ột
buổi mai màu khói hương vấn vương trong cây lá khu vườn
nhà chùa, không gian trong ngần mát rượi chợt nở ra một
tiếng chuông tinh khôi, ngân nga. Âm thanh vút lên tận lớp
mây óng ánh như lớp xà cừ giát đầy trời, phản hồi
xuống đồng ruộng, núi đồi, làng mạc, thấm đẫm chất
thiền thanh tịnh vào lòng những đoá hoa Đàm vừa thức
dậy sáng nay. Hoa Đàm là hoa nhà Phật chỉ nở trong vườn
Lâm Tỳ Ni, khu vườn mà Phật Tổ giảng bài kinh đầu
tiên và cuối cùng trước khi nhập Niết bàn. Hoa Đàm
nào chốn này? Hoa Đàm trong vườn Lâm Tỳ Ni, bến sông
Hằng hay hoa huệ Chùa Hang, cạnh con sông Cái xa cách vạn
dặm. Chỉ là cuộc hoá thân lẫn lộn mập mờ gang tấc.
Hoa là lũ nhi đồng năm bảy tuổi ríu rít kể cho nhau
nghe những giấc mơ huyền hoặc đêm qua. Những giấc mơ
trẻ con, có đứa đêm nào ngủ cũng nói mớ lung tung, và
đái dầm, thế mà sáng ra kể thấy mình, râu tóc lưa
thưa phất phơ, tiên phong đạo cốt chống gậy trúc đầu
rồng lên động Thuỳ Liêm, hái thuốc trường sinh, không
may nhiểm yêu khí liêu xiêu tõm xuống lâm tuyền ướt
quần. Có kẻ nói hành, bọn hoa liếu lo này toàn bịa.
Đêm qua chúng phải thức nghe trọn bộ kinh “Niết Bàn”
bảy lần bảy bốn chín trường đoạn. Với chín lần
chín tám mốt bài kệ ngắn, ngồi nghe kinh mắt đeo chì,
xương thành bún, gắng nhướng mắt, cố giữ cho khỏi đổ
gập xuống nền nhà, mai phải tội diện bích, chẳng mộng
mị lôi thôi gì cả. Ai cũng biết với trẻ con chúng
chẳng hề bịa đặt theo nghĩa người lớn. Mấy thằng
nhong nhóc, mấy con tóc đuôi gà, be bé xinh xinh, trộn lẫn
thật và hư khuấy lên thành món kem thơm tho rồi tự
thưởng thức, món ăn thường ngày. Chúng kể chuyện
hoang đường với cái giọng hiển nhiên bình thuờng,
không có gì lạ lùng ly kì cả.
Người
ta kể huyền tích quả đại hồng chung chùa Hang hay còn
gọi là Hải An Tự. Cứ vào mỗi độ Vu Lan rằm tháng
bảy, xá tội vong nhân. Cái chày dộng chuông là một súc
gỗ vàng tâm to sù sù dài và nặng, treo nằm ngang, yên
lặng trong gác chuông lạnh lẽo ẩm mốc, không gió máy,
chẳng ai động đến bỗng nhiên tự đong đưa tấu khúc
nhạc Bát Nhã, đạo ca trầm hùng bi tráng. Chuông vang lên
tiếng gầm thét ì ầm như sấm động biên tái, hoà trong
lời rên siết những oan hồn uỗng tử chết trẻ. Vào
đêm Vũ Thủy núm chuông phóng lên trời tia sữa nhờn
nhợt. Con sông Cái hoá đục như nước hến. Trai gái hai
bên bờ bứt rứt, dậm dật suốt đêm. Lũ cua còng bò ra
khỏi hang làm tình mê tơi, điên loạn. Những chiếc chân
đầy gai níu lấy những cái mai xanh, ghì chặc dính liền
xương thịt, không dứt ra được. Bọn đi soi tôm cá bên
Cồn Dê chèo thuyền sang xách từng cặp từng cặp bỏ vô
đầy lòng thuyền, chúng vẫn chưa chịu buông nhau ra.
Những con khác không kịp về sông, chết cháy đỏ au dưới
nắng quái hạ huyền. Dân cư quanh vùng không thể chịu
nỗi mùi hương màu da cam nồng sắc ngây ngất.
Quả
đại hồng chung nặng tám ngàn bảy trăm bốn mươi mốt
cân ta, hát khúc đạo ca đầu tiên trong ngày, khúc ca tươi
tắn, âm thanh kì dịêu, ở gần trầm ấm, không chát
chúa mà xa mấy vẫn nhận ra âm hưởng bàng bạc như có
như không. Bọn trai bạn mành rút, mành chong ngoài biển
vùng hòn Rùa, hòn Yến tít khơi thấy tiếng chuông như
trôi trên đầu những con sóng trẻ trung, sóng già cả,
sóng bạc thếch mái đầu, lênh loang ánh vàng rộm ban mai
xao xuyến đem theo cả hương vị ngạt ngào đất liền
làm cho mấy lão già bồi hồi tuổi xuân nhớ mấy mụ vợ
già vẫn còn tươm mật. Bọn thanh niên cười, mấy lão
cãi. đừng tưởng sáu bảy mươi là đồ bỏ đi chẳng
mần ăn gì được, còn mặn nồng hơn cả chúng mầy. Mấy
thằng con trai mới cưới vợ xa nhà lâu ngày chỉ ao ước
giờ này làm sao được trở về quắp cái mông nở nang
no tròn như thúng, đặc điểm của mấy con rỗi chuyên
gánh cá chạy bộ trên cát.
Quả
chuông đúc bằng đủ thứ đồng, nồi niêu son chảo,
đồng thau, lư hương chân đèn, tam sự ngủ sự, thêm vài
chiếc bông tai cỏn con hạt đậu xanh, vàng 14 của mấy
mụ già ốm o trông như ma đói, nghèo nàn, mộ đạo dồn
cả tài sản dành cho cuộc ra đi vĩnh viễn cuối cùng gọi
là góp công quả gửi Phật cất hộ…Nhưng nhiều nhất
vẫn là đồng vỏ đạn đại bác một trăm lẻ năm ly.
Gọi theo lối cổ văn là “ Thảo khấu trấn biên đại
thần công” Khẩu thần công 105 ly cũ kỹ lạc hậu có
gắn hai bánh xe to sầm cộ bò mà thời trước bọn pháo
binh mỗi khi hành quân kéo lê lết bằng xe GMC cuốn theo
bụi hồng Tây Nguyên trong những buổi chiều muộn, chân
trời mây cháy lên buồn bã. Bọn pháo binh được lệnh
chở theo thật nhiều đạn. Nếu có “đề-lô”â thì
bắn theo chỉ điểm. Còn không cứ bắn. Lính hỏi bắn
đi đâu ? Sĩ quan hạ lệnh, bắn bừa, bắn lung tung, muốn
bắn đâu thì bắn đừng tiếc đạn. Bọn lính há hốc
miệng ra về cái quân lệnh dật dờ kì quái. Không phải
bọn sĩ quan hoá rồ. Bắn nhiều chừng nào thêm đinh tai
nhức óc, nhưng lại kiếm chác được nhiều vỏ đạn
đồng, bảo lính thu hết về đem trút xuống cho vựa phế
liệu của chị Nguyệt Cầu gần cầu Hà Ra, kiếm tiền
chiều vào sờ-nách bar nhậu, khuya lại kiếm gái khất
khưởng qua đêm, đời chẳng có tương lai. Hôm nay phải
sống vội vàng, bởi ngày mai có được ăn đồ hộp,
uống bia Ham, hít thở không khí trong loảng cao nguyên này
nữa hay không. Tuy nguồn gốc quả chuông tệ hại là thế
song nhờ ngoài mấy cặp bông tai vàng công đức nhỏ xíu
như con liến của mấy bà cụ tội nghiệp, và trong chất
đồng vỏ đạn còn có chút ít vàng người ta mạ nơi
hạt nổ nên tiếng chuông vẫn thánh thót ngân vang nhạc
thiền. Thứ hai là nhờ chất kim loại vô tri vô tình nên
trong buổi ban mai chuông vẫn hát khúc nhạc đạo ca cho
trần gian hiển thánh.
Gian
giữa chính điện thờ phật Thích ca, phật tổ Như Lai,
cái từ Như Lai có đến 108 nghĩa, nhiều vị tu trì đến
bậc Hoà Thượng vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa, thật là
rắc rối. Cứ xem Phật tổ Như Lai là Phật của thời
hiện tại. Ông Phật gỗ toả hào quang nhợt nhạt, gọi
theo từ ngữ thời thượng bây giờ là dỏm, nghĩa là
giả, không thật. Hào quang đó là những bóng điện
Trung quốc xếp vòng tròn trước tấm kính, chạy từ
trong ra ngoài, hào quang giả tạo trông nghèo nàn lạc hậu,
xốn mắt. Giống như yêu khí từ mấy động yêu tinh
trong truyện Tây Du Ký phóng lên mà Tề Thiên Đại Thánh
với cặp mắt lửa tròng vàng nhìn thấy là biết ngay.
Nghe nói cốt Phật là một súc gỗ mít cổ thụ hai người
ôm không hết. Nhà chùa thuê thợ mộc Kim Bồng từ Quảng
Nam vô làm. Mấy người thợ này tuy là thợ chiến song
chỉ rành chạm trỗ cột kèo, nho sóc, không phải điêu
khắc gia tạc tượng nên tượng trông thô thiển gọt đẽo
sơ sài, chẳng khác gì tượng nhà mồ người Thượng
chém bằng cái rựa kêu là xà gạc ở Tây Nguyên. Nét mềm
mại chẳng thấy đâu chỉ thấy đúng là một thân thể
thô ráp, khắc khổ, ở trần khoác áo cà sa với khuôn
mặt cô đơn, khốn khổ, đau thương. Chìm sâu trong thớ
gỗ ẩn tàng minh triết của bực Đại Giác. Nhà chùa hà
tiện đến nỗi không mua được lon sơn gỗ sơn cho tượng.
Gỗ tươi nhiều năm đã khô nhót lại nức nẻ xờ xạc
nhiều nơi, trông như da thịt Phật lở lói. Không biết
đức Tất Đạt Đa vị Thái tử giàu sang xứ Aân Độ
thấy người ta tạc hình dung mình thô thiển thảm hại
như thế có buồn không? Phật ngự trên toà sen, cũng bằng
gỗ mộc không sơn phết gì cả. Đúng là vị Phật của
thời hiện tại đầy bất ổn và khốn khổ. Thời của
ông trị vì với bao nhiêu là tai ương, người làm và
trời làm giáng xuống đầu bao nhiêu là sinh linh. Sau trận
đại thư hùng cuối cùng 6 năm gọi là thế giới đại
chiến lần thứ hai. Cả thế giới họp lại làm cái cơ
quan gọi là Liên hiệp quốc, với toà nhà vĩ đại, dẹp,
dáng như hộp quẹt với hàng cờ mấy trăm chiếc đủ
màu sắc, để lo cho công việc của chung. Thế mà vẫn
lao đao lận đận, hết nơi này chiến tranh đến nơi khác
đói khổ, nhân tai và thiên tai không ngớt đổ xuống.
Thời của ngài đúng là nhiễu nhương triền miên chưa
thấy ánh sáng cuối đường hầm. Vì thế mà trông thần
sắc ngài từ bi, sầu não và đau đớn.
Bên
phải là dãy bàn thờ nhiều vị Phật. Vùng này chẳng
khác khu biệt thự, mỗi vị một nhà. Bồ Tát là cấp Á
Phật, như Quán thế âm Bồ Tát. Quán thế âm là nghe được
âm thanh kêu khổ của loài ngừơi mà cứu giúp. Giống
như cái radio bắt được tần số làn sóng của nhân
loại. Thành ra khi gặp khổ nạn cứ niệm : Nam mô Quán
thế âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn chúng sinh là được
yên. Có vị bậc thấp hơn là La Hán, Tỳ Kheo. Kể ra khu
biệt cư này chẳng lấy gì làm sang trọng tiện nghi cho
lắm. Những pho tượng bằng đất sét thô cũng chẳng
được sơn phết tô điểm gì cả.
Chùa
ngọc chùa vàng Băng Cốc lộng lẫy xa xôi lắm. Đây là
ngôi chùa nghèo chôn cất một niềm kiêu hãnh buồn : Chùa
rách, phật vàng. Có vị miệng nở nụ cười, nụ cười
đất sét trẻ con, hồn nhiên, vô ưu. Ấy là ông phật
phì nhiêu, bụng bự,ï dễ thương, Phật của một thời
sung mãn hứa hẹn trong tương lai. Đó là Phật Di Lặc.
Người đời xem ngài là Phật của tương lai với hoài
bảo ngày sau thế gian ai cũng được béo tốt tròn trịa
như ngài. Trong cái bụng to ấy chứa đựng đầy niềm
vui, no đủ, hỉ xả, hào phóng. Người ta nói rằng chờ
đến lúc ngài trị vì ấy là thời kì an lạc hoà bình
vĩnh cửu. Hoà bình đến độ ong, kiến không đốt người,
gà chọi chẳng chịu đá nhau, chó không cắn lộn, cọp
báo ăn chay ngày rằm mùng một, cá mập cá xà hiền hoà
như tôm tép, rắn hổ mang làm bạn với chuột đồng…
Thế gian chỗ nào cũng là chốn Niết Bàn. Nhà tù hoá
thành chùa chiền. Bệnh viện thành siêu thị. Phật, tiên
thần thánh ma quỉ và người đi lại, chung đụng, thăm
viếng, biếu xén, chơi huê hụi, ghi số đề, cá độ
bóng đá, vay mượn nhau, đòi nợ, gây gổ... Đường lên
trời cũng thuận tiện, có máy bay chở được 999 người,
giá rẻ, xe đò chất lượng cao, có giường nằm, ăn
nhậu, gầy sòng, vệ sinh tại chỗ. Xe lửa năm sao. Còn
nếu thích sông nước thì có tàu cánh ngầm cao tốc.
Đường bộ nơi nào cũng có xa lộ liên hành tinh với tám
làn xe, chạy chừng nửa tiếng thì tới cửa nhà trời.
Trên đường không cần đèn điều khiển xanh đỏ, hay
cảnh sát giao thông vẫn không xảy ra tai nạn lớn. Nếu
có thì cũng chỉ là tai nạn xoàng, vài chị gãy móng tay
xanh đỏ mới vào tiệm nail làm mấy chục đô, có nặng
lắm thì cũng chỉ lệch mất cái mũi tẹt độn plastic
trăm đô. Cảnh sát giao thông tất cả được cho nghỉ
hưu non, hưởng đủ lương, ai cũng hoan hỉ. Song có người
vẫn còn lưu luyến thuở hống hách trên đường, nay về
nhà đuổi gà cho vợ, gà nhảy đổ vỡ mấy cái chén
kiểu bị mắng là đồ vô dụng. Thỉnh thoảng nhớ nghề
vẫn cầm tu huýt thổi lên những bản tình ca du dương
được ghi đĩa DVD bán ra hàng triệu đĩa. Nghĩ lại trong
cái rủi có cái may, nhàn nhã sung sướng hơn thời đứng
đường phơi nắng hít khói thổi phạt kiếm chút tiền
còm cà phê, ăn sáng. Có điều thời của ngài cũng có
vấn đề khá nghiêm trọng. Đàn bà đàn ông ai cũng có
cái bụng quá khổ như ngài, đàn ông may quần bụng rộng
thình, tốn vải và thắt lưng dài mấy thước. Đàn bà
tốn cao su làm gaine nịt bụng, nếu không chồng chê tướng
đi lịch bịch như con vịt bầu. Thời của ngài thuốc
uống giảm béo được phát không, như thuốc ngừa thai.
Còn
có tượng vị Phật quá khứ. Phật A-Di-Đà. Vị Phật
này rất thích có người réo tên mình. Người ta tin rằng
cứ gọi tên ngài bao nhiêu lần là được hưởng bao
nhiêu phước đức. Niệm đủ danh hiệu ngài 10xN lần
là đắt đạo. N không phải là một hằng số, nó là một
biến số, tuỳ thuộc công đức của mỗi chúng sinh. Phật
tổ đã từng tuyên bố :” Ta là Phật đã thành. Chúng
sinh là Phật sẽ thành”. Chúng sinh đây có thể là con
kiến, con dế, con giun, con vi trùng, loại vi trùng tử tế,
hay cả loai virut ác ôn... Vì thế người đi tu gặp nhau
không bắt tay bông-rua kiểu Tây mà luôn luôn chào bằng
câu cửa miệng :” A-Di-Đà Phật !”
Đó
là khu vực của Phật, khu biệt thư sang trọng riêng biệt.
Bên này mới là xóm nhà lá “Chung cư của những
linh hồn” với ngôi nhà nhiều tầng to lớn hỗn
tạp và tồi tàn xuống cấp từng ngày, sụp đổ lúc nào
không biết. Nơi đây dành cho bao nhiêu sinh linh tá túc.
Sư
ông Tuệ Giác là thầy của thầy sư ông đang trụ trì
chùa này có huệ nhãn là con mắt linh, nhìn thấy tam thiên
thế giới, biết việc ngàn năm trước, ngàn năm sau. Con
mắt linh nằêm nơi bụng chỗ có cái dạ dày. Nay sư Tuệ
Giác thấy nước nhà hội nhập kinh tế. Đây là cơ hội
làm ăn. Nhà chùa không thể mở quán Karaoke, quán nhậu,
cũng chẳng có tư cách gì để được đảng uỷ“cơ
cấu” ra làm quan. Cũng không thể làm tương chao đem ra
chợ bán, sản phẩm hàm lượng chất xám thấp không bao
nhiêu tiền. Vậy thì chỉ còn diệu kế này. Làm bàn thờ
để cho tín chủ kí gửi tro hài cốt thân nhân, những
linh hồn tội lỗi một đời chốn thế gian được ở
cạnh Phật sáng chiều nghe chuông công phu tịnh độ, tối
nghe kinh, siêu thăng Tịnh Độ. Sư bấm đốt ngón tay
tính, ít nhất cũng một ngàn “linh” thì chùa mới đủ
sở hụi. Chúng đệ tử nói, sợ e nhiều quá. Sư cười
bảo. Đừng lo, lão già tử thần với chiếc áo chùng
đen, mũ vải nhọn và lưỡi hái siêu hạng dài bằng đòn
gánh, siêng năng thu hoạch mùa vụ của lão thì ta lo gì
thiếu. Sư cho để tử mời lão thợ mộc tên là Bộc
đến, sư nói đóng cho nhà chùa cái bang thờ hình tròn,
thật lớn để được hàng ngàn bát nhang. Lão Bộc chận
lại hỏi, sao lại phải hình tròn? Sư ông nói, cứ làm
theo ý ta, làm cho vững chải. Tiền công cán, vật liệu
bao nhiêu ?
Lão
Bộc vội vàng chắp tay xít xoa khúm núm thưa: Làm cho chùa
thì ai tính công, để cái đức mai sau. Chỉ có gỗ thì
phải mua, nhà nước đóng cửa rừng, kiểm lâm dạo này
bắt gỗ lậu ác lắm, chuộc lại tốn bạc triệu, nên
thời ni gỗ đắt như trầm hương với kì nam, cân kí mà
bán, nhưng sư phụ yên tâm, thế nào cũng xong vào đúng
dịp rằm tháng bảy xá tội vong nhân để chùa mở hội
Long Hoa khai lộc. Khi nói câu ấy lão mừng thầm, trúng
mánh to. Chùa này thiếu gì tiền, cơ hội cho mình kiếm
chác đây. Mình lấy hai bộ ván ngựa của vợ chồng
thằng Duy, dở chuồng nuôi con heo nái, xẻ ra làm cũng
được. Ai biết đâu con vợ thằng Duy đẻ tám mặt con,
con heo nái đẻ ba lứa trên những tấm gỗ ấy. Xong có
tiền mua lại cho nó cái giường Hồng Kông thước hai,
tấm nệm mút Kim Đan dày hai tấc, con heo nái thì kêu bọn
lái lợn tới cân. Lợi cả đôi đường…
Sư
ông cho đệ tử ra chợ Đầm mua hàng trăm bát nhang, loại
nhỏ, rẻ tiền, men da lươn. Rồi lên làng gốm Lư Cấm
đặt làm hàng trăm cái quách nhỏ cỡ bằng nửa viên
gạch thẻ, nung chín, không cần tráng men, có nắp đậy
sơ sài, miễn là giá rẻ. Sau này người ta có ý chê nhỏ
đựng không hết tro hài cốt, thì nói chỉ cần thờ
tượng trưng thôi, còn bao nhiêu gia chủ đem về chia cho
họ hàng mà thờ, nhớ lấy muỗng đong cho đều, phần ai
cũng bằng nhau, không lại cãi vã. Chia xong mà không hết,
hoặc không ai lấy thì “cát bụi trả về với cát bụi
”, đổ xuống sông xuống biển hay bờ bụi chỗ mô đó
cũng được.
Làng
gốm Lư Cấm nằm ven con sông Cái. Làng có nghề làm lò
đất. Mấy năm gần đây cuộc sống đi lên. Người ta
dùng bếp ga, lò điện, lò vi ba để nấu nướng, hâm
thức ăn, vừa tiện lợi mà còn sạch sẽ. Có người
lười đến nỗi tới bữa mua cơm hộp về ăn, khi đổi
món thì dùng thức ăn nhanh gọi là phát phút. Không ai
dùng lò đất đốt than hay chụm củi. Đông Trù Tây Mạng
Táo Quân vua bếp cũng được cho “thôi giữ chức”, về
hưu non, trước đây ngồi trong bếp hai ông một bà, bận
đội nồi cơm, không xảy ra việc gì đáng tiếc, nay rổi
rãi sinh chuyện ghen tuông. Táo bà bực mình bỏ cả hai
anh, lên nhà trên bắt bồ với thổ địa, ban đêm cả
hai thường lẻn vào buồng ngủ xem trộm gia chủ “đúc
dân”. Hai mươi ba tháng chạp không còn ai cúng cá chép
nữa. Nghề làm lò đất mai một dần. Nay có người đặt
món hời, ai cũng mừng. Đảng uỷ, chủ tịch, hội đồng,
mặt trận phường nhóm họp cãi vã liên miên vẫn không
tìm ra giải pháp. Cuối cùng để dân tự phát làm. Xong
phường giành lấy giao hàng, kiếm chút huê hồng, tiền
chia theo sản lượng. Trước đây người ta lấy đất sét
ở chỗ ruộng mả vôi, nay khu vực đó đã trở thành khu
khách sạn năm sao, phục vụ từ A đến Z có cả massage,
spa, dành riêng cho khách du lịch hạng sang, trai thanh gái
lịch, ngựa xe như nước áo quần như nêm. Còn ruộng đâu
mà đào thứ đất sét vàng lườm, ngon mắt. Dân làng
đành móc sình lầy ở bếân Cây Sung, nơi mấy chị
thường đến tắm giặt. Hay đem con ra rửa khi chúng làm
bậy ra dơ cả quần. Buổi trưa bến vắng. Thầy Sáu Đậu
thường đội cái sỏng nhỏ, đặt xuống nước nổi như
chiếc lông ngỗng. Thầy câu cá dià sông bằng thứ mồi
rất đặt biệt là phân người quết với cơm gạo nếp.
Nhìn thầy ngồi câu dáng tiên phong đạo cốt, song ai ngờ
thầy ra đây cốt để nhìn trộm mấy chị tắêm trần.
Cũng vì ham coi trộm nên nhiều lần thầy làm sẫy mấy
con cá lớn. Người ta đem bùn đen phơi mấy nắng vừa
ráo, nhào nặn sơ sài. Cả làng hì hục mấy ngày thì
xong. Cho vào lò đốt lửa lên. Song lạ quá củi khô mà
nhen cả buổi không cháy. Người ta nói tại bà hoả vắng
nhà. Bà hoả là hoả thần, còn có tên là Bà La Sát, dưới
hình ảnh một người đàn bà, chân mang đôi guốc sắt
là hai lưỡi cày sắt nung đỏ. Bà dẫm đến đâu thì
lửa cháy đến đó. Lần này vì sao bà hoả không chịu
dẫm chân vào mấy cái lò gốm ? Có người không tin, nói
lò không dùng đã lâu, lạnh lẽo, nhen khó lắm. Lão Cồn
ra quán chị Ba Bìa xách lít dầu hoả về tưới. Không
hiểu chị ta có pha nước lã vào dầu không mà vẫn không
chịu cháy. Lại có người nói, vì làng phụ nghề bỏ
lò lạnh lẽo bấy lâu nay, thần gốm giận ếm bùa “tị
hoả”. Phải thỉnh đạo sĩ đến làm phép khai hoả mới
xong. Đạo sĩ là anh Tư Ri, có lên Hòn Thơm, cạnh sông
Cái học đạo mấy năm. Tư Ri tới cây xăng nhà nước
mua một lít xăng 95, Anh ta vừa đổ xăng vừa lầm bầm
khấn. Không biết nhờ xăng tốt hay nhờ những câu thần
chú mà lửa cháy, chập chờn lung linh như ma trơi, nung một
ngày đêm, nửa sống nửa chín, nơi thì đã hoá sành, nơi
chưa chín đất vẫn còn màu trắng. Bởi như mấy lão già
nói, năm ni gió chướng thổi, bầu bí ra hoa đều rụng
rốn, đàn bà lạnh bụng, ngủ với chồng lu bù tối ngày
sáng đêm vẫn không đậu thai, nhiều năm không thêm được
xuất đinh nào. Làng này có tội vong ân với gốm thần,
phải lập đền thờ thì gió chướng ngưng thổi, bầu bí
đậu đầy giàn, đàn bà mới động chân giường thì đã
ôm bầu. Cán bộ phụ trách dân số bị kỷ luật cảnh
cáo, hạ hai bậc lương. Mấy cái tiểu nhỏ xấu xí méo
mó lại nung chưa được chín. Nhưng đã tới ngày giao
hàng, đành tắt lửa, lấy ra để bờ sông cho gió biển
thổi lên mau nguội, giao hàng. Lấy tiền, toàn tiền cũ,
có tờ rách đôi, đó là tiền thí chủ đến chùa bỏ
vào thùng quyên góp gọi là thùng phước sương, ai cũng
ngao ngán nói, đúng là tiền chùa. Thôi cũng đành, tiền
nào của nấy. Cứ lấy về chia nhau đánh bầu cua tôm cá
cọp. Lai lịch những ngôi nhà cuối cùng trong chung cư
các linh hồn là thế. Những kẻ cơ hàn hay phú quí, sang
hoặc bần, tằng tiện hay hoang phí, bác ái hay bất nhân,
khiêm cung hay hách dịch, giỏi hay dở. Có học hành chính
qui hay bổ túc văn hoá…Dù là Đông cung Thái tử vinh hoa
hay anh chàng cái bang rách rưới, với cây đả cẩu bổng
lang thang làng trên xóm dưới. Dù là bậc mỹ nhân sắc
nước hương trời, đội vương miện hoa hậu hay là chị
nhan sắc Dạ Xoa bốn chín tuổi, cho không chẳng thằng
cha nào rớ tới, tất cả thì tro tàn cũng chẳng khác gì
nhau, chất bột trắng lợn cợn những vảy than đen. Tấm
thân ai thì cũng là thân tứ đại, gió, nước, đất, lửa
cấu tạo mà thành. Mọi người giờ đây buồn rầu lặng
lẽ quây quần bên nhau miên viễn, trong cái cộng đồng
hoà bình bất đắc dĩ trên giá tròn làm bằng gỗ chuồng
heo với giường bà đẻ tội nghiệp này.
Con bé Hoa Thị Liễu
mười hai tuổi, con mụ Huê lão Hợi. Nhà ở gần chùa,
nhà nghèo lắm làm không đủ ăn. Hàng ngày con bé Liễu
qua chùa gánh nước về dùng. Sư ông ngồi uống nước
trà ở bộ tràng kỷ khách phòng, nhìn ra giếng thấy con
bé mặt mày dễ coi, ngài dùng pháp quán tưởng thấy con
bé có căn tu. Sư kêu nó lại hỏi gia cảnh, bảo về thưa
lại mẹ cha cho qua chùa làm công quả. Lão Hợi, một
người đàn ông xấu xí, mày rô, mắt lộ tướng đi lom
khom như con gấu ở trong hang vừa đi ra ngoài. Lão đi đến
đâu bọn chó kéo nhau ra sủa hàng bầy, mỗi khi say rượu
lão dám xưng với mấy con chó sủa dai:” Tụi mi dám xúc
phạm Bồ Tát hử ?” Mấy người nghe được rầy lão
tội phạm thượng, lão cãi, nhìn thử trên đầu ta có
thấy hào quang bốc lên cả trượng không? Người ta chỉ
thấy trên cái đầu tóc rậm như rể tre lâu ngày không
gội dơ bẩn có bầy ruồi trâu bay chập chờn như trên
đầu con bò u của lão Kẹo, nuôi để nhảy nái. Lão Hợi
làm nghề đồ tể. Mấy người lớn thường lấy lão ra
doạ bọn bé con khóc đêm, không chịu ăn, không chịu bú
: Lão Hợi kìa nín đi, bú đi, ăn đi, không lão bắt về
làm thịt bây giờ. Mụ Huê, một con mụ to sầm tướng
tá thô bỉ chẳng khác gì đàn ông, chuyên nói tục với
đánh nhau với mấy mụ bán cá đồng chợ Đầu Cầu.
Thấy con bé xinh đẹp ngoan ngoãn của cặp “trai tài gái
sắc” này, ai cũng nói, cha mẹ cú đẻ con tiên. Lão Hợi
mụ Huê cho con bé qua chùa, nói là để làm công quả bòn
chút công đức đặng sau này nhờ, song thực là để kiếm
cơm. Sư ông đặt cho con bé cái tên Phật là Nguyên Bích,
mong đời con bé như viên ngọc trong sáng không tì vết.
Công
việc hàng ngày của tiểu Nguyên Bích là coi sóc bàn thờ
các linh, phủi bụi, thắp hương. Buổi sáng nó gõ qua loa
hồi chuông công phu, rồi chạy ra vườn chùa tìm hang cua,
hang dế đổ nước cho cua, dế ngợp thở trồi lên. Lấy
lá khô nhóm lại, nướng ăn. Cơm chùa chỉ tương rau.
Tương thì làm sẳn hàng vại, chôn trong đất, dùng quanh
năm. Con bé tuổi ăn tuổi lớn, quanh năm tương rau, rất
thèm thịt cá, nên lẻn ăn vụng mấy con cua, con dế. Tiểu
Tâm Kính thấy con bé sát sinh, doạ: Mi không thấy tấm
hoạ đồ vẽ cảnh Thập Điện Diêm Vương, lũ Ngạ Quỷ
cưa xẻ nấu dầu tội nhân đó sao mà dám sát sinh ? Tâm
Kính nói thế nhưng nghĩ thầm toàn bịa chuyện doạ trẻ
con… Rau trồng vườn chùa, không đủ ăn. Có khi hái rau
dền tía mọc hoang bên ngoài tường bao. Nơi đây kín đáo
nên bọn ăn nhậu giỡn cợt với mấy đứa con gái quán
bia hơi Hồng Thắm khi về ngang qua đứng lại, mở nút
quần trút ra, gọi là làm thuỷ lợi nhỏ. Rau dền mọc
nơi đây mau xanh tốt, vài ngày thì hái một lứa. Lâu
nay con bé không biết “linh” là gì mà người ta đem đến
chùa thờ. Trước mỗi linh đều có đặt bản ghi tên đàn
ông, đàn bà trẻ con, và cái ảnh nhỏ, người già người
trẻ, kẻ đẹp người xấu, đủ cả hạng người trong
xã hội. Gia chủ thì rất cung kính, rằm mùng một đều
tới cúng dường tiền bạc quà cáp, thăm viếng sư và
vong linh người thân, thắp hương cho họ. Còn nhà chùa
thì chẳng quan tâm đến. Tất cả công việc chăm sóc cái
bàn thờ có đến mấy trăm bát nhang này giao cho mình nó.
Tro
bụi nhọc nhằn của cả kiếp nhân sinh bon chen danh lợi
cái còn lại nhỏ nhoi chỉ một nhúm này thôi sao? Làm
công việc chăm sóc bàn thờ linh nhiều năm qua, nhưng con
bé không biết trong những chiếc quách nhỏ này đựng thứ
gì. Một hôm con bé nỗi tính tò mò, nhìn chung quanh chẳng
thấy ai, nó rụt rè mở nắp chiếc quách. Nó đem ra nơi
sáng xem. Bên trong đựng thứ bột gì trông như tro trấu,
màu xam xám, có những mảnh trắng nhỏ, chất vôi trong
xương người. Cũng có nhiều mảnh đen, ấy là những
mảnh than chưa cháy hết. Tiểu ni nghĩ, lạ nhỉ ? Con
người to lớn nặng nề với bao nhiêu ràng buộc phiền
toái là thế khi đã chết đem đốt đi còn lại nhúm bột
xám chẳng tinh khiết gì, trông bẩn bẩn làm sao. Chất
bột như muối tiêu. Lúc đầu nó đưa ngón tay trỏ rón
rén sờ, sau cho cả ngón cái vào bóp thử, thấy lộm
cộm, không mịn như tro bếp. Rồi nó lại nổi tính trẻ
con tò mò, bưng đưa lên ngửi, thoang thoảng mùi hương
gọi tên là thời gian ẩm mốc cũ kỹ. Con bé bạo dạn
thè lưỡi nếm thử. Tiểu nhăn mặt, trên lưỡi nó đủ
cả các vị chua lè, chát ngắt, cay xè, mặn đắng, vị
đời… Nó vội phun phì phì. Tiểu ni tởm lợm, chạy
vội ra hiên nhỗ nước bọt. Nó thơ thẩn đi ra bờ
ao, ngồi trên cầu tre nhìn nước. Mặt nước phản chiếu
bóng một nền trời lên cao, cao và lồng lộng đến hoang
vu. Bóng dáng Tiểu ni ốm o tội nghiệp chập chờn giữa
áng mây mỏng manh tha thướt như váng sữa. Nó cúi xuống
soi vào bầu trời xanh trên cao, khoác nước lên khuôn mặt
lạ lùng nào đẳm nước mắt. Mây và bóng ai rung rinh vỡ
ra thành từng mảnh nhỏ, sự đổ vỡ chưa kịp kết
thúc, thì mặt nước thôi rùng mình. Những mảnh vỡ hoà
nhập tái tạo khuôn mặt người khác. Nó thấy bóng ai
chơi vơi cô đơn buồn bã đến tận cùng, trong bầu trời
lồng lộng đến thinh không, không có ta trên đời, không
có bóng mây, không cả niềm vui nỗi buồn . Hình như tận
cùng là hư vô, hư vô của hư vô. Sắc với không để
làm gì ? Và nó khóc. -./.