Việt Văn Mới
Việt Văn Mới


      

NƠI MÉP RÌA CỦA NHỮNG VỆT TỒN TẠI


                  
T hành phố, vào cái giờ nhập nhoạng giữa trần trụi và hư ảo, thường mang bộ dạng của một người đàn bà vừa bước ra khỏi cuộc ân ái rã rời.

Chưa kịp tô lại son, cũng chẳng màng vuốt lại nếp váy xếp ly đã nhàu nhĩ.

Tôi thường thức dậy vào lúc ấy. Khi bầu trời bên ngoài khung cửa sổ vẫn còn đặc quánh một màu tro loãng, thứ màu sắc không thuộc về đêm thẳm, cũng chưa đủ sức chạm ngõ bình minh. Nó lơ lửng. Nhợt nhạt. Đầy sự thoái thác. Những khối bê tông chọc trời đứng lặng lẽ như bầy dã thú khổng lồ đang hóa thạch trong cơn ngái ngủ. Con lộ phía dưới sâu hun hút chưa kịp bị nhồi nhét bởi hàng vạn vòng quay hối hả, thỉnh thoảng mới có vài vệt xe máy xé rách màng sương, để lại một vệt âm thanh mỏng dính, sắc lẹm, vắt ngang không gian rồi lịm tắt.

Tôi sống ở tầng năm. Một căn hộ cũ kỹ nấp mình trong lòng chung cư được xây từ thời người ta còn chuộng những ô gạch hoa văn chìm. Căn phòng tôi mướn có diện tích bằng đúng một tiếng thở dài. Nếu đứng giữa phòng mà dang thẳng hai cánh tay, những móng tay được sơn phết kiêu kỳ của tôi gần như cào xước cả hai mặt tường loang lổ. Một không gian bức bối đến mức tàn nhẫn, dồn ép con người ta vào việc phải đối diện với chính cái rỗng không của bản thể.

Nhưng, tôi có một cái ban công.

Nói là ban công thì hơi ưu ái. Nó thực chất chỉ là một rẻo xi măng lồi ra khỏi khối hộp ngột ngạt, hẹp tới độ chỉ vừa vặn kê một chiếc ghế sắt uốn hoa văn rỉ sét và một chậu húng quế sứt mẻ.

Tôi phải lòng cái mép rìa chênh vênh ấy.

Mỗi bận hừng đông chưa kịp rỏ những giọt sáng đầu ngày, tôi khoác hờ chiếc áo lụa mỏng, ra ngoài đó ngồi co ro, nhấp từng ngụm cà phê đen sánh quyện. Vị đắng gắt trượt qua cuống họng, nhắc nhở cơ thể này vẫn còn đang vận hành, từng tế bào vẫn đang hấp hối một cách nhịp nhàng. Từ góc tọa độ ấy, tôi cúi xuống, nhìn dòng đời bắt đầu rùng mình chuyển động.


Sông người.

Ở dưới kia, dưới cái độ cao mười lăm mét cách mặt đất, không ai có thì giờ để ngước lên. Họ lao đi. Kẻ vội vã đuổi theo những tờ giấy bạc mang hình bóng của sinh kế. Kẻ hớt hải chạy trốn khỏi một đêm không ngủ. Ai cũng có một cái đích mơ hồ để lao đầu vào, ai cũng đang kéo lê theo mình một cốt truyện dở dang đang bị thời gian thúc ép.

Còn tôi. Tôi thấy mình giống hệt một dấu chấm câu ngỗ ngược. Nằm chết lặng giữa một trang giấy đang bị một bàn tay vô hình lật đi lật lại một cách vội vàng. Không mở đầu, chẳng kết thúc, chỉ hiện diện ở đó, vô nghĩa và lạnh lùng.


Ba năm.

Quỹ thời gian trôi tuột qua kẽ tay, để lại những vệt xước mờ trên khóe mắt. Ba năm từ ngày tôi nhổ rễ khỏi một thị trấn đìu hiu nép mình bên dòng sông mang màu đất mỡ màu đục ngầu. Nơi ấy, con người ta đo thời gian bằng độ dài của những bóng râm đổ trên hàng hiên gạch tàu, và nhịp đập của đời sống quẩn quanh đến mức, một tiếng ho khan của người lạ lọt vào xóm cũng đủ làm dậy sóng những câu chuyện chắp vá.

Ngày tôi xách chiếc vali sờn góc bước lên chuyến xe đò bám đầy bụi đỏ, má tôi đứng tựa cửa, bóng bà đổ dài trên nền đất nứt nẻ. Má không khóc. Những người đàn bà miền Nam quê tôi kỳ lạ vậy, họ giấu nước mắt vào sau những vệt chân chim, cất nỗi đau dưới lớp áo bà ba bạc màu. Má chỉ dặn đúng một câu, nhẹ bẫng mà trĩu nặng:

“Đi đâu thì đi, nhớ để chừa lại cho mình một chút tử tế lận lưng, nghen con.”

Một câu nói cũ kỹ. Tôi đã cất nó vào ngăn sâu nhất của ký ức, cẩn trọng như người ta vuốt ve một chiếc mùi soa viền ren dệt từ thời thiếu nữ. Không phải ngày nào cũng lôi ra ngắm nghía, nhưng chỉ cần biết nó vẫn nằm ngoan ở đó, nhịp tim bỗng chốc đập khẽ khàng hơn.


Giữa chốn phồn hoa đô hội, nơi người ta cọ xát vào nhau đến bật máu hằng ngày nhưng chẳng bao giờ thấy được linh hồn nhau, tôi chọn làm một kẻ gác đền cho những trang giấy mục. Tôi làm nhân viên bán hàng trong một nhà sách nhỏ, nằm thu mình lọt thỏm giữa những gian hàng xa xỉ lấp lánh ánh đèn neon của một khu thương mại phồn thực.

Công việc của tôi nhạt nhẽo đến mức thanh tao.

Sắp xếp lại những gáy sách ngả màu, lau đi lớp bụi thời gian mỏng tang phủ trên những ngôn từ bất lực, quét mã vạch, thối tiền lẻ, và thi thoảng, dùng những ngón tay thon dài của mình để gói gém một món quà bọc trong lớp giấy kiếng sặc sỡ cho những vị khách tạt ngang.

Mỗi ngày, lặp lại. Đều đặn như chiếc kim giây đồng hồ cắn rứt mặt số.

Người ta đi ngang qua cõi tĩnh lặng của tôi nhiều hơn là bước vào. Họ lướt qua những kệ sách cao nghễu nghện bằng ánh mắt hờ hững, rỗng tuếch. Họ nhìn những kiệt tác của nhân loại, những đau đớn tận cùng của những tâm hồn đã chết, giống như cách người ta nhìn một món cổ vật bị tước đoạt mất linh hồn. Trưng bày. Không chạm tới.

Tôi chẳng phiền lòng.

Từ lâu, tôi đã học được cách kết hôn với sự lặng lẽ. Tôi thấy mình đẹp nhất khi không phải gồng mình lên để đáp trả thế giới.


Những buổi trưa vắng ngắt, khi bản giao hưởng xô bồ của trung tâm thương mại tạm lắng xuống để nhường chỗ cho cơn buồn ngủ êm ái, tôi thường lách người qua những hàng kệ, rút đại một cuốn sách mỏng. Tôi không đọc để lấp đầy những lỗ hổng của tri thức. Tôi chỉ muốn nghe tiếng những con chữ cựa mình, vỡ vụn, rồi rơi tóm xuống đáy lòng mình. Một tiếng động khô khốc, sắc lạnh, minh chứng cho việc tôi còn có khả năng cảm nhận.

Thế rồi, một buổi chiều mưa bong bóng vỡ đầy trên mặt kính xoay ngoài sảnh chính, thằng bé ấy xuất hiện.

Tầm mười tuổi. Hoặc có thể nhỏ hơn, thân hình nó teo tóp trong chiếc áo thun nhão xệch, phai màu đến mức không thể đoán định được màu gốc. Nó đứng lặng lẽ trước quầy truyện tranh, một góc nhỏ nằm khuất sau giá bày thiệp mừng.

Thằng bé đứng đó, bất động.

Nó rụt rè đưa bàn tay lấm lem, móng tay cáu bẩn nhấc một cuốn truyện lên. Lật nhẹ. Rất nhẹ. Như sợ cái chạm của mình sẽ làm tan biến những hình vẽ rực rỡ bên trong. Rồi nó đặt xuống. Vuốt lại mép bìa cho thẳng thớm. Lại nhấc một cuốn khác.

Chỉ xem. Không mưu cầu sở hữu.

Từ quầy thu ngân, tôi chống cằm nhìn nó. Đôi giày bata của nó há mõm, mũi giày mòn vẹt, lộ ra những lớp vải tưa tướp, ướt nhẹp nước mưa. Có một cái gì đó nghẹn đắng trào lên từ lồng ngực tôi, một thứ cảm xúc dư thừa mà tôi ngỡ mình đã mài nhẵn sau nhiều năm sống giữa bầy người lạ mặt.

Tôi bước ra khỏi cái kén an toàn của mình, đôi cao gót gõ xuống mặt sàn lát gỗ những thanh âm khô khốc. Tôi dừng lại bên cạnh nó, kéo theo một mùi hương nước hoa xa xỉ dở dang mà tôi vừa xịt ban sáng, pha lẫn mùi ngai ngái của sách cũ.

“Em ưng cuốn nào?” - Giọng tôi cất lên, cố giấu đi sự thương hại, chỉ để lại một ranh giới mỏng manh của sự hiếu kỳ.

Thằng bé giật thót. Nó rụt tay lại, giấu vội ra sau lưng như một kẻ gian bị bắt quả tang. Đôi mắt nó, đục ngầu mà rực sáng một cách kỳ lạ, ngước lên nhìn tôi.

“Dạ... em... em chỉ dòm thôi à.”

Nó lí nhí, âm thanh vỡ vụn giữa khoảng không gian sặc mùi điều hòa máy lạnh.

Tôi khẽ nghiêng đầu. Mái tóc uốn lọn xõa xuống một bên vai. Tôi mỉm cười. Một nụ cười mà tôi biết là đủ lạnh để không làm nó sợ, nhưng cũng đủ mềm để giữ nó lại.

“Dòm cũng đâu có sao. Ở đây sách để dòm mà.”

Nó không đáp, chỉ đứng co rúm lại. Nhưng rồi sự cám dỗ của những trang giấy đã chiến thắng nỗi e dè. Nó đứng đó gần một tiếng đồng hồ. Chân trần dậm dậm lên mặt gỗ, đôi mắt dán chặt vào những khung tranh. Đọc say sưa. Khi tiếng chuông báo hiệu giờ đóng cửa vang lên một tiếng "bíp" sắc lạnh, nó vội vàng khép sách lại. Nó xoay người, cúi gập lưng chào tôi một cách vụng về rồi chạy vụt đi, mất hút vào dòng người đang tràn ra khỏi cửa kính.

Lúc bóng nó tan vào màn mưa đỏ rực ánh đèn phanh xe điện, tôi bất thần nghe tiếng thở dài của chính mình.

Hình ảnh đôi giày mòn mũi ấy tự dưng cạy tung cái lớp vỏ bọc kiêu kỳ của tôi, móc lôi ra hình bóng của đứa em trai bé bỏng chốn quê nhà.

Cũng cái tuổi dở dở ương ương ấy. Cũng đôi mắt thèm thuồng nhìn những thế giới xa xăm qua những trang giấy mỏng. Nhưng ở cái thị trấn mà người ta còn phải đánh vật với từng con nước lớn ròng để kiếm cớ sinh nhai, làm gì có chỗ cho một nhà sách. Ký ức ùa về, sắc nét và xé ruột.

Sáng hôm sau, khi ca làm vừa bắt đầu, tôi rút cuốn truyện tranh hôm qua nó đang đọc dở. Bọc lại bằng một lớp giấy kraft màu nâu trầm, thắt một sợi ruy băng mảnh. Tôi giấu nó dưới quầy. Cả ngày hôm đó, tôi làm việc trong một trạng thái chờ đợi vô lý. Một sự chờ đợi ngớ ngẩn của một kẻ quen sống với những điều chắc chắn.

Gió chiều bắt đầu lùa qua những khe hở của tòa nhà thì nó đến. Vẫn bộ dạng co ro ấy.

Tôi ngoắc ngón tay gọi nó lại gần quầy. Nó bước tới, mắt chớp liên hồi.

Tôi đẩy chiếc túi giấy về phía nó.

“Cho em.”

Tôi nói, cộc lốc, không mang dáng dấp của một bà tiên ban phát ơn mưa móc. Tôi ghét sự ban ơn.

Thằng bé trân trối nhìn chiếc túi. Rồi nó lùi lại một bước.

“Nhưng... em đâu có tiền trả cô.”

Tôi phì cười. Một tiếng cười bật ra tự nhiên, vô thức, phá vỡ cái vệt son kiêu kỳ trên môi.

“Ai đòi tiền em. Cô tặng.”

Nó ôm chặt lấy chiếc túi giấy áp chặt vào lồng ngực gầy guộc của mình, như thể sợ chỉ lỏng tay một chút, món đồ ấy sẽ bốc hơi. Nó không nói được tiếng "cảm ơn", chỉ cúi gập người thật sâu, sâu đến mức tôi thấy rõ cái xoáy tóc khen khét mùi nắng trên đỉnh đầu nó.

Rồi nó chạy đi. Nhanh như một vệt sao băng xẹt qua bầu trời tăm tối.

Nhìn theo cái dáng nhỏ thó ấy dần chìm lỉm vào biển người vạn trạng ngoài kia, tự dưng lòng tôi trống hoắc. Một sự trống rỗng êm ái, nhẹ bẫng, hệt như cảm giác của một phiến lá già vừa bứt mình khỏi cuống, lượn lờ trong thinh không trước khi chạm mặt đất.


Đêm hôm đó, tôi lại chui ra cái ban công nhỏ của mình.

Cà phê đã nguội ngắt, để lại một lớp viền nâu đục quanh thành cốc sứ.

Thành phố về đêm khoác lên mình một lớp áo lộng lẫy đầy giả dối. Giống như một vòm trời bị ai đó chơi khăm lật úp xuống đất. Hàng triệu ô cửa sổ hắt ra những quầng sáng vuông vức, vàng vọt, xanh xao, tựa những vì sao đang giãy giụa cạn kiệt năng lượng.

Đằng sau hàng triệu ô sáng lấp lánh ấy, là hàng triệu cuộc đời đang vận hành trong im lặng.

Chắc mẩm ở một ô cửa nào đó, có một gã đàn ông đang nuốt vội bát cơm nguội trong tiếng xả nước bồn cầu rào rào. Chắc ở một góc ban công lân cận, có đôi tình nhân đang quấn lấy nhau, cắn xé nhau để khỏa lấp sự cô độc dẫu da thịt đã kề sát. Chắc có một người đàn bà đang ngồi gục đầu trước gương, lấy tay bấu chặt vào những nếp nhăn vừa mới hằn sâu đêm trước.

Tôi thả trôi suy nghĩ của mình.

Con người ta. Sống chồng chất lên nhau, hít chung một bầu không khí đặc quánh mùi xăng xe và khói bụi. Nằm cách nhau chỉ qua một vách tường gạch mỏng dính. Vậy mà... xa nhau vạn dặm. Sự cô đơn của con người không phải là khi họ đứng một mình giữa hoang mạc, mà là khi họ đứng giữa biển người nhung nhúc nhưng chẳng một ai thấu được tiếng thở dài rạn vỡ bên trong.

Một cơn gió đi lạc, luồn lách qua những tòa nhà kính, lướt ngang qua mép ban công của tôi.

Chậu húng quế rùng mình.

Vài chiếc lá xanh non cọ xát vào nhau, tứa ra một mùi hương hăng hắc, cay nồng. Mùi của đất đai, mùi của quê kiểng, mùi của những buổi chiều loang nắng trên hiên nhà xám xịt.

Tôi vươn tay, miết nhẹ ngón tay trỏ có bộ móng được sơn đỏ chót lên phiến lá thô ráp. Cảm giác gai người chạy dọc sống lưng.

Tôi nhớ nhà.

Không. Gọi là nhớ nhà thì e rằng hơi cường điệu. Nó không phải là thứ nỗi nhớ cồn cào, xé gan xé ruột bóp nghẹt lồng ngực như những nhân vật nữ ủy mị trong mấy cuốn tiểu thuyết diễm tình. Nó mỏng manh lắm. Đứt đoạn. Nó lẩn khuất đâu đó dưới lớp da thịt, thỉnh thoảng trồi lên như một tiếng nấc cụt chát chúa giữa lúc người ta đang cố giữ một vẻ mặt thanh tao. Giống hệt như khi đang đi trên đường, vô tình ngửi thấy mùi khói đốt đồng từ một đống rác ven xa lộ, hay bỗng nhiên nghe văng vẳng một điệu bolero não nuột não nề phát ra từ một chiếc loa kẹo kéo nào đó. Chút chạnh lòng xẹt qua, rồi thôi.


Bỗng dưng tôi nhớ đến cú điện thoại của má tháng trước. Giọng má lẫn trong tiếng rè rè của sóng điện thoại yếu ớt, pha lẫn tiếng cóc kêu ngoài cầu ao:

“Trên trển sống vui không con?”

Lúc ấy, tôi đang đứng trước tấm gương lớn trong phòng tắm, nhìn chằm chằm vào bờ vai trần xanh xao của mình.

Tôi đã tặc lưỡi:

“Dạ... cũng bình thường, má à.”

Câu trả lời huề vốn.

Kỳ thực, đứng trước gương, tôi biết mình chẳng vui vẻ gì. Nhưng bảo buồn, thì cũng không đúng.

Cái thành phố khổng lồ vô luân này có một thứ mị lực lạ lùng. Nó bào mòn những cảm xúc cực đoan của con người. Nó không cho phép bạn hạnh phúc tột cùng, cũng chẳng để bạn gục ngã hoàn toàn. Nó nhào nặn bạn, ép khuôn bạn vào một trạng thái lơ lửng, chênh vênh ở lưng chừng. Một thứ trạng thái vô sinh của tâm hồn. Người ta gọi đó là sự trưởng thành lặng lẽ. Cái sự trưởng thành được đánh đổi bằng việc khả năng cảm thấu cứ cùn mòn đi mỗi ngày.

Những ngày sau đó, nhịp điệu của nhà sách vẫn đều đặn trôi. Thằng bé ấy vẫn ghé lại. Nhưng sự lạ lùng nằm ở chỗ, nó không còn quanh quẩn bên kệ truyện tranh nữa.

Đôi mắt nó bắt đầu mò mẫm sang những kệ sách dày cộm. Những cuốn tiểu thuyết văn học đong đầy chữ là chữ. Nó kiên nhẫn bám trụ ở đó, đánh vần từng dòng, đôi môi mím chặt đầy vẻ nghiêm túc của một ông cụ non.

Một chiều thứ Bảy ảm đạm, khi tôi đang lúi húi xếp lại mớ bookmark bị khách làm rơi, nó bước lại gần quầy. Không còn vẻ rụt rè như lần đầu. Nó nhìn thẳng vào mắt tôi, đôi mắt trong veo như chứa cả một bầu trời chưa bị vẩn đục:

“Cô ơi. Sau này lớn, em muốn làm người viết truyện.”

Bàn tay đang cầm xấp bookmark của tôi khựng lại giữa không trung. Tôi nhướng mày, một sự ngạc nhiên pha lẫn chút giễu cợt vụt qua. Mộng tưởng của những tâm hồn non nớt luôn đẹp, nhưng cũng mong manh như bọt nước xà phòng.

“Sao lại muốn viết? Viết lách cực lắm, chẳng đổi được cơm ăn đâu nhóc con.” Tôi buông lời, sắc lẹm, hiện nguyên hình là một kẻ thực dụng đã bị đời sống mài nhẵn.

Nó không nao núng. Nó cúi xuống nhìn đôi bàn chân trần đã đen xỉn của mình, ngập ngừng một đỗi rồi cất giọng, nhỏ nhẹ mà chắc nịch:

“Nhưng mà... em thấy, trong truyện á, người ta chịu hiểu nhau hơn.”

Tôi đứng chết trân.

Cổ họng nghẹn ứ, như có ai đó vừa nhét một nắm bông gòn thấm nước đắng vào miệng. Câu nói của thằng bé mười tuổi vang lên gãy gọn, xé toạc cái không gian giả tạo của máy lạnh, đâm thẳng vào cái vỏ bọc hoài nghi kiên cố tôi hằng dựng lên.

Trong truyện, người ta hiểu nhau hơn.

Bởi ngoài đời thực, người ta bận bịu giấu giếm vết thương của mình. Người ta bận đeo những lớp mặt nạ vừa vặn. Bận khước từ nhau để bảo vệ cái tôi bấu víu đầy thảm hại.

Tôi im lặng. Chẳng biết phải đáp lời nó ra sao. Sự im lặng kéo dài đến tức tưởi, cho đến khi nó khẽ gật đầu chào rồi lủi đi.

Lời nó nói. Nó ám vào tôi. Nó len lỏi vào từng nếp gấp của vỏ não, nhức nhối một cách dịu dàng.


Tối hôm đó.

Trở lại cái ban công hẹp kỷ lục của mình.

Tôi tựa cằm lên thành lan can rỉ sét, để mặc cho hơi sương đêm thấm qua lớp lụa mỏng, lành lạnh, rin rít.

Tự dưng, nhìn xuống thành phố, tôi thấy nó khang khác.

Vẫn là những tòa nhà vươn lên nhọn hoắt như những mũi dao đâm lủng bầu trời không trăng không sao. Vẫn là những ngọn đèn đường vàng vọt hắt thứ ánh sáng giả dối xuống mặt nhựa đường bóng loáng. Vẫn là tiếng còi xe văng vẳng, hỗn tạp và vô duyên.

Nhưng, cái khối vật chất khô cằn và khốc liệt ấy, đột nhiên mềm ra.

Bởi tôi biết, chìm đâu đó dưới đáy của cái dòng sông bê tông cốt thép hừng hực mưu sinh kia, có một thằng bé đang trùm chăn lẩm nhẩm những câu từ mộng mị. Nó đang ôm một cuốn truyện cũ tôi cho, ấp ủ một giấc mơ viết lách để níu giữ chút tình người mong manh rơi rớt.

Nhấc bổng những con chữ lên khỏi vũng lầy của sự thờ ơ.

Những giấc mơ lặt vặt. Rẻ tiền. Nhỏ bé như những hạt bụi vô danh bay múa dưới ánh nắng ngược sáng.

Nhưng, ai dám bảo bụi không có quyền lấp lánh? Nếu đủ nhiều hạt bụi cùng khiêu vũ trong một tia sáng, chúng cũng đủ sức tạo nên một vệt vinh quang lộng lẫy, dẫu chỉ là chớp nhoáng.


Tôi ngồi bó gối lại. Vòng tay ôm lấy cơ thể mình. Lắng nghe tiếng mạch máu dội lên ở hai thái dương.

Mọi thứ trên đời này, rốt cuộc cũng chỉ là vô thường. Thân xác này rồi sẽ tàn tạ, nếp nhăn sẽ xâm thực đuôi mắt, mái tóc uốn bồng bềnh này rồi sẽ rụng tơi bời.

Những ký ức về má, về dòng sông đục ngầu, về thằng bé mũi giày há mõm... rồi sẽ mờ nhòe đi, chồng chéo lên nhau, biến dạng dưới sự tàn phá của thời gian. Cảm xúc trào dâng lúc này, giây phút này, ngày mai có khi đã nguội lạnh.

Nhưng, ngay khoảnh khắc này, ở đây.

Dưới đáy sâu thẳm của sự cô đơn bản thể mà tôi đã tự nguyện ôm ấp bấy lâu, có một mầm sống vừa khẽ khàng tách vỏ. Một sự cựa mình nhẹ như hơi thở của rêu.

Thì ra, rốt cuộc, người ta lặn ngụp giữa cái chốn phồn hoa đô hội này, cố chen chân vào những nơi cao vút rực rỡ đèn hoa, có lẽ không phải để biến mình thành một thứ gì đó vĩ đại, lớn lao hay bất tử.

Có khi, sống, chỉ là một cuộc rèn luyện dai dẳng để học cách giữ gìn lấy một phần NGƯỜI cực kỳ bé mọn trong góc khuất linh hồn.

Phần người còn biết chùng lòng dừng lại, giữa cơn lốc của sự vô cảm.

Phần người còn khả năng đưa mắt nhìn thấu một nỗi buồn giấu giếm.

Phần người dẫu có trầy xước, dẫu có bị cuộc đời chà đạp đến tơi tả, vẫn đủ dũng khí để chìa tay ra, trao đi một cuốn sách cũ cho một kẻ xa lạ chẳng có gì để đáp đền.

Chỉ để thấy, à, mình vẫn còn khả năng rung lên những nhịp đập thổn thức trước những va chạm mong manh nhất của kiếp nhân sinh. Sự run rẩy ấy, tuyệt đẹp và đau đớn nhường nào.


Tôi khẽ thở hắt ra, vươn người đứng dậy. Khớp gối kêu rắc một tiếng khô khan báo hiệu sự hữu hạn của thể xác.

Tôi với tay lấy bình tưới nhỏ, nhỏ xuống gốc cây húng quế già nua vài giọt nước hiếm hoi.

Một giọt nước bứt khỏi vòi nhựa, rơi tự do trong không trung. Nó đập lềnh bềnh vào chiếc lá, trượt xuống, rồi vỡ tan trên mặt xi măng xám xịt của ban công. Trong một tích tắc phù du trước khi vỡ nát, giọt nước ấy đã kịp bắt lấy ánh sáng rực rỡ của ngọn đèn cao áp bên kia đường, lấp lánh như một viên kim cương kiêu hãnh.

Tôi bất giác mỉm cười. Nụ cười không tô son, thuần khiết và thản nhiên.

Mỗi con người chúng ta, phỏng chăng cũng chỉ là một giọt nước vô danh vô diện như thế.

Rơi tõm xuống cái hố sâu hoắm của tồn tại. Nhỏ nhoi đến đáng thương. Vô nghĩa đến nghẹt thở.

Nhưng, nếu may mắn rơi đúng vào một khe đất nứt nẻ, dẫu có tan tành, sự hiến sinh rụng vỡ ấy vẫn đủ sức làm dịu đi một tấc đất cằn khô. Làm mềm đi một sự chai sạn.


Tôi xoay lưng lại với màn đêm.

Bàn tay lướt nhẹ trên chốt cửa kính.

Tôi kéo cửa lại. Bỏ lại sau lưng cái ban công chênh vênh.

Bên ngoài, Sài Gòn vẫn thao thức thức cùng những vệt sáng nhờ nhờ. Không ai biết ngày mai mọi thứ sẽ trôi về đâu. Dòng đời vẫn cuộn chảy, vô tình và diễm lệ...   -./.




VVM.13.03.2026.

| UNIVERSELLE LITERATUR | UNIVERSAL LITERATURE | LITERATURA UNIVERSAL | LETTERATURA UNIVERSALE | УНИВЕРСАЛЬНАЯ ЛИТЕРАТУРА |
- newvietart@gmail.com -