Cũng như bao bà mẹ khác ở quê nghèo xứ Quảng, mẹ tôi dành cả cuộc đời tần tảo cho đàn con. So với các anh chị em trong nhà, tôi là đứa con ít được gần mẹ nhất. Từ năm lên bốn- năm tuổi, tôi đã được ông nội đón về nuôi dạy, khi cả gia đình cha mẹ tôi đều phải bỏ nhà ra đi, theo lệnh "tiêu thổ kháng chiến", mà cả một ngôi làng trù phú như làng Giao Thủy quê tôi bị đốt sạch, và mọi gia đình bồng bế, dắt díu nhau chạy lên miền sơn cước, mà gia đình tôi chọn ở làng Trung Phước (Quế Sơn), vì có bà cô họ của tôi, cô Cửu Nhung, lấy chồng về sống nơi này.
Bốn năm sống với ông nội ở làng quê Giao Thủy, tôi đã là một đứa bé quê hạnh phúc, khi được ông nội nuôi dạy rất kỹ, được dạy từ cách đi, dáng đứng; cách ngồi ăn, kể cả cách gắp thức ăn (không bao giờ được gắp ngay món ưa thích, trước khi phải gắp đủ tất cả mọi món ăn bày trên bàn). Ông nội tôi còn dạy bao nhiêu điều hay lẽ phải, phải biết thương người, không tham của người, phải có lòng tự trọng, sống vì danh dự, không bao giờ vì cái lợi vật chất mà bán rẻ lương tâm....Tất cả những quan niệm sống của một nhà Nho, được ông nội truyền đạt cho tôi. Ông còn dạy tôi học chữ Hán trước khi tập đánh vần chữ Quốc ngữ. Và nhờ ông nội dạy, mà ngay khi chưa cắp sách đến trường, tôi đã thuộc lòng không biết bao nhiêu câu ca dao, tục ngữ; đặc biệt, tôi đã bắt đầu thuộc lòng Chinh phụ ngâm khúc, qua cách truyền miệng của ông nội tôi... Còn đặc biệt hơn nữa, tuy rất mực nghiêm khắc, nhưng ông cũng hết lòng thương yêu tôi, không có trò chơi dân gian nào mà tôi không được phép tham gia, chơi đùa... Rồi năm lên 8 tuổi, tôi lại trở thành "một đứa bé thành phố", khi theo cha mẹ về sống hẳn ở phố cổ Hội An. Cho đến tận bây giờ, nhớ lại, tôi vẫn thấy tôi thực sự may mắn khi đã có những năm tháng tuổi thơ đầy màu sắc và thấm đẫm niềm vui, được tắm trong cái bầu khí văn chương thật đặc biệt...
Rồi khi vừa qua tuổi 16, tôi lại phải rời xa gia đình cha mẹ ở Hội An, để ra Huế, vừa đi dạy kèm tại các tư gia để kiếm cơm ăn, vừa đi học. Còn nhớ, buổi sáng khi sắp rời nhà ra đi, mẹ lặng lẽ đặt vào tay tôi 700 đồng, rơm rớm nước mắt: "Má chỉ có thể cho con chừng này thôi. Con làm sao mà có thể sống và ăn học ở nơi xa, không người quen biết”… Mẹ tôi nói mà như tự trách mình. Ôi, tấm lòng của những người mẹ quê nghèo, tiễn con vào đời chẳng có thứ hành trang nào, ngoài tấm lòng nhân hậu. Mẹ có biết đâu, chính tấm lòng nhân hậu ấy là thứ hành trang quý nhất mà con được thừa hưởng, và suốt đời mang theo, suốt đời sống theo, dẫu đã phải chịu không ít những lọc lừa, phản bội, hất hủi và lìa bỏ...nhưng trước sau vẫn cố sống như mẹ, đã sống như mẹ, và đã thực sự làm người...
(Và tôi đã rời gia đình ra đi như thế, vào lúc ba tôi không có mặt ở nhà, khi tôi chỉ mới vừa qua tuổi 16, hoàn toàn tự tin nhưng cũng không ít ngậm ngùi vì cảnh nhà của mình. Thôi, đừng nhớ tiếc những năm tháng sung sướng thuở nhỏ làm gì nữa. Từ khi ba tôi có vợ bé, gia đình tôi sa sút nhanh chóng vì cái thói đam mê cờ bạc của người vợ sau của ba tôi. Cho tới lúc tôi ra đi, gia đình tôi đã hoàn toàn khánh tận. Phải ở nhà thuê, cả hai chiếc ô tô, một chiếc Citroen đi chơi và một chiếc Renault chạy khách đường Hội An - Đà Nẵng đã phải bán đi; bán đi cả những vật dụng đắt tiền, những đồ gỗ quý trong nhà, mỗi ngày một món, cho tới khi chẳng còn gì để bán nữa. Tôi đã có lần thấy mẹ tôi ngồi ở chân giường, trong bóng tối chập choạng của buổi chiều tàn, khóc lặng lẽ một mình. Và hình ảnh buồn thảm ấy, tiếng khóc nghẹn ngào ấy cứ đeo đẳng theo tôi suốt đời)...
Tôi chẳng bao giờ dám đặt mẹ tôi ngang hàng với những bậc hiền phụ của các chí sĩ, danh nhân đất Quảng quê tôi, như các bà Võ Thị Quyền (vợ của cụ Trần Cao Vân), bà Lê Thị Tỵ (vợ của cụ Phan Châu Trinh) hay bà Nguyễn Thị Sắt (vợ của cụ Huỳnh Thúc Kháng)...Nhưng tôi vẫn thường nghĩ, giữa những bà mẹ quê xứ Quảng, dù là vợ một bậc chí sĩ, khoa bảng trí thức hay vợ một người nông dân nghèo không biết chữ, không tên tuổi, thì vẫn có một mẫu số chung: Đó là tấm lòng hy sinh suốt cả cuộc đời cho chồng, cho con; lặng lẽ làm một người vợ, một người mẹ, để nâng bước cho chồng cho con trên mọi nẽo đường đời...
Thân phận của những người phụ nữ ở nông thôn ngày xưa bị giam hãm trong cảnh đời nghèo khổ và không có tự do, là thân phận của cái cò cái vạc. Phạm Đình Hổ, trong Vũ trung tùy bút đã từng cho rằng, người phụ nữ là hình ảnh của con cò. Qua ca dao, dân ca của mọi miền quê Việt Nam, chúng ta cũng dễ dàng nhận ra rằng, trong những tiếng ca buồn khổ của những người phụ nữ, những bà mẹ quê, điều đáng nói nhất là vẫn toát lên sự dịu dàng; nó giúp ta hiểu được rằng ở những tấm lòng nhân hậu ấy vẫn luôn tiềm ẩn một sức mạnh tinh thần lặng lẽ mà sắt đá, dẻo dai. Chúng ta vẫn thấy được sự kiên trì, nét cười dịu dàng nhưng quyết liệt của những bà mẹ quê. Chính tiếng cười ấy đã chắp đôi cánh nhân văn cho tâm hồn, cho cuộc đời của các mẹ bay lên, vượt khỏi cái hoàn cảnh đau khổ, xót xa của những con cò, cái vạc. Cùng với đôi cánh nhân văn, cũng bay lên tiếng hát của tình yêu thương bao la, vô điều kiện, thấm nhuần tình cảm quên mình của những bà mẹ quê. Đó là ý thức hy sinh. Hy sinh niềm vui, hạnh phúc riêng tư; lấy niềm vui của chồng con làm hạnh phúc của chính mình.
Mẹ tôi suốt đời hy sinh cho các con, và có lẽ mẹ thuộc vào thế hệ phụ nữ Việt Nam cuối cùng tự mình đi cưới vợ bé cho chồng. Ngoài bốn mươi, mẹ tôi đã gần như không còn giữ được tình thương yêu của chồng, và mẹ dành hết tâm trí, sức lực cho đàn con.
Con không biết là con đã học được từ mẹ quá nhiều điều, cho tới một ngày mẹ lặng lẽ ra đi (đã không có ai báo cho tôi biết mẹ đang thập tử nhất sinh, để tôi có thể về ngồi bên mẹ trong những giờ phút sau cùng của mẹ, như tôi đã về được với cha tôi 5 ngày, trước khi người nhẹ nhàng ra đi). Mẹ tôi lìa đời lúc 11 giờ khuya, thì quá nửa đêm, cháu gọi tôi bằng cậu mới báo cho tôi biết. Bằng mọi giá, tôi đã cố chạy cho có được vé chuyến bay sớm nhất của Vietnam Airlines vào lúc 6 giờ 15 phút sáng, để bay từ Sài Gòn về Đà Nẵng. Tôi về chỉ còn kịp dự lễ khâm liệm mẹ mà thôi!
Rồi tôi lại vội vàng ra đi, với khoảng trống mênh mông trong tâm hồn.
Mẹ ơi, phiêu bạt phương trời, con chợt hiểu ra rằng, từ nay sẽ không còn ai thương yêu, dạy biểu con như mẹ nữa. Sẽ không còn ai, trên thế gian này, dù đôi mắt đã mù lòa, chỉ cần sờ vào sau gáy đứa con trai lưu lạc phương xa gần như suốt đời, trở về lặng lẽ đến ngồi bên mẹ, thì đã có thể nhận biết và nhẹ nhàng thốt lên: "Thằng Bổn phải không?". Chỉ có thế, chỉ có cái tình mẫu tử thiêng liêng mới có thể giúp mẹ có được một thứ ánh sáng từ ái vô biên soi chiếu để nhận ra "thằng Bổn" của mẹ. Bà mẹ quê xứ Quảng của tôi đâu cần nói lời âu yếm, mà chắc chắn rằng cho tới tận lúc nhắm mắt từ bỏ cõi đời này, tôi vẫn sẽ không bao giờ quên, vẫn mong được nghe lại trăm ngàn lần câu hỏi ấy: "Thằng Bổn phải không?", dù biết rằng đó là một ước mong không thể còn có được, hoàn toàn vô vọng.
"Thằng B. của mẹ", bao lâu còn bước đi trên mặt đất này, vẫn cứ muốn được là đứa con trai nhỏ dại, tinh nghịch của mẹ, mẹ ơi !. *-./.