Ô
ng cụ tuổi ngoài bảy mươi, cái tuổi cổ lai hy, sống thêm ngày nào lời ngày đó, mà cũng chẳng biết là lời hay là nợ. Cụ ngồi trong phòng khách, trầm ngâm nhìn tách trà bốc khói. Vừa lúc ấy người con trai trưởng bước vào nhà, tay khệ nệ ôm chậu hoa:
-Con biết bố thích mai, nên mua về một chậu để bố thưởng tết.
Chậu mai kiểu bonsai, dáng Hạc bay, gốc cổ thụ, uốn cong, sù sì, nhánh uyển chuyển, những bông vàng nở rực, chen lẫn với lá xanh biếc, kèm ít nụ bụ bẫm, mới vừa độ hàm tiếu. Cụ nheo đôi mắt không còn đủ sáng, vẻ ngạc nhiên:
-Đã tết đâu mà hoa nở sớm vậy kìa, tới mồng một liệu có còn không?
-Bố ơi, mai đất sét đấy, nở quanh năm suốt tháng, chẳng bao giờ tàn.
-Đất sét à? Lạ nhỉ, kể cũng khéo.
-Tay nghệ nhân này thật tài hoa, thổi được cái hồn vào gốc mai.
-Cái hồn, thật vậy hả?
Ông cụ mơ màng, lắng đọng, rồi chợt ngâm khẽ:
-Kỵ lư quá tiểu kiều
Độc tích mai hoa sấu
Cưỡi lừa qua cầu nhỏ
Riêng tiếc cách mai gầy.
Người con trai trưởng, ở tuổi năm mươi, là cầu nối giữa hai thế hệ già trẻ. Cầu nối nhưng cũng có nhiều đoạn đứt khúc, nên cả ba thế hệ, dù chung một mái nhà, lắm lúc chẳng thể đến với nhau. Nghe giọng ngâm khàn đục, run rẩy, ông thoáng bâng khuâng:
-Con nghe mấy câu này rất quen, không nhớ lúc trẻ đã đọc ở đâu?
-Trong Tam Quốc chí của La quán Trung đó, đoạn tả cảnh ông bố vợ Khổng Minh đạp tuyết tìm mai.
Ông cụ ngậm ngùi, như nói một mình:
-Ngày đông, tháng giá, khoác tấm áo hồ cừu, đi hàng dặm đường tuyết rét mướt, mới tìm được cội mai già. Tìm cái đẹp đâu có dễ phải không con. Cánh mai gầy guộc mong manh, nở đấy, rồi phút chốc có thể tả tơi trước cơn gió lộng.
Cụ ngừng lại, rồi tiếp:
-Bố chợt nhớ bốn câu thơ của Vũ Hoàng Chương:
Mai Tuyết là hai nàng bạc mệnh
Lấy xuân làm mộ nắng làm tang
Nâng niu đưa tới nguồn say đắm
Chỉ một đêm đông gió phũ phàng.
Người con trai góp ý:
-Cuộc sống hối hả ngày nay đâu còn biết đến cái thú tao nhã của cổ nhân, mà cũng chẳng ai buồn tìm, họ cho là gàn dở, hâm hâm, không ăn được.
Ông cụ giọng ngậm ngùi:
-Với người xưa, cái đẹp rất mong manh, nên được trân trọng. Bây giờ thì cái đẹp mua bằng tiền nằm tênh hênh trên mặt bàn. Còn gì để riêng tiếc.
Người con chợt cảm khái:
-Thời gian của người già đọng lại. Thời gian của người trẻ trôi đi bồng bềnh.
-Ừ, đọng lại!
Cụ ngẩng lên nhìn con trai:
-Tôi phải về anh ạ.
-Bố lại nhớ mẹ chứ gì. Con đã nói mãi mà bố không nghe. Bố cứ rước bàn thờ mẹ lên đây, rồi sớm tối ông cháu quây quần với nhau, chả hơn sao. Bố cũng già rồi.
Cụ thở dài:
-Bà ấy chẳng chịu đâu. Lúc sống đã ghét đất Sài Gòn ồn ào, xô bồ. Bây giờ mất rồi, bố không muốn trái ý mẹ con. Mà còn mấy gốc mai, ai lo?
-Thì mấy đứa cháu con chú Ba, chúng nó lớn rồi mà.
Người con đâu có hiểu tới ngọn ngành, đối với cụ ông, cụ bà, mai không phải là cây cỏ vô tri, mà là duyên, là nợ, gắn bó với nhau gần trọn cuộc đời. Nghe con nói, cụ không trả lời, chỉ cười trừ, rồi khẽ ngâm mấy câu của Lê Cảnh Tuân:
Lữ quán khách ngưng tại
Khứ niên xuân phục lai
Quy kỳ hà nhật thị?
Lão tận cố hương mai.
Con có hiểu không? Bài thơ ý nói: thân mãi lưu lạc quán trọ đất khách mà xuân lại đến, biết ngày nào mới trở về, chỉ lo cội mai quê nhà ngày càng mòn mỏi, già lão hết rồi. Ta không phải Cảnh Tuân đời Hồ, đi sứ phướng Bắc biền biệt, cũng không ở trọ đất khách, mà sao chẳng thể nguôi nỗi nhớ cội mai quê nhà.
Giọng ông cụ chợt băn khoăn:
-Năm nay mưa trái mùa, thiếu bàn tay chăm sóc, có lẽ chưa tết mai đã nở hết cả rồi.
Cuối cùng, đúng ngày ông táo, cụ trở về ngôi nhà cổ, tĩnh lặng, nằm khuất giữa khoảng bóng mát đầy lá và hoa. Ở đây, thời gian hình như không chịu theo năm tháng trôi đi, và muôn hình bóng cũ cũng đọng lại, không chịu trôi đi.
Trên con đường nhỏ, lẩn khuất giữa hàng mai, hoa nở đầy cành, những cánh hoa mỏng manh rơi rụng trải vàng lối cỏ. Cụ dừng chân, ngắm từng gốc mai thở dài, xót xa, mỗi gốc mai dường như đều lưu dấu một kỷ niệm.
Len lỏi giữa hàng mai, cụ bước lên thềm, mở rộng cánh cửa ngôi nhà xưa, ánh nắng lùa vào, trong suốt như chất mật vàng. Việc đầu tiên, cụ bước vào gian thờ, lặng lẽ đứng trước bức ảnh bán thân cụ bà, thắp ba cây nhang. Đôi mắt cụ bà rạn vết chân chim, lờ mờ phủ từng sợi khói, chợt nheo nheo như cười, cụ có một ấn tượng rất lạ, vẻ như hoang đường: hình như mỗi lần cụ đi xa về, khuôn mặt dịu dàng, phúc hậu trên bàn thờ lại có phần tươi hơn, lung linh, ấm áp. Cụ bước tới khung hình lớn treo bên cạnh, khung hình gần đầy kín dấu vết kỷ niệm những ngày tháng hạnh phúc. Hàng năm, không bao giờ thay đổi, kể cả lúc bước vào tuổi vãn niên, cứ đúng mồng mười tháng giêng âm lịch, hai cụ lại chụp hình kỷ niệm ngày cưới, ngay dưới cội lão mai năm nào, rồi trang trọng lồng trong khung kính. Khung hình đầy dần, và ngừng lại đúng con số năm mươi. Năm mươi năm, một nửa thế kỷ, hạnh phúc không phủ chút mây mờ. Rồi cụ bà dứt áo mà đi, để lại căn nhà chợt trống vắng với chiếc bóng vật vờ của cụ ông hết ra, lại vào. Và khu vườn mà cụ đã đặt tên là Hoàng mai trang, bây giờ chỉ còn lưu được một nửa sinh khí của người ở lại.
Từ gian thờ, cụ trầm ngâm bước tới gốc lão mai trồng ngay phía cổng, cội mai tuổi cũng xấp xỉ bằng cụ. Nhớ chuyện năm xưa, cha mất từ thuở hai mươi, việc chăm lo vườn hoa phó thác cho chàng trai trẻ. Nối nghiệp cha, lòng yêu hoa như tố chất di truyền đã thấm vào máu, chàng trai trẻ càng lúc càng thêm gắn bó với vẻ đẹp của tùng, cúc, mai, lan. Đặc biệt anh rất yêu mai, anh đã lang thang khắp nơi đi tìm các giống quý, từ đó, trong vườn có đủ loại: hoàng mai, tứ quý, chiếu thủy, quế diệp... Nhiều lần, anh lặn lội vào sâu trong rừng, tìm gốc mai quý. Năm ấy, vừa đầu mùa mưa, anh may mắn bắt gặp một cội hoàng mai bên bờ suối. Chen lẫn với cây rừng, mai không cao, thân bằng bắp chân, lá lòa xòa ngang đầu người, nhưng dáng rất đẹp. Anh cẩn thật đào một vòng bán nguyệt xung quanh gốc, cắt đứt phân nửa rễ cái, rễ con, rồi cắm một cái bảng đề tên dưới gốc. Năm sau cũng đầu mùa mưa, anh dẫn người em kế vào rừng, tìm đến chốn xưa, cây mai vẫn còn đó, xanh tốt. Người em thắc mắc:
-Anh thật cầu kỳ, tìm được cây đẹp, để lại giữa rừng, lỡ mất thì sao.
-Mất cũng đành, đó là duyên số. Nếu đánh ngay một lúc, thân cây động, chột đi, không thể nào hồi phục được như cũ. Nghề chơi đòi hỏi công phu là vậy đó mà.
Lần này, anh tiếp tục đào phần còn lại, rồi cùng em bứng cả cây khiêng về. Cây mai được trồng ngay lối cổng vào. Trước hết, anh đào một hố lớn, đổ đầy đất đen, tưới phân chuồng ngâm oải. Qua một mùa mưa, mai hồi sức, xum xuê. Thu đến, mai bắt đầu rụng lá, rồi lại đâm chồi, nẩy lộc lúc chớm xuân. Cây mai quý có dáng đặc biệt, thân phân làm hai nhánh uyển chuyển quyện vào nhau, theo thế phu thê tương hợp. Cành đủ kiểu, cả Văn lẫn Võ (nhánh ngang, nhánh đứng), tượng trưng cho sự phối hợp cương nhu, cành Quân lẫn cành Thần (ngắn, dài), biểu hiệu của lễ nghi trên, dưới, cành Phụ lẫn cành Tử (lớn, nhỏ ), thể hiện tình nghĩa cha con.
Đúng ngày rằm tháng 10 Âm Lịch năm ấy, anh ngắt hết lá, để dồn nhựa cho các nhánh ra hoa. Rằm tháng chạp, lại trẩy thêm ít lá nữa. 23 tháng chạp, nụ mai bung vỏ lụa. Từ 27, mai lác đác nở, và mồng một tháng giêng, sắc mai vàng rực trên cành ôm lấy nhụy âm dương. Thế là hoàn hảo, đáng để những tay chơi cảnh say mê, trầm trồ. Tết năm đó, vị lão Nho cuối trào, vốn mê mai, đã tới nhà anh. Cụ trầm ngâm bên tách trà men bích ngọc, có câu thơ chữ Hán: Hàn mai xuân tín tảo, tức là cành mai mùa lạnh đã nở báo tin xuân sớm về, rồi trang trọng khai bút bằng hai câu của Cao Chu Thần:
Thập tái luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thứ bái mai hoa.
Cụ ôn tồn cắt nghĩa:
-Thuở xưa, Bá Quát là bậc tài hoa, ngang tàng, đã bỏ mười năm chu du tìm kiếm cổ, ông không biết khom lưng trước cường quyền, vậy mà suốt đời vẫn phải cúi mình trước vẻ đẹp của loài Bách Hoa Khôi, giống hoa nở đầu tiên trong năm âm lịch, ngay từ tiết Lập xuân, trời miền Nam còn vướng vất chút khí lạnh.
Cũng Tết năm đó, ngay sáng mồng hai, vừa bước ra vườn, anh đã thấy một bóng áo vàng đang ngây ngất bên cội hoàng mai. Hồn mai lẫn hồn người như quyện vào nhau, tạo thành vẻ đẹp lãng đãng, không chút bụi trần. Thấy anh bước tới, cô gái giật mình, ngẩng lên:
-Gốc mai đẹp quá, dễ cả đời em chưa gặp bao giờ. Dáng đã đẹp, hoa lại nở kín từ trong ra ngoài.
Anh cười:
-Té ra cô cũng mê hoa mai, đáng xếp vào hàng tri kỷ.
-Hình như cái tên đã vận vào thân, bố mẹ đặt tên em là Hoàng Mai, có lẽ vì thế mỗi lần gặp gốc mai đẹp, hầu như không bao giờ dứt áo ra được.
Anh lẩm bẩm:
-Hoàng Mai, Hoàng Mai…
Cô gái ngập ngừng:
-Giá mà anh chiết cho em một cành làm giống.
Trong lúc phấn khởi, anh đáp không cần suy nghĩ:
-Được, tôi sẽ chiết cho cô một cành thật đẹp. Nhưng phải đợi lâu, cô có chờ được không?
- Điều ấy em biết. Lúc chiết, em sẽ phụ anh chăm sóc. Nhà em mới dọn tới vùng này.
-Thảm nào…Mà này.
-Gì vậy anh?
-Đừng nói chiết mai thiên hạ cười cho. Từ xưa tới nay, dù bó bầu cách nào, đoạn chiết cũng không chịu ra rễ.
-Thật hả, tiếc quá.
Anh cười bí mật:
-Chưa hẳn đã hết cách, dòng họ tôi có một bí quyết tổ truyền, tôi chưa thử bao giờ, nhưng nghe đâu rất hiệu nghiệm.
Thật ra anh không dám chiết cành, chỉ sợ cây đau, âu cũng là duyên số. Cô gái quay đi, anh còn thẫn thờ ngó theo.
Ra giêng, lúc hoa rụng gần hết, anh bắt đầu uấn cành. Sẵn thế phu thê tương hợp, anh uấn cho tán lá xòe ra như dáng loan phụng tề phi. Anh trồng cây không phải đễ bán, nên cẩn thận uấn từng chút một, phải mấy năm mới hoàn toàn vừa ý.
Tháng tư năm ấy, anh bắt đầu công việc chiết cành. Trước hết ra phố chợ cân một thang thuốc bắc theo đơn bí truyền, rồi sắc ba chén nước còn nửa chén. Sau khi chọn được cành khoẻ mạnh, lớn hơn ngón tay cái, ở giữa tầng tán phơi ra ngoài ánh sáng. Đúng ngày nắng đẹp, anh dùng dao sắc khoanh hai vòng, cách gốc cành non gang, và cách nhau khoảng hai lóng tay, anh lột sạch lớp vỏ, phơi 4 ngày. Suốt thời gian đó, sáng tối anh lấy thuốc sắc từ từ tưới cho lóng cây từng chút một, rồi mới bó bầu. Bầu làm bằng đất bùn ao phơi khô, đập nhỏ nhào lẫn với bã thuốc và phân chuồng đã oải, lấy rơm, tro trấu làm chất độn, sau đó bao kín lại bằng mảnh bố. Quả nhiên lóng cây đâm rễ, thế là thành công, mọi người đều cho là kỳ tích. Tháng rưỡi sau, lớp rễ trắng nõn đã mọc dày, chuyển sang màu vàng ngà, anh cưa cành chiết, tước bớt ít lá, giâm vào sọt tre, cẩn thật che phân nửa ánh sáng, rồi mỗi ngày đều đặn tưới hai lần. 20 ngày sau, anh bỏ bớt mái che để cây quen dần ánh sáng tự nhiên, và một tháng sau, bắt đầu tưới phân thật loãng. Giâm đủ hai tháng, anh hì hục khiêng cây sang nhà cô, đúng vào mùa mưa, trồng ngay dưới cửa sổ phòng cô ngủ, để sáng sáng, cô có thể thấy cây, nhớ người. Từ khi chiết cành tới lúc trồng cây xuống đất, tổng cộng gần bốn tháng trời, thời gian đủ để lòng người càng lúc càng mềm ra. Vậy mà hai năm sau, đúng mồng mười tháng giêng, cô mới lên xe hoa về với anh, năm 18 tuổi, giữa lúc gốc hoàng mai nở rộ, và tán lá đã có hình dáng chim loan, chim phượng vỗ cánh bay lên. Từ đó, khu nhà cổ lấy tên là Mai hoa trang.
Hơn nửa thế kỷ biền biệt trôi qua. Cụ nhớ có lần đã nói:
-Bà biết đấy, lúc trẻ, tôi đã phải bỏ biết bao công sức mới đánh được gốc mai đem về. Ngày xưa, để cây cả năm giữa rừng, chả ai đụng tới. Bây giờ nếu có rào lại thì còn mất cả cây lẫn rào. Nếu cây mất, tôi đã chẳng có bà, mà chúng ta cũng chẳng có mấy đứa lau nhau, đúng không?
Cụ bà nhìn cụ ông, cặp mắt già vẫn còn sót lại ít nhiều tình tứ.
-Người xưa gọi là duyên trời, vậy đó.
Sáng mồng mười tháng giêng, lúc nắng đã lên cao, trong vắt, còn phảng phất chút heo may lạnh của mùa đông đọng lại, cụ bác ghế ra cổng, giống như năm xưa, thơ thẩn ngồi đợi cụ bà từ phiên chợ tỉnh trở về. *-./.
Độc tích mai hoa sấu
Cưỡi lừa qua cầu nhỏ
Riêng tiếc cách mai gầy.
Lấy xuân làm mộ nắng làm tang
Nâng niu đưa tới nguồn say đắm
Chỉ một đêm đông gió phũ phàng.
Khứ niên xuân phục lai
Quy kỳ hà nhật thị?
Lão tận cố hương mai.
Nhất sinh đê thứ bái mai hoa.
