửa phòng tôi, chiếu đèn pin kiểm soát rồi sang phòng khác. Cái quyền lực ở xa thủ đô của những đầy tớ nhân dân biến họ thành chủ nhân dân.

Hơi thất vọng về phố Kỳ Lừa, chúng tôi lấy taxi để tham quan chùa Tam Thanh. Anh tài xế tốt nghiệp kỹ sư bên Tiệp khắc vì thương mẹ già nên về xứ Lạng lái taxi, anh ân cần dặn tôi coi chừng bị móc túi ở̉ chùa có đông người.

Khu di tích động Tam Thanh nằm trong dãy núi đá vôi có hình đàn voi phủ phục trên mặt cỏ xanh . Hang động Tam Thanh ở lưng chừng núi ở phía tây bắc thành phố Lạng Sơn (phường Tam Thanh). Với diện tích trên 52ha, nơi đây có những hang động tự nhiên kỳ thú, được tạo nên từ khoảng 300 triệu năm trước đây. Tên gọi Tam Thanh chỉ quần thể gồm ba hang động Nhất Thanh, Nhị Thanh và Tam Thanh. Chùa Tam Thanh được xây dựng trong động Tam Thanh nên chùa được lấy tên theo động.

Chùa Tam Thanh nằm bên trong động, là nơi du khách và các Phật tử lễ Phật. Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí thì chùa Tam Thanh có từ thời nhà Lê, thuộc địa phận xã Vĩnh Trại, châu Thoát Lãng. Tấm bia có niên đại cổ nhất ở chùa hiện nay là bia “Trùng tu Thanh Thiền động”, được tạo nên vào năm Vĩnh Trị thứ 2 (1677). Chùa Tam Thanh trước đây là nơi thờ tự của Đạo giáo, thờ Tam Thanh (Thượng Thanh, Thái Thanh, Ngọc Thanh). Về sau dần dần Phật giáo và thờ thánh được đưa vào ngôi chùa này để thờ tự. Chùa còn là nơi thờ cả Khổng Tử và Lão Tử . Hệ thống thờ tự được sắp xếp theo kiểu "tiền Phật hậu Thánh". Chùa Tam Thanh có một tượng Phật A Di Đà màu trắng được tạc nổi từ vách đá trong hang động, có từ thế kỷ XV. Tượng mang phong cách nghệ thuật thời Lê - Mạc (thế kỷ XVI-XVII) tạc theo thế đứng trong hình một lá đề.

Chùa Tam Thanh không chỉ là kỳ quan thiên nhiên, mà còn là địa điểm tâm linh cho cả Phật tử và du khách.Tam Thanh được mệnh danh là "Đệ nhất bát cảnh Xứ Lạng" (gồm 4 điểm là: động Nhị Thanh, động Tam Thanh, thành nhà Mạc và Nàng Tô Thị).

Để vào hang, du khách trước tiên phải leo lên 30 bậc đá được khắc vào sườn núi. Vách động bên phải có khắc bài thơ của Ngô Thì Sĩ khi ông làm đốc trấn Lạng Sơn, ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Ý của bài thơ là: "Suối trong tuôn chảy trên hàng trăm mỏm đá như đang trò chuyện. Quay lưng lại nhìn sang ngọn núi phía trước thấy hòn Vọng Phu". Động Tam Thanh là một hang động lớn và tương đối sâu với hệ thống nhũ đá phong phú. Lối vào chính của hang là qua cổng chùa Tam Thanh. Bên trong hang, du khách có thể nhìn thấy ngay các bàn thờ dành riêng cho Đức Phật cũng như một số tấm bia cổ. Sâu hơn trong hang là một hồ mà người dân địa phương gọi là hồ Âm Ty, một hồ nước nhỏ trong vắt, quanh năm không cạn, tạo nên vẻ huyền bí cho động.

Trần hang được trang trí bằng những nhũ đá có hình dạng sống động, được người dân địa phương nhân cách hóa với những cái tên như: Tiên Ông, Sư Tử, cây Ngô đồng, Voi, đường lên Trời. Hàng ngàn nhũ đá muôn hình vạn trạng, khơi gợi trí tò mò và thích thú cho bất kỳ ai đặt chân đến. Bia Tam Thanh ghi: “Động này là kỳ quan do trời đất tạo ra, nơi đây là thắng cảnh của vùng đất thiêng người giỏi, thật khó mà miêu ta, tô vẽ được”.

Phía sau động, có cửa Thông Thiên thông lên đỉnh núi với ánh sáng le lói , càng làm tăng thêm vẻ huyền ảo cho không gian. Đứng ớ cửa thông thiên này ,trông về ngọn núi trước mặt, phía xa có núi Tô Thị hay còn gọi là núi Vọng Phu. Trên đỉnh núi có một khối đá tự nhiên hình một người phụ nữ bồng con hướ nhiệng nhìn về phương xa. Theo truyền thuyết tthì ngày xưa có một người vợ chung thủy đứng chờ chồng đi lính phương xa . Chờ mãi không thấy chồng về, nàng và con đã hoá thành đá, từ đó người dân gọi đây là tượng Nàng Tô Thị. Truyền thuyết này được phổ nhạc qua bài hát danh tiếng Hòn Vọng phu. Nay tảng đá tự nhiên đó không còn nữa, đã bị sụp đổ năm 1991 và thay vào đó người ta đã đắp một hình vọng phu nhân tạo bằng đá.

Ngoài ra ta có thể thấy một đoạn thành nhà Mạc. Sau khi Thăng Long thất thủ năm 1592, nhà Mạc chạy về Cao Bằng. Trong thời gian từ 1593 – 1677, Mạc Kính Cung cho xây dựng thành nhà Mạc tại Lạng Sơn để chống lại các cuộc tấn công của quân Lê -Trịnh.

Động Nhị Thanh ở núi Lộc Mã, châu Thoát Lãng, nay là huyện Văn Lãng, do Ngô Thì Sĩ phát hiện, đặt tên và tôn tạo năm 1779, là một thắng cảnh nổi tiếng ở Lạng Sơn. Nhìn từ bên ngoài, nơi này chẳng có gì đặc biệt, trông giống như cổng của một ngôi chùa bình thường dựa vào vách núi. Nhưng khi bước vào trong động Nhị Thanh, người ta sẽ ngỡ ngàng bởi vẻ đẹp kỳ vĩ của hệ thống hang động, thạch nhũ đã ngàn năm tuổi. Động này là hang đá vôi duy nhất ở Việt Nam có tạc văn bia. Trên vách động Nhị Thanh có hệ thống bia Ma Nhai với 20 văn bia của các danh nhân, thi sĩ nhiều thời kỳ đủ mọi kích thước xen kẽ nhau. Đi vào động phải bước ngang một hồ nước được gọi là hồ Nhất Bình. Nguồn nước ở hồ từ con suối trong động có tên suối Ngọc Tuyền chảy ra tạo thành.

Ngô Thì Sĩ được cử làm quan Đốc trấn Lạng Sơn từ năm 1777 đến 1780. Trong đền, chỗ vách đá cao nhất ở chính giữa khắc 4 chữ lớn “Bất khả hình dung” nghĩa là, không hình dung được. Bên cạnh khắc “Ngưỡng chi di cao vô đắc nhi du” nghĩa là, ngẩng trông càng cao không thể vượt qua, thờ bóng vị tiên thánh Khổng Phu Tử. Trong động có chùa Tam Giáo thờ ba đạo: Nho, Phật, Lão do ông lập; có văn bia do ông sáng tác, tự tay viết và cho người khắc vào vách đá chữ“ Tam Giáo tự” và “Nhị Thanh động” lên hai bên vách núi để chính danh cho khu danh lam thắng cảnh này , có thơ văn đề vịnh của thi khách văn nhân và con cháu ông; lại có những cảnh vật nên thơ do chính ông đặt tên còn mãi đến tận hôm nay: đình Duyệt Quân, ao Nhất Bích (ao trong biếc), Thạch Miên am (am ngủ trên đá), Thụy Tuyền hiên (hiên ngủ bên suối), bếp Trai Táo (bếp cơm chay)…

Ðộng Nhị Thanh khá rộng, có nhiều ngõ ngách, lối đi hẹp, trên vòm có nhiều thạch nhũ đầy hình dáng. Do là hang động tự nhiên có tu sữa để là tham quan và thờ cúng tâm linh, nên hang vẫn còn mang vẽ đẹp thô sơ và huyền bí.Cửa động khá rộng được che chắn bởi những hòn đá to và cây cổ thụ. Dòng suối Ngọc Truyền chảy xuyên qua động dài hơn 600m tạo thành thác nước nhỏ ở ao Nhất Bình.

Càng vào sâu, động càng mở rộng với nhiều nhũ đá, măng đá tuyệt đẹp, muôn hình muôn vẻ. Qua thêm vài chiếc cầu nhỏ trong động là đã đến giữa hang, nơi có một khoảng đất rộng gọi là sân khấu thiên tạo.

Hướng phía bên phải động Nhị Thanh là Chùa Tam Giáo được Ngô Thì Sỹ xây dựng năm Kỷ Hợi (1779) thờ Nho Giáo, Đạo Giáo và Phật Giáo. Hiện nay trong chùa có các cung thờ như: Cung Công Đồng, Cung Tam Tòa Thánh Mẫu, Cung Sơn Trang, Cung Tam Bảo… với nhiều tượng thờ phong phú.

Gian chính điện chùa Tam Giáo nằm sâu trong lòng ngọn núi phía dưới vòm hang. Càng vào sâu bên trong bên trong, hang hẹp dần cùng với những bài thơ về Chùa được các thợ điêu khách tinh tế trên vách đá. Ngô Thì Sĩ tạc vào năm Kỷ Hợi (1779) một bài thơ ca ngợi cảnh đẹp sơn thủy hữu tình của di tích:

“Thong thả cưỡi lừa chơi động xưa,
Dùng dằng bên động cảnh càng ưa.
Suối trong, cuội đá đường reo gọi,
Núi trước nàng Tô dãi nắng mưa”

Ở đây còn có bức phù điêu truyền thần tạc chân dung Ngô Thì Sỹ . Càng vào sâu, động càng mở rộng với nhiều nhũ đá, măng đá tuyệt đẹp, muôn hình muôn vẻ. Qua thêm vài chiếc cầu nhỏ trong động thì đã đến giữa hang, nơi có một khoảng đất rộng gọi là sân khấu thiên tạo.

Đi sâu vào động, qua 3 cây cầu là đến cổng sau thông ra bên ngoài. Từ cửa sau của động Nhị Thanh có đường đi bộ sang động Tam Thanh khoảng 500m.

Di tích Nhị Thanh, gồm chùa Tam Giáo và động Nhị Thanh còn được gọi là “đệ nhất bát cảnh xứ Lạng”, di sản quý báu của Việt Nam đã được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa từ năm 1962.

So với Chùa Hương là một danh thắng nổi tiếng trong nước, xứng đáng gọi “kỳ sơn tú thủy” (núi non đẹp lạ), và còn là một nét đẹp văn hóa tín ngưỡng đạo Phật của người Việt. Động Hương Tích có tiếng là “Nam Thiên Đệ Nhất Động ” thì động và Chùa Tam Thanh có vẽ đẹp và nét văn hóa tâm linh không kém. Thật là “mỗi nơi một vẻ mười phân vẹn mười”.    -./.




VVM.18.03.2026.

| UNIVERSELLE LITERATUR | UNIVERSAL LITERATURE | LITERATURA UNIVERSAL | LETTERATURA UNIVERSALE | УНИВЕРСАЛЬНАЯ ЛИТЕРАТУРА |
- newvietart@gmail.com -