1
Bốn mươi lăm năm qua, đã thành lệ, cứ khoảng 4 giờ chiều, ngày nào cũng như ngày nào, nắng cũng như mưa, hoàng hôn lạnh hay chiều tà nóng, mẹ tôi lại khóc. Nước mắt của bà đã thành ao, thành hồ, bào mòn cuộc đời bà, làm đôi mắt long lanh hồ thu của cô Cốm năm nào thành hai cái hố sâu hoắm đục lờ chứa đầy bóng tối.
Mẹ tôi khóc vì bố tôi.
Tôi là con trai duy nhất của bố mẹ tôi. Năm nay, tôi cũng đã già, tuổi xấp xỉ lục tuần. Mẹ tôi khi còn trẻ có tên là Cốm, lấy bố tôi người ta gọi là bà Hương, do bố tôi ngày trước là hương sư, giáo viên tiểu học của làng. Mẹ tôi năm nay cũng đã tuổi bát tuần. Bố tôi tên là Tích, Phạm Quang Tích, còn tôi Phạm Quang Thiện. Tích Thiện, ý các cụ bề trên muốn bố con tôi ở đời nên chú ý tích lũy và thực hiện những điều thiện. Bố con tôi đã làm được điều ấy. Nhưng không hiểu sao kết cục cái ác lại “báo” bố con tôi. Chịu, không hiểu nổi.
Nói điều này ra đau lòng lắm nhưng cũng cứ phải nói. Nhiều năm nay cứ đến 4 giờ chiều mẹ tôi lại khóc. Khóc mãi thành lệ. Thành lệ rồi thì đến một lúc, chẳng cần đồng hồ, mẹ tôi cũng biết đó là 4 giờ chiều. Và tôi cũng thế, ở mãi đâu, mưa hay nắng, có mặt trời hay không, tôi cũng biết đã đến giờ ấy. Tôi biết, để cứ đến lúc đó, dù đang ở nhà, tôi cũng tìm cách lảng tránh.
Tôi sợ tiếng khóc của mẹ tôi lắm. Mấy chục năm tưởng quen mà không thể quen nổi. Một bản nhạc buồn mỗi ngày một cung bậc khác nhau. Tất cả đều là tiếng kêu đứt ruột của một kiếp người.
Chiều nay, tôi trở về nhà trong tâm trạng ấy. Rón rén như con mèo, tôi nhè nhẹ dựa chiếc xe đạp cũ kỹ như một hiện vật trưng bày trong bảo tàng, vào gốc cây cau sau nhà rồi nín thở nghe bên trong xem mẹ tôi đang làm gì!
Tôi thấy thương mẹ tôi quá. Ước gì tôi làm được như ông Lão Lai ngày trước, bảy mươi tuổi còn lăn ra giữa sân làm trò hề cho cha mẹ vui mỗi khi các cụ âu sầu. Nhưng tôi không làm được. Đành tự hứa cố giữ mồm giữ miệng, hết sức tránh những cử chỉ làm cho mẹ buồn phiền. Tôi thương mẹ vì lòng chung thủy mẹ dành cho bố mà tôi nghĩ trên đời này khó có được người thứ hai.
Qua khe cửa, tôi thấy mẹ tôi đang run rẩy hai tay lần giường, mò mẫm đi đến chiếc bàn thờ đặt trong cái củng lõm sâu như một cái hang trong bức tường nhà. Cụ sờ tay lên cái hộp gỗ sơn mài tròn như cái ống quyển đựng bài thi của sĩ tử ngày xưa, rút ra một nén hương, rồi bật lửa đốt, thành thạo như một diễn viên xiếc diễn trò khi bị bịt mắt.
Trên bàn thờ, khói hương nghi ngút. Bên phải là tấm bằng Huân chương kháng chiến hạng ba rực rỡ, chói lọi. Màu vàng và màu đỏ. Ánh sáng và bóng tối. Tấm bằng này ở nước ta có lẽ không gia đình nào, cá nhân nào không tự hào nếu có nó trong nhà. Với mẹ con tôi cũng thế nhưng bên cạnh đó lại còn là sự trớ trêu, hờn tủi.
Bên trái, dòng chữ đen sì sì, đen như bồ hóng là tờ giấy khổ rộng, in chữ to. Đó là tờ quyết định xóa án tử hình cho bố tôi của Tòa án Nhân dân khu Tả ngạn. Tờ quyết định cay đắng này nửa thế kỷ nay mẹ con tôi có công lắm mới cất giữ được.
Thêm một trớ trêu nữa là lẽ ra trên bàn thờ phải có bức ảnh của bố tôi. Vậy mà không.
“Tất cả tinh anh đã hiến cho đời - Không giữ cho mình dù chỉ là hài cốt”, ai đó đã viết thế. Bố tôi còn hài cốt nhưng không còn dáng hình. Thành ra bao nhiêu năm nay, hiện diện trong khung kính vẫn là một khoảng trống rợn người.
Bố tôi không có một tấm ảnh nào trước lúc “hy sinh”. Điều này đồng nghĩa bố tôi bị chết một lần nữa. Và thế là, không chịu nổi sự trống trải, tôi đã giấu mẹ, bắt nạt cụ mù lòa, dối trá đặt vào đấy tấm ảnh không phải của bố tôi. Tôi đảm bảo nhìn vào tấm ảnh này không ai không nổi da gà, ngực tức muốn nghẹt thở.
Ảnh chụp một người đàn ông, quần nâu, áo nâu, nhàu nát, trang phục quen thuộc của những anh cán bộ Việt Minh thời bấy giờ. Người trong ảnh bị trói ghì khuỷu tay bằng một sợi dây thừng siết chặt, làm toàn thân co rúm lại như con nhái bị tóm vào lưỡi câu. Cứ như đang bị những tín đồ cuồng tín của một giáo phái man rợ chuẩn bị lễ tế thần.
Người đàn ông đã khốn khổ, người đàn bà trước mặt anh còn khốn khổ hơn. Khốn khổ hơn vì đang giết người mà lại không biết mình làm điều ác, vẫn cứ tốc váy quai cồng lên rồi giơ thẳng cánh tay, chĩa ngón trỏ nhọn hoắt như mỏ chim dí vào vừng trán đầy vẻ trí thức của con người đang chịu nạn kia.
Khí thế ngùn ngụt căm thù (mà chả biết căm thù ai) đang cháy bừng bừng trên khuôn mặt chị ta, trong khi vẻ mặt người đàn ông bị trói vẫn thản nhiên, thậm chí còn phảng phất một nụ cười khinh mạn, coi cái việc đang diễn ra trước mắt chỉ là một trò hề, không hơn không kém.
Vượt qua đầu hai người này, trên cao là một sân khấu, giống hệt sân khấu tuồng chèo mà các gánh hát trước đây thỉnh thoảng lại về bắc rạp cho dân làng thưởng thức, với ba bề bốn bên là cờ quạt, là băng biển và khẩu hiệu, màu đỏ và màu vàng, là những bức chân dung phóng to hết cỡ.
Để có bức ảnh chết người này, tôi phải nhờ một anh bạn hiện đang sinh sống trong Sài Gòn sưu tầm nó từ internet rồi phóng to gửi cho. Bạn tôi bảo cũng là nhờ phóng viên Liên Xô thì mới có, chứ phóng viên Việt Nam ta lúc bấy giờ vừa sợ lại vừa phải dành phim để chụp những cảnh “vắt đất ra nước, thay trời làm mưa” theo yêu cầu cấp trên. Tôi, mà chẳng cứ gì tôi, mang ơn các nhà báo Liên Xô là vì lẽ đó.
Nhiều người gàn khi tôi đặt bức ảnh này lên bàn thờ. Họ bảo tôi sẽ bị khốn khổ rầy rà. Tôi bỏ ngoài tai tất cả.
Nhân bảo như thần bảo. Trước hết là lời mắng mỏ của bố tôi. Ông báo mộng, này đừng có tô son vẽ phấn lên người thầy đấy nha. Ngày người ta xử tử, thầy không trẻ trung và mặt mũi không sáng sủa như người trong ảnh đâu. Đừng có “điêu toa”, bố tôi dùng lại cái từ mà những người đứng đắn thường dùng để chửi mấy ông bà nông dân hay tố điêu ngày cải cách ruộng đất. Tôi thấy bố tôi cười. Hai hàm răng đen nhánh như hạt na. Tôi sợ toát mồ hôi, vội thắp nhang khấn vái xin lỗi bố ngay. Có còn hơn không, thầy cứ cho con thờ bức ảnh này thầy nhá! Qua khuôn mặt người đàn ông khốn khổ, thầy tôi cười.
Đó là chuyện vui. Còn đây mới là chuyện chả biết buồn hay vui.
Một hôm, anh công an xã đùng đùng đến tận nhà bảo tôi rằng: “Vết thương đang liền da liền thịt, ông khơi ra làm gì, có phải định phá hoại công cuộc xây dựng đất nước hiện nay không?” Anh điên à? Vết thương này là của tôi chứ đâu phải của anh và giả sử có đau thì tôi đau chứ có gì liên quan đến anh? Đừng có tư tưởng “tốt đẹp phô ra xấu xa đậy lại”, hiểu chưa? Thế là ngu đấy! Tôi vừa nói xong, mẹ tôi tiếp luôn: “Này, công khai với bưng bít! Anh cứ về hỏi lại mẹ anh thì sẽ hiểu. Nếu ngày trước, hội phụ nữ chúng tôi không công khai cái tội hay đánh vợ của bố anh ra trước toàn dân thì liệu ông ta có dừng tay? Vậy thì giấu kín là tốt hay công khai là tốt?” Thời cách mạng mới thành công, mẹ tôi phụ trách phụ nữ xã mà.
Gã công an ngượng, bỏ đi một mạch.
Cũng hôm đó, mẹ tôi nói với tôi: “Anh yên tâm, bu sẽ lo cho anh một bức truyền thần”. Nghĩ mẹ tôi nói đùa, tôi không hỏi lại.
Ngày bố tôi còn sống, việc chụp ảnh đâu có dễ như sau này. Chàng trai nào có cái máy ảnh trong tay thì họ chả khác gì những đại gia của ngày hôm nay, những người có khả năng biến tiền thành tình yêu. Giơ máy ảnh lên, tách một cái, chả cần biết trong máy có phim hay không nhưng cũng đủ làm mồi nhử cho nhiều cô xúm lại tản tỉnh: Cho em một pô nữa đi anh. Và anh thợ ảnh chỉ cần gật đầu một cái là muốn gì cũng được, kể cả việc bắt các cô khỏa thân. Nhưng rồi sau đó, anh đi đằng anh, em ở lại vừa mòn mỏi trông ngóng vừa xuýt xoa tiếc cái đồng trinh và cái đồng tiền bỏ ra không thu lại được.
Ngày ấy, người ta gọi cách lừa ấy là đánh trận giả.
Nhưng bố tôi không có ảnh lại không phải vì lý do đó. Mà là do vấn đề an ninh. Bố tôi đang là bí thư Đảng của một xã thuộc loại “ấm ớ hội tề”, hoạt động hai mang, ban ngày thì chính quyền là của giặc, ban đêm là của ta. Ban ngày, chiêng trống phèng la um trời đuổi Việt Minh ra khỏi làng hoặc cắt cử dân công lên bốt làm phu phen tạp dịch nhưng ban đêm thì cũng chính những người bị dân làng đuổi này cứ việc bí mật về làng, sống chan hòa với dân làng, vận động bà con đóng thuế nông nghiệp, hô hào thanh niên trai tráng chống bắt lính, chống làm bia đỡ đạn cho giặc.
Mẹ tôi nói đây là công việc cực kỳ khó khăn với bố tôi, vì ông lúc nào cũng như người đi trên dây thép. Ngả bên này một chút không được, nghiêng một ly sang bên kia không xong. Giữ thế an toàn cho bản thân đã khó, giữ sự bình an cho dân trong cái “thế trứng để đầu đẳng” càng khó hơn nhiều.
Vậy mà bố tôi làm được. Việc ông vận động chính quyền địch chấp nhận cấp thẻ căn cước cho dân làng để mọi người dễ dàng vào ra, đi đây đi đó là một thắng lợi trong công tác vùng địch hậu của ông, được dân làng hết sức hoan nghênh. Một hiệu ảnh lớn trên thị xã đánh hơi được đã lần về chụp ảnh dán thẻ. Và thế là ai đến tuổi cũng có ảnh, trừ ông và những đồng chí của ông. Ông sợ bọn chỉ điểm sẽ dùng ảnh làm chứng cứ cho bọn phòng nhì trên tỉnh bắt ông. Ông đâu có ngờ mấy năm sau, cải cách ruộng đất, những người nông dân được ông lo cho giấy tờ tùy thân để được an toàn tính mạng đã tố ông xúi bậy họ để rồi ông bị mất mạng vì chuyện đó.
Ông không có được một tấm ảnh là vì thế.
Bàn thờ của ông không có ảnh của ông là vì thế. Nhưng với bà thì ông có ảnh. Bức ảnh ấy đã bao năm bà cất trong lòng. Ở đó, ông lồng lộng tuổi hai mươi, trắng trẻo, thư sinh, miệng lúc nào cũng tươi như hoa, khối cô gái mê, bà bảo thế.
Trong nhà, tiếng mẹ tôi lầm rầm như cầu kinh:
- “Ông sống khôn chết thiêng. Ông về đây phù hộ độ trì cho con cháu với. Họ lại định cướp đất của chúng ta lần nữa ông ạ. Tội nghiệp con trai ông. Nó là đứa rất có hiếu”.
Khấn xong, bà cụ lại rờ rẫm ngồi xuống giường. Chợt cụ đưa con mắt đục lờ nhìn ra phía cửa. Chả biết có phải bằng một thứ giác quan riêng mà mẹ tôi nhận ra tôi, dù tôi đang đứng ngoài sân và đang nín thở:
- Thiện đấy à? Có kết quả gì không?
Tôi chỉ còn biết lách qua khe cánh cửa vào nhà rồi sà xuống như ngày còn thơ ấu hay ngồi bên mẹ lúc bà đang nấu cơm mùa đông hay bện chổi mùa hè. Mỗi lần như thế tôi lại cảm thấy một cái gì hình như là hạnh phúc đang dâng lên trong lòng, chặn đứng ở cổ họng và ở cả khóe mắt:
- Cũng sắp có kết quả rồi bu ạ! Nghe nói chỉ tuần sau là có sổ đỏ! Bu cứ yên tâm đi. Còn sống được bao lâu nữa mà lúc nào cũng đất với đai thế này, mệt lắm! A, để con ra ngoài dây phơi lấy cho bu chiếc khăn lau mắt nhá. Khổ quá, khóc làm gì mãi thế. Gần năm mươi năm rồi, thế này bu chết mất!
- Mẹ cha nhà anh! Bu chưa chết được đâu! Bu còn sống đến ngày mảnh đất của nhà ta chính thức thuộc về nhà ta với đầy đủ nhà cửa cây cối như hồi thầy anh còn sống.
♣♣♣
Gần nửa thế kỷ nay, cứ 4 giờ chiều mỗi ngày là mẹ tôi lại khóc.
Khóc được hai mươi năm thì mắt cứ mờ dần, từ lúc còn nhìn được con gà đang chạy ngoài sân đến khi thấy con chó đen lại la lên là con chó trắng, tôi biết mẹ tôi đã bị mù màu. Tôi đưa cụ đi chữa chạy khắp nơi nhưng thời đó thuốc thang không sẵn như bây giờ, với lại bác sĩ nói trễ quá rồi nên cuối cùng phải chịu để một màn đêm dày đặc vĩnh viễn bao trùm lên đôi mắt của cụ.
Ngày mắt mẹ còn sáng, chúng tôi xúm vào động viên bà, bảo dù sao chuyện cũng đã xảy ra lâu rồi, số phận bố con cũng đã an bài nhưng mẹ tôi bảo bụng cụ không muốn nhưng không hiểu sao tiếng khóc vẫn cứ bật ra. Hình như đó là chuyện của bề trên, của một thế lực thần bí nào đó. Cụ bảo lạ nhất mà mấy chục năm nay cụ để ý, là mỗi lần khóc xong thì cứ như trời đất hiện ra sau cơn mưa ấy. Cụ như được trẻ lại, đầu óc tỉnh táo thêm ra, con mắt cũng do đó mà sáng sủa thêm, mặc dù càng về sau bóng tối càng dày đặc.
Mẹ tôi bảo mỗi lần khóc là một lần cụ lại nhìn thấy rất nhiều hình ảnh, nghe thấy rất nhiều những tiếng nói mà lúc thường cụ không thấy bao giờ. Ví dụ, vào cái hôm người ta xử bắn bố tôi, cụ không được Đội cho ra đấu trường, không được phép chứng kiến giây phút nỗi oan của bố tôi được hóa vào gió vào nắng nhưng giờ đây lại nhìn thấy tất cả, thấy vẻ mặt tái nhợt vì sợ của lão Thoại, khi nâng súng nhắm vào ngực bố tôi, cái miệng méo xệch như muốn khóc.
Mẹ tôi bảo đó là ngày trước, còn hôm nay nhìn vào mặt mỗi con người cụ thấy lạ lắm. Phần lớn ai cũng chỉ có một mặt, hai mắt, hai tai, một mũi, một mồm, nhưng nhiều khi lại có những người có đến hai, ba thậm chí đến bốn khuôn mặt. Điều đáng sợ là những khuôn mặt ấy thường là đối chọi nhau, trái ngược nhau. Mặt này hiền lành từ bi như mặt Phật bao nhiêu thì mặt kia gian tà độc ác như mặt thú dữ bấy nhiêu. Mẹ tôi bảo mỗi lần gặp phải những con người như thế, cụ sợ lắm, sợ run lên, đến nỗi cụ thường phải thắp nhang khấn vái: “Xin trời phật phù hộ cho con để từ nay con chỉ thấy ở mỗi người một khuôn mặt thôi, dù đó là khuôn mặt ác độc. Chứ lá mặt lá trái thế này con không biết đâu mà lần”.
Đó là nhìn. Còn về nghe, mẹ tôi bảo cũng thế. Phần lớn người đời tính tình thế nào, suy nghĩ thế nào thì giọng nói đúng như thế. Nhưng ngoại lệ cũng không phải là hiếm. Mẹ tôi bảo do mấy chục năm nay, bị mù lòa không đi đâu được nên thời gian cụ chỉ dùng để nghe đài. Cụ bảo tiếng nói của đài nhiều người nghe chỉ thấy có một giọng nhưng với cụ thì không phải thế. Nhiều khi nghe oang oang giọng ông A rằng phải chống tham nhũng, chống triệt để nhưng kèm theo giọng ấy, cụ lại nghe cũng của ông A: “Tôi không phải uống nước lã để ký giấy đâu nghe!” Hoặc nghe ông B nói: “Mại dâm là sản phẩm của chế độ tư bản, chúng ta phải kiên quyết đẩy lùi” nhưng lại cũng chính giọng nói ấy nỉ non: “Sao lại kêu anh bằng chú?” và réo rắt tiếng nhạc mà ngày xưa chính các vị này bắt những người hát nó phải làm kiểm điểm.
Nhiều lúc tôi thấy mẹ tôi bịt tai. Nhưng bịt tai thì lấy gì mà nghe trong khi hai con mắt chẳng còn. Những lúc ấy, mẹ tôi như phát điên lên. May mà sau đó có buổi chiều, có hoàng hôn lạnh, có khoảnh khắc 4 giờ chiều để mẹ tôi được khóc.
Còn với tôi, đơn giản hơn nhiều, mỗi lần mẹ khóc, lại một lần kéo tôi trở về với nỗi đau của một buổi chiều xám mùa thu, khi những cơn gió đầu mùa lành lạnh thổi về, thứ gió bà con quê tôi gọi là heo may rải đồng và lúa vụ mùa đang cứng cây làm đòng trông thương như những người mẹ mang thai. Giữa cái không khí nên thơ ấy, họ lôi bố tôi ra giữa khu mả rộng lớn và cũ kỹ đầu làng, lôi ra giữa hàng ngàn người đang đằng đằng sát khí hô to những câu khẩu hiệu đả đảo bố tôi và hò reo khi sau mấy loạt đạn đanh gọn bố tôi bị ngã tụt xuống gốc chân cột bắn như vừa bị rút hết xương.
Trở về với câu chuyện thằng Tản, bạn chăn trâu với tôi ngày nhỏ. Chuyện thật đau lòng nhưng tôi cũng chỉ biết nghe như đọc tiểu thuyết. Tản bảo trước khi bị xử bắn, bố tôi bị giam trong buồng nhà nó. Khát nước ông bò ra bể nước mưa, kiễng chân lên gục đầu xuống định uống vì hai tay bị trói chặt quặt ra sau lưng. Thình lình ông bị trượt chân, đầu chúi xuống nước, sặc sụa, Tản sợ quá chạy ra kéo chân ông lại, cứu sống ông. Nó tưởng thế là nhân đạo, nó đâu ngờ thế lại là vô nhân đạo. Vì nếu nó để ông chết sặc trong bể nước thì ông còn được một người thương tiếc là nó, chính nó, hơn rất nhiều khi chỉ mấy phút sau, ông phải chết giữa tiếng hoan hô dậy đất, dậy trời của cả ngàn người nhảy cẫng lên reo hò.
♣♣♣
Từ Sài Gòn, hai mẹ con tôi về quê mua lại được mảnh đất này.
Nói mua là theo nghĩa đen, chứ thực ra phải nói là chúng tôi tìm lại cội nguồn, tìm lại quá khứ và nhất là tìm lại được sự yên tĩnh của lương tâm.
Mãi mãi tôi không thể quên được cái ngày đen tối ấy. Bố tôi “hy sinh” chưa được hai bốn tiếng đồng hồ thì tại nhà tôi đã diễn ra cảnh mà giá ngày đó có máy quay thì viện lưu trữ phim quốc gia ngày nay có trả giá bao nhiêu chắc gì chủ nhân của nó đã bán. Và chẳng có máy quay phim thì bây giờ hình dung lại tôi vẫn thấy hiện lên trong mắt rõ mồn một từng cảnh, từng người. Đó là cảnh hàng trăm ông bà nông dân (gọi theo cách của ngày ấy) già trẻ, gái trai, người gồng kẻ gánh, mặt người nào cũng tươi rói sắc xuân, dù lúc đó đang là ngày hè nắng bỏng rát, ùn ùn kéo đến nhà tôi, để làm cái việc gọi là tịch thu toàn bộ tài sản của bọn địa chủ, cường hào phản động. Họ tịch thu nhưng thực chất là ăn cướp, cướp sạch sành sanh, không chừa lại một thứ gì từ đất đai, ao chuôm, vườn tược, trâu bò, nhà cửa… đến cái bát, cái nồi, chổi cùn dễ rách… tất tần tật, thứ nào cũng oai phong cho đội lên đầu hoặc quấn ngang lưng, ngang hông, một giải băng giấy hồng điều tươi thắm, trên đó viết hay kẻ những chữ rất to, rất đậm, điệu đàng phượng múa rồng bay, những chữ lần đầu người dân Việt Nam được nhìn thấy, nghe thấy. “Quà quả thực”, lai căng bí hiểm, một ý nghĩa mơ hồ, nghe đâu bắt chước từ nước Trung Quốc láng giềng anh em.
Tịch thu xong, theo sự phân chia của các ông Đội, mớ tài sản được họ liệt cho là bằng chứng của tội ác, rùng rùng chuyển động, đều bước theo nhịp tiếng trống ếch rộn ràng của đội thiếu nhi xóm, đi theo những lá cờ bay phất phới, tản về các ngõ xóm, tản về với các gia đình nông dân, về với sự hân hoan của sự tỉnh ngộ, ồ vui nhỉ, mình chỉ tố có thế mà được những thế, thôi rút kinh nghiệm lần sau sẽ tố mạnh hơn, hay hơn.
Đó là những thứ biết đi, còn thứ đứng ì tại chỗ, những bất động sản trong mớ tài sản của gia đình tôi thì được các ông Đội, linh hồn và là người chỉ huy cao nhất của cuộc cách mạng ruộng đất phân chia như sau. Vườn chè rộng sáu sào đang xanh mơn mởn thì cho sáu gia đình cố nông. Cái ao để lại làm của chung cho cả xóm, để người nghèo đến rửa ráy, tắm giặt, gãi ghẻ và ăn nước, người này phóng uế thì người khác múc về dùng.
Cái ao này sau đó được đưa vào hợp tác xã, thành thứ cha chung không ai khóc, mạnh ai người nấy cạp bờ để bây giờ nó trở thành một cái vũng trâu đằm toen hoẻn.
Còn về nhà cửa thì do gia đình tôi có đến hai căn, căn trên là nhà thờ, căn dưới làm nhà ở. Do căn nhà dưới có kết cấu, vật liệu tầm thường nên Đội phân chia ra thành từng phần nhỏ cho nhiều người, để ai ở được thì ở, ai không muốn ở thì dỡ ra bán cho người ta làm củi đun, còn gạch vụn thì để lót đường.
Riêng căn nhà thờ thì lúc đầu được Đội ưu tiên cho giữ lại. Chắc vì Đội thấy nó khang trang, bề thế, kèo cột gỗ lạt toàn thứ thuộc hàng tứ thiết, chạm trổ tinh vi, làm chỗ họp hành đàn đúm thì không đâu bằng. Nhờ thế nó không bị đem ra xẻ thịt. Nhưng rồi nó cũng không tồn tại được lâu, vì trước khi rút khỏi làng tôi, hai ông Đội phụ trách hai xóm, đã nhất trí giải quyết cho hai gia đình được nhận chung, mặc dù cả hai đều có nhà, theo chính sách thì không thể được. Hỏi ra mới biết đó là phần Đội ưu tiên cho hai gia đình đã có công cúng tiến cho họ hai cô con gái đang hơ hớ tuổi xuân, để họ thành hai người đàn bà không chồng mà chửa khi các ông đến “ba cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm, theo yêu cầu của cấp trên). Coi như một sự đền ơn đáp nghĩa.
Đó là gia đình ông Khiết. Còn gia đình kia là ông Khương.
Ngày ấy, mỗi lần nghe chuyện này tôi tức lên đến tận cổ. Tôi chỉ muốn nhổ nước bọt vào mặt bọn lưu manh đội lốt cách mạng. Đồ khốn nạn! Chúng mày dám dùng chốn linh thiêng của một gia đình, một dòng họ để đổi chác lấp liếm cho sự đồi trụy, bỉ ổi, súc vật của bọn chúng mày!
Hai gia đình bần nông vừa là nạn nhân vừa là ân nhân của mấy ông Đội đến ở chung với nhau được mấy hôm. Mỗi gia đình có mấy đứa con, tên chúng nó là gì họ còn chưa kịp biết nhưng “chiến tranh” thì đã kịp xảy ra. Chả biết vì họ là nông dân cực đoan, trăm nhát cuốc vơ vào lòng cả trăm hay còn vì là sự trừng phạt của ông bà tổ tiên dòng họ chúng tôi mà những kẻ cướp ban ngày này phải hứng chịu nhiều tai ương đến thế. Họ đánh chửi nhau suốt ngày, ầm ĩ cả làng đến nỗi chính quyền không chịu nổi, đã phải miễn cưỡng cho họ dỡ ngôi nhà thờ của chúng tôi đổi lấy gạo ăn dần.
Dỡ hết, chỉ chừa lại gian hậu cung có diện tích vừa đủ đặt chiếc bàn thờ. Càng dốt nát càng mê tín. Họ là thế đó. Nhờ thế, gian thờ tự nhà tôi không bị tàn phá. Nhưng rồi sau không người trông nom nên nó xơ xác tiêu điều, thành cái miếu hoang, chốn dung thân cho lũ chuột bọ, cầy cáo.
Tôi đã từng đứng lặng hồi lâu, nước mắt chỉ muốn òa ra khi nhìn thấy những bức hoành phi câu đối trăm năm tuổi, sơn son thếp vàng, văn hóa vật thể của các cụ ngày trước, giờ đây bị các ông bà nông dân đem ra cái thì chắn chuồng lợn, cái thì bắc cầu tiêu…
Thế là chỉ một thời gian ngắn, ngôi nhà thờ vào loại cổ kính nhất làng của gia đình tôi biến thành hai túp lều tường đất, lúc nhúc những sinh vật tàn tạ. Rồi cũng chỉ một thời gian ngắn nữa, không chịu nổi cảnh đói rét, cả hai gia đình này đã phải gồng gánh, dắt díu nhau lên Thái Nguyên đến một nơi làm kinh tế mới, nơi họ tưởng không làm cũng có ăn, không đổ mồ hôi cũng có nhà cao cửa rộng. Họ còn bảo họ phải ra đi vì không thể sống với ma, sống với những đêm thanh vắng tối trời, văng vẳng đâu đây tiếng khóc ai oán đòi nhà, đòi đất. Chả biết đúng hay sai nhưng đến câu chuyện dưới đây thì đúng là thật trăm phần trăm.
Đấy là chuyện hai năm liền cả hai gia đình này đều có người chết bất đắc kỳ tử, bí hiểm và rất thương tâm.
Gia đình ông Khương, mẹ chồng thắt cổ vì nàng dâu, lưỡi lè ra tận miệng. Lúc ông chồng đến cắt dây tháo xác xuống thì máu từ trong ruột dây thừng phun ra như tiết cắt cổ gà.
Hận thù nhau lắm thì mới có cuộc quả báo khủng khiếp như thế.
Còn gia đình ông Khiết thì lại gặp phải cảnh thương tâm khác. Nàng dâu có chửa sắp đến ngày sinh, bỗng dưng phải gió lăn đùng ra chết, kéo theo chết luôn cả đứa con trong bụng. Hai chiếc quan tài, chiếc lớn bồng chiếc nhỏ trên bụng, hình ảnh chưa từng gặp ở vùng này bao giờ.
Thế là họ bỏ đi, để lại trên mảnh đất của nhà tôi một nỗi buồn vạn cổ, chắc từ khi khai thiên lập địa đến giờ chưa gặp phải. Bởi nói đến đất là phải nói đến cây lá, đến hoa thơm, quả ngọt, đến những công trình mọc lên từ đất khi mồ hôi con người đổ xuống cùng những vui buồn từ đất nảy sinh.
Vậy mà giờ đây hai gia đình ấy đến ở rồi bỏ đi, đã xóa sạch dấu ấn cha mẹ tôi để lại trên đất, xóa sạch những hoa thơm quả ngọt kết thành từ mồ hôi nước mắt của họ.
Hai gia đình ấy đi rồi, từ đây đi ngang mảnh vườn cũ của nhà tôi không ai không thấy ngao ngán. Thương hết mọi thứ. Cây chè, cây mít, cây na, cây hồng, cây cam… bỗng chốc cây đi đằng cây, đất đi đằng đất. Có còn gọi là cây không, khi mà lúc này nó chỉ còn giơ lên không trung những bó que bó củi như nắm xương khô. Có còn gọi là quả không, khi nó vừa mới nhú như đứa trẻ con vừa nhoẻn miệng cười chào đời đã bị bẻ đầu, vặn cổ. Thay vào đó là một vườn cỏ gấu, với trận đồ bát quái những hang hốc dọc ngang, những đống đất chuột đùn.
Đó cũng là lý do khi được Đảng sửa sai, bố tôi được giải oan, gia đình tôi lẽ ra được nhận lại những tài sản đã bị tịch thu cùng những quyền lợi bị tước đoạt một cách oan uổng nhưng chính quyền xã nói họ không thực hiện được tuy rất muốn.
Bát nước đổ xuống đất làm sao hốt lại được đầy như cũ. Họ ái ngại. Không biết thực lòng họ hay tình thế bắt họ phải như thế! Chúng tôi biết thế nên cũng không dám đòi hỏi gì nhiều. Mẹ con tôi buộc phải đi tìm một mảnh đất khác để lập nghiệp.
Và thế là, những năm sau, bằng công sức, mồ hôi, nước mắt mẹ con tôi đã nhanh chóng biến mảnh đất đầu thừa đuôi thẹo, chó ăn đá gà ăn sỏi ở cuối làng, mảnh đất đã nhiều năm không ai thèm bén mảng tới, không ai thèm nhận, được chính quyền địa phương đền bù cho, thành một mảnh thổ cư thuộc loại nhất đẳng điền, xanh tươi trù phú, chim reo trên mái, gà mừng dưới sân, cá quẫy thùm thùm như trâu đằm dưới ao.
Sau khi chuyển vào miền Nam công tác, tôi đã bán toàn bộ cơ ngơi mới tạo dựng này mua được căn nhà mặt phố ở Sài Gòn. Thật may, nếu không có thứ tài sản đánh đổi đó làm sao tôi làm được ngày hôm nay. Cho nên công bằng mà nói, tôi không có gì phải lấn cấn với quê hương cả. Đất nước đẹp giàu đâu cũng là quê hương, tôi nhớ lời một bài hát ngày trước thường hát.
Nhưng mẹ tôi không đồng ý. Cụ bảo dứt khoát cụ một tấc không đi một ly không dời. Tôi muốn bật cười. Giọng điệu của một người suốt ngày nghe đài có khác. Rồi mẹ tôi dẫn ca dao tục ngữ: “Sinh ra ở đất quê cha. Lúc chết thì phải làm ma quê chồng”, rồi thì: “Lấy chồng gánh giang sơn nhà chồng”. Thật khó lay chuyển được tâm lý “bất ly hương” của cụ. Tôi nghĩ phải đấu với cụ theo một mẹo khác. Tức là phải đánh vào lòng thương con cháu cố hữu của phụ nữ, đánh vào tinh thần trách nhiệm của một cựu cán bộ phụ nữ thời cách mạng mới thành công. Tôi nói với mẹ: “Bu có muốn con trai bu bị kỷ luật mất việc vì chống lệnh điều động không?” Vừa nghe đến hai chữ công tác, với kỷ luật, mẹ tôi sợ, gật đầu ngay. Yêu sách của tôi thế là thực hiện được. Tôi bồi thêm cho cụ một lý do nữa: “Bu ở ngoài này một mình, mắt mũi thế này ai chăm sóc bu lúc trái gió trở trời. Với lại, cơ quan đoàn thể người ta lại phê bình chúng con là đồ bất hiếu”. Mẹ tôi lại sợ thêm hai tiếng “phê bình”. Lại gật đầu lần nữa.
Tôi đã làm được một việc là tách cá ra khỏi nước. Tôi đâu ngờ cá sẽ ngáp rồi sẽ chết nếu không mau tiếp dưỡng khí vào. Vào Nam hôm trước hôm sau mẹ tôi đòi về quê ngay, cụ bảo về đó chỉ cần dựng cho cụ một cái chòi cụ cũng sống được rồi. Ở tuổi này, cái sống chỉ tính bằng ngày bằng tháng, ham hố gì nữa, chỉ có về quê là đúng, là thượng sách, mẹ tôi cứ nhắc đi nhắc lại. Cụ còn bảo vào trong này sống với anh chị tôi khác nào người bị tù. Tù vì bị mù mắt đã khổ, vào đây còn bị mù thêm hai lỗ tai. Gỗ đá cũng chả chịu nổi, nói chi là con người. Cả ngày chả ai nói với mình và có nói mình cũng chẳng nghe được tiếng nào ra tiếng nào. Cứ đưa bu về quê là xong. Bu ra đấy mới đúng là bu được sống, được làm người, được nói được nghe và được nhìn bằng mồm bằng tai bằng mắt của một người bình thường. Cái nhà bà Tần ấy, người đâu mà thật lạ. Cơm chả bao giờ được ăn no mà lúc nào cũng vui như tết. Bu nhớ mãi cái câu bà ấy khoe với bu về việc đi xin giấy thông hành để lên mạn ngược thăm con gái đi kinh tế mới. Ấy, bà ơi, chiều nay tôi ra bỉ ban để xin cái giấy tung hoành nhưng họ không chầu chực. Thế mới chó đái chứ! Đấy cái thứ tiếng mà bu nghe được là những tiếng ấy. Trong khi đó ở đây, dỏng tai phải thì tiếng ô tô, nghểnh tai trái là tiếng tivi, chán lắm. Bu thèm nghe tiếng ếch, tiếng chão chuộc con cái gọi con đực trả lời vào dịp đầu xuân lắm. Nghe cứ rộn cả người.
Với lại ở đây bu không được thoải mái mà khóc thầy anh, khóc đã đời như ở ngoài quê. Nhà cửa san sát thế này, nói thầm trong miệng người ngoài còn nghe thấy nói chi tiếng khóc. Rồi người ta cho bu đi nhà thương điên mất thôi. Mà không khóc, bu không chịu được. Bu thương thầy anh lắm. Mẹ tôi khóc hu hu… Thôi cho bu về đi!
Lại còn chuyện này nữa, tin hay không tùy anh. Đêm qua, thầy anh về trách mắng bu, bảo mẹ con bà nhà cao cửa rộng lại để tôi sống vạ vật không nhà không cửa.
Tôi hỏi lại mẹ tôi: Bu nghĩ thế nào về giấc mơ đó?
- Bu nghĩ thầy anh thực sự lâu nay không có nhà!
- Tức là thầy không có một nấm mộ? Ngôi mộ xã xây cho thầy là mộ giả?
- Thì bu nghĩ thế đấy!
Tôi đọc lại cho cụ nghe rành mạch số hiệu ngôi mộ của bố tôi. Cái ngày cải táng đưa bố tôi từ nơi ông chịu nạn về nghĩa trang liệt sĩ của xã, do sốt nằm liệt giường nên tôi không ra dự được, còn mẹ tôi thì đang đau mắt nặng nên cũng không đi. Nhưng nghe dân làng kể thì lễ đón tiếp bố tôi cũng linh đình lắm, đủ các nghi thức cần thiết như mặc niệm, hát bài Hồn tử sĩ bằng băng cassette, như đặt vòng hoa lên mộ. Rồi sau đó là xây mộ, là gắn bia tiểu sử…
Tôi nói với mẹ tôi đừng có tin vào các giấc mơ. Mẹ tôi miễn cưỡng, ừ thì bu không tin nữa. Nói xong cụ khẽ nhếch miệng cười chua chát.
Trong khi đó, vợ tôi lại trái ngược hẳn. Cô ta ngoác mồm chì chiết rằng tôi bị mát điện, bị ấm đầu. Nếu không, đang đường đường ở đất Sài Gòn hoa lệ, muốn ăn gì cũng có, chơi gì cũng xong mà lại đùng đùng đòi về quê, về cái chỗ toét mắt cả làng. Với lại cái đó không phải là cái chính. Cái chính, xin lỗi ông - vợ tôi bảo - ở đó nhung nhúc toàn những quân bất nhân. Muốn cướp đất người ta thì cứ việc cướp, việc gì phải bày trò giai cấp rồi đấu tranh này nọ, rồi dùng sức nặng của cả một xã hội hỗn loạn đè những người chân yếu tay mềm ra đánh đập, bắn giết... Thế không bất nhân còn là gì nữa.
Ông về thì ông cứ về, vợ tôi bảo, còn tôi dứt khoát là không, tôi dứt khoát trước sau là thành phố Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh muôn năm!
Con trai tôi đang làm ăn ở nước ngoài thì gọi điện về: “Bà và bố đều già cả rồi. Các cụ cứ định đoạt theo ý mình”.
Tôi ở vào thế giằng co, đi hay ở, về quê hay ở lại thành phố. Tôi nói với mẹ ngày nay quan niệm về quê hương khác rồi, đâu dễ sống đó là quê hương, “đất nước đẹp giàu đâu cũng là quê hương”, bu có nhớ bài hát ngày trước thanh niên hay hát không?
Biết tôi như thế là có ý không muốn ra quê, mẹ tôi tự ái, bỏ ăn hai ngày, chỉ nằm bẹp trong buồng, hỏi không nói, gọi không lên tiếng. Tôi lo quá nhưng vẫn đi làm. Đến ngày thứ ba, cũng là ngày giỗ bố tôi, mọi năm tôi có làm mấy mâm mời anh em bạn bè đến chung nhau chén rượu nhạt, vừa để tưởng nhớ người xưa, vừa có dịp gặp lại nhau, nhưng năm nay thấy mẹ tôi không được vui nên tôi cũng giản tiện, bát cơm con trứng.
Hôm ấy, tôi ra phố có chút việc vừa quay về nhà đã không thấy mẹ tôi đâu. Vào buồng thì thấy chăn màn đã được gấp gọn ghẽ trên cái giường mẹ tôi vẫn nằm. Vậy là có chuyện rồi. Tôi phát hoảng, chạy lại mở toang cái tủ gỗ nhỏ vẫn dùng đựng quần áo của mẹ tôi. Trống vắng đến bàng hoàng. Mẹ tôi đi thật rồi! Chẳng lẽ mẹ tôi bỏ đi là vì tôi. Tôi chạy sang hỏi chú xe ôm cạnh nhà vì lâu nay có việc cần đi đâu tôi cũng kêu chú ấy. Chú xe ôm lắc đầu. Tôi giận điên người, chỉ muốn mắng chú ấy, cứ như chú có lỗi trong chuyện ra đi của mẹ tôi. Tôi cầm điện thoại gọi ra bến xe, ra ga tàu hỏa. Tất cả đều lạnh lùng trả lời, sao mà dở người thế, có cả ngàn người đi, ngàn người về, biết ai với ai, mà cấu cánh, bôi vôi. Tôi chửi vào máy, đồ quan liêu, đồ vô cảm. Họ tắt máy đánh rụp, tôi đành chịu thua. Tôi chạy vào nhà, vừa lúc vợ tôi đi đâu về. Cô ta lắc đầu không thèm đáp lại. Mẹ tôi mà cô đối xử thế hả? Giận quá tôi ném vỡ tan ly nước đang cầm trong tay. Vợ tôi sợ xanh mặt, chỉ biết lẩm bẩm từ xa, tôi nghe tiếng được tiếng không: “Cái ông này, dễ tôi giắt mẹ ở cạp quần đấy hả?”
Ba ngày sau tôi gọi điện ra quê, hỏi đứa cháu họ rồi hỏi thêm mấy người bà con nữa. Các câu trả lời đều chung một ý: Ông bà đối xử làm sao mà để cụ phải bỏ đi thế. Không thấy cụ ra ngoài này đâu. Họ còn nói thêm, mắt cụ như thế sao đi một mình được. Ông bà giết cụ rồi. Đồ vô trách nhiệm! Tôi nhắn tin lên đài truyền hình rồi đài phát thanh. Đáp lại vẫn là sự im lặng kinh hoàng.
Tôi cứ sống trong sự giày vò vừa thương vừa giận mẹ. Bỗng một hôm, như có trời giúp, tình cờ mở ngăn kéo bàn làm việc của tôi, cái bàn mà từ hôm mẹ đột ngột bỏ đi tôi buồn chẳng thèm ngó ngàng tới. Không ngờ bắt gặp ở đây một tờ giấy khổ A4 có dòng chữ viết rất to, nguệch ngoạc, to như con gà mái, trồi lên thụt xuống cách nhau cả gang tay. Chữ mẹ tôi! Đúng rồi. Ngày mẹ tôi còn tinh mắt thỉnh thoảng tôi cũng được đọc vài dòng của cụ, nhưng hiếm lắm. Ngày ấy với chữ nghĩa cụ dành hẳn quyền cho bố tôi. Đàn bà con gái biết đọc biết viết là tốt rồi. Tôi hoa mắt lên khi nhận ra đó là lời mẹ tôi trăn trối: “Bu đi theo thầy, đừng tìm, vô ích”. Đi theo thầy, tức là cụ tìm đến cái chết, tìm đến sợi dây thừng hay các dòng sông, hồ nước. Tôi rụng rời chân tay và ân hận. Vậy ra chính tôi đã giết mẹ tôi! Nhưng mẹ tôi chết bằng cách nào? Nếu lao vào gầm xe thì chỉ ít giờ sau sẽ có thông tin ngay, vậy chỉ còn cách nhảy xuống sông. Sài Gòn nhiều sông biết tìm đâu. Mấy ngày sau tôi thuê nhiều người đi dọc các bờ sông trong thành phố và túc trực các đầu cầu để nghe ngóng tình hình, rồi thấy báo chí đăng ở đâu có xác người trôi sông cũng cho người tìm tới. Nhưng tất cả đều vô vọng.
Tôi đành làm lễ phát tang trong gia đình. Con trai tôi đang làm ăn ở nước ngoài cũng được gọi về chịu tang bà nội. Vợ tôi thì tỏ ra ân hận rõ ràng. Cô ấy chì chiết tôi, cho là tôi không hiểu tâm lý người già nên mới ra nông nỗi này. Tôi cũng tức tốc thông báo tin tức ra ngoài quê, nhà nào có điện thoại tôi đều gọi. Tôi đặc biệt lưu ý những gia đình đang còn sống trên mảnh đất của nhà tôi ngày trước. Qua điện thoại ai cũng tỏ ra thương xót mẹ tôi.
Hôm làm lễ phát tang, tôi đặt bức ảnh chụp gần đây của mẹ tôi lên bàn thờ bên cạnh bài vị của bố tôi. Mọi người nói nhiều về bố tôi. Họ bảo mẹ tôi dù sao vẫn còn hạnh phúc hơn bố tôi. Cũng là đi qua thế gian, dù có là hạt bụi, mẹ tôi còn lưu lại được chút hình hài, trong khi bố tôi chỉ là ánh sao băng vụt lên ở một góc trời rồi tắt ngấm vào đêm tối mênh mông.
Tôi lấy ngày mẹ tôi bỏ nhà đi làm ngày giỗ. Như vậy, từ sang năm trở đi ở nhà tôi giỗ bố cũng là giỗ mẹ. Nhất cử lưỡng tiện. Không biết đây có phải là ý định của mẹ tôi.
Vì cứ đinh ninh rằng mẹ đã chết nên những ngày sau chúng tôi không còn nghĩ đến chuyện tìm kiếm mẹ nữa. Cứ như thế cho đến một hôm, tôi nhớ đúng vào dịp 49 ngày của mẹ tôi, nửa đêm tôi đang ngủ thì bị dựng dậy bởi tiếng chuông điện thoại và bởi một cái tin động trời, yếu bóng vía nghe cứ là sởn da gà. Bà Thỏa, một trong sáu người mấy chục năm nay vẫn còn bám trụ trên mảnh đất cũ của nhà tôi, gọi điện vào, giọng run run: “Bác ơi! Bà về. Bà về thăm lại cái nền nhà thờ xưa trong chốc lát rồi lại đi ngay. Chúng em sợ quá. Cả đêm không ai dám ngủ”.
Vốn là dân duy vật dở hơi, không tin ở thế giới tâm linh, cho đây là chuyện nhảm nhí, hoang đường, thần hồn nát thần tính, tôi cũng chẳng buồn nhắc lại chuyện ấy cho vợ con nghe.
Và tôi cũng quên luôn. Nhưng rồi lại không quên được. Lại điện thoại từ ngoài quê. Người báo tin hồi hộp, giọng thở ồ ồ: “Bác ơi, đêm qua, cụ lại về, vẫn lọc cọc chiếc gậy gỗ. Lần này có thêm người con trai nữa. Cụ ông nhà ta ngày trước khi chết cũng vẫn còn trẻ lắm phải không bác?”
- Còn trẻ! Tôi đáp lại.
Phía đầu dây:
- Vậy đúng là cụ ông rồi. Chắc kỳ này cụ bà dắt cụ ông về thăm để rồi đòi lại mảnh đất ngày xưa đó. Chúng em sợ lắm. Đứng ở sân bên này, em chắp tay khấn vái: “Chúng cháu không cướp đất của ông bà đâu. Người ta chia cho nhà cháu đấy. Ông ơi, cháu biết cái thứ của ăn cướp được nó chẳng ra gì cái đâu. Ông cứ đòi lại đất của ông đi. Đòi là họ phải trả. Trả cho ông thì họ phải đền bù cho chúng cháu. Ông đừng lo!”
- Vậy thì ông phải bay ra ngay ngoài quê đi. Phải mời thầy về lập đàn cầu siêu. Các cụ cứ liên tục về thế này thì chắc là linh hồn chưa siêu thoát được. Mà cứ thế này thì con cái chúng ta sẽ không khá lên được đâu ông. Vợ tôi phán.
Tôi đành chỉ biết nghe theo lời vợ. Nhưng nghe thì nghe, tôi vẫn bảo, nói thế là cô lợi dụng sự mê tín dị đoan xúc phạm đến vong linh bố mẹ tôi đó? Sao mà cô quá đáng thế! Bố mẹ ông bà nào lại làm hại con cháu bao giờ.
Vợ tôi há hốc mồm ơ ơ lên mấy tiếng, không nói thêm được câu gì. Tôi vui như mở cờ trong bụng, lần đầu tiên thắng vợ 1 - 0. Còn với vợ tôi, miệng thì ra vẻ cứng như thép thế, chứ vào việc có phép có tắc lại nhũn như con chi chi. Đàn bà xứ mình là thế. Được nới lỏng tự do thì coi giời bằng vung nhưng vào khuôn phép thì lại răm rắp đâu vào đó.
Đó là lý do vì sao mấy hôm sau vợ tôi lại ngoan ngoãn cùng tôi ra quê để lo chuyện đại sự. Ra đến nơi, chúng tôi tạm chia làm hai ngả. Vợ tôi ở lại tranh thủ thời gian sắm sanh đồ lễ và mời thầy về cúng kiếng, còn tôi lo chuyện tàu xe lên miền núi xin phép hai gia đình ông Khương, ông Khiết để họ cho tôi làm lễ cầu siêu ở tại cái nơi mẹ tôi vẫn hiện về. Bà con hàng xóm bảo tôi, không “có nhời” với họ trước, họ sẽ làm phiền.
Tôi phải lên tận Thái Nguyên mới gặp được họ.
Sau một quãng đường dài vất vả, hết tàu hỏa đến ô tô, hết xe ôm lại đến người dắt tay, khuân vác hành lý, leo đèo vượt suối, cuối cùng tôi cũng đến được nhà ông Khương. Hẳn mọi người còn nhớ, sau khi dọn đến ngôi nhà thờ của nhà tôi được mấy ngày thì bà vợ thắt cổ chết vì tức với con dâu. Ông Khương lên đây được mấy năm bị ngã nước cũng lăn ra chết nốt. Các cụ nhà ông Tích, ông Thiện dưới xuôi vật đám người này chết đấy. Một người quen biết gia đình ông Khương nói nhỏ với tôi. Họ không biết tôi là Thiện, con trai ông Tích. Nhà ông Khương lúc này chỉ còn vợ chồng người con trai, vợ anh ta và vài đứa cháu nội, hiện cũng đang rất nghèo túng. Tôi nhìn quanh, thấy nhà chả có tài sản gì đáng giá ngoài chiếc ti vi đen trắng chạy bình và cái xe đạp cũ kỹ. Tôi xa gần gợi hỏi về con gái của ông Khương, người đã bị ông Đội cải cách biến thành đàn bà khi mới 17 tuổi thì được anh con trai trả lời ráo hoảnh:
- Nó chết ngay ngày ấy rồi. Nạo thai bà mụ vườn, bị băng huyết chết tươi đành đạch.
Gớm, anh ta nói đến là kinh. Mà lạ, chị gái, lại gọi bằng nó. Nói xong anh ta cười khành khạch cứ như vừa kể một câu chuyện vui. Tôi thì ngậm ngùi chua xót. Cô gái ấy, tôi biết. Giá ngày ấy nhà tôi không bị quy là địa chủ và bố mẹ cô ấy không là bần nông thì tôi nhất định sẽ tìm đến cô ấy, sẽ yêu cô ấy. Vì cô ấy cũng đẹp. Và biết đâu chúng tôi đã thành vợ chồng.
Nghe tôi tự giới thiệu, người con trai ông Khương giật mình, mắt mở to thao láo, buông một câu trả lời trong khi tôi chưa hỏi:
- Bác cất công lên đây định đòi lại đất hả? Khổ quá ngày ấy, nghe bố cháu kể lại thì đất ấy với ngôi nhà thờ ấy là do người ta cấp cho nhà cháu và chú Khiết, chứ chúng cháu có cướp giật của ông bà đâu. Vậy mà không hiểu sao ông trời lại trừng phạt hai gia đình chúng cháu khủng khiếp đến thế. Nói thật với bác, đã lâu rồi chúng cháu muốn sang lại mảnh đất nền nhà ấy lắm rồi nhưng đánh tiếng mãi mà có ai dám đến mua đâu. Họ bảo đất ấy có huôn, có dớp… gì đó. Họ sợ.
Tôi thanh minh:
- Ô! Anh hiểu lầm tôi rồi. Đất này hiện nay đâu có thuộc quyền gì nhà tôi mà đòi với hỏi. Tôi lên đây là vì một việc khác.
Tôi nói với anh con trai ông Khương về việc xin làm lễ cầu siêu cho mẹ tôi và chuyện mẹ tôi chết rồi mà đêm đêm vẫn hiện về thăm lại mảnh đất cũ , anh ta tròn xoe mắt:
- Vậy à? Thế thì mảnh đất của cháu còn ai dám mua nữa hở trời! Thôi thì thế này, nhân đây cháu cũng bàn với bác luôn. Bác lấy lại miếng đất đó đi. Bác là con cháu trong nhà chẳng ma quỷ nào quấy nhiễu bác đâu. Bác cứ mua đi cháu bán rẻ cho đấy.
Tôi mừng lắm. Bắt cua được ếch. Đúng là thời cơ có một không hai. Nhưng tôi phải giữ kín cảm xúc, mua bán mà. Tôi nói vòng sang chuyện khác:
- Tôi ở trong kia đã có nhà cửa đàng hoàng còn mua làm gì nữa?
- Thì để làm nhà thờ. Bác không thấy ở ngoài ta bây giờ cả tỉnh, cả huyện làm nhà thờ à? Muốn tỏ ra sang trọng hơn người thì phải làm nhà thờ, phải xây lăng tẩm.
- Vậy nếu tôi mua thì giá cả sao đây?
- Cháu nói thật nhá. Bác cứ mua cho chúng cháu một chiếc honda và một con trâu là được!
- Vậy còn ông Khiết, nhà có ở gần đây không?
- Xa lắm, đi cả ngày đường cơ. Nhưng bác không cần hỏi. Ông Khiết chết lâu rồi, cả vợ cũng thế. Con gái bác ấy thỉnh thoảng cũng sang đây chơi. Chị ấy cũng nói với cháu, có ai mua miếng đất ấy thì bán giúp. Vậy bác cứ việc. Giá cả cũng như nhà cháu thôi.
Tôi ra ngoài cầm điện thoại gọi cho vợ. Vợ tôi ok, ok liên tục. Có lẽ do thấy rẻ.
- Mua đi. Địa phương ta đang rầm rộ quy hoạch thế này sau bán lại cũng lời khẳm. Nhưng trước mắt hãy xây nhà thờ đã.
Tôi móc số tiền mang theo trong túi ra đặt cọc.
Con trai ông Khương mừng ra mặt, cứ ngoẹo đầu, trề môi ra vẻ bùi ngùi:
- Chúng cháu thật chẳng ra gì. Cướp không đất của nhà bác, bây giờ lại bán lại cho bác lấy tiền.
Trước khi ra về, tôi nắm chặt tay con trai ông Khương. Thôi, chuyện xưa qua rồi, không nhắc lại nữa. Cứ thế tiến hành mọi việc nhé. Anh con trai ông Khương gật đầu.
♣♣♣
Thế là tôi cho người sơn phết lại gian hậu cung, mua một ít đồ thờ, đồ cúng, nhang đèn. Tôi câu điện của bác hàng xóm, bắc hàng loạt đèn quả nhót, quả táo, đèn nhấp nháy xanh đỏ còn dày đặc hơn cả sao trên trời. Bọn trẻ con thấy lạ chạy đến bu kín cả mảnh sân đất trước cửa.
Vợ tôi phải quay vào Sài Gòn lo tiền nên không trở ra dự lễ được. Con trai tôi ở nước ngoài cũng gọi điện báo tin cháu không về được nhưng sẽ gửi tiền thêm vào để bố lo liệu công việc.
Có một vị khách không phải do tôi mời mà là do ông Chí. Vị này ở làng bên, năm nay ba mươi tuổi, vốn là công nhân mỏ than Quảng Ninh, người quắt queo gầy nhom như con cá khô. Không hiểu vì nguyên cớ gì mà gần đây anh ta lại nổi tiếng khắp vùng vì khả năng nói chuyện được với người của cõi âm.
Ông Chí bảo nhận phong bì xong, cất tiền vào ví đường hoàng đâu vào đấy thầy mới phán rằng phải tìm cho thầy một người ngồi đồng. Người đó phải là đàn bà và càng già càng tốt, già bằng bà cụ được cầu siêu là tốt nhất.
Ông Chí về báo lại. Tôi thân hành đi đến từng nhà trong xóm, gặp hàng chục cụ bà nhưng ai cũng lắc đầu quầy quậy. Họ ngại vì nghe nói mỗi lần ngồi đồng về là mệt rã rời, mất ăn mất ngủ mấy ngày liền, người ngợm lúc nào cũng đờ đẫn như con điên, thôi bác đi mà tìm người khác. Cuối cùng, tôi chẳng tìm được ai. Ông Chí bảo, tôi đi guốc vào gan ruột các mụ hết rồi. Họ sợ ngồi đồng sẽ phải tự mồm mình nói ra những lời mà họ chẳng muốn nghe chút nào ấy mà. Đó sẽ toàn là những lời chửi mắng! Như năm đói có hai bát cơm, tao sẻ cho con mày một bát, vậy mà mày lại dí tay, tốc váy, vỗ bẹn đành đạch bảo tao cướp cơm của nhà mày. Sao điêu toa thế hả? Điêu toa thế, vậy mà sao còn sống dai đến tận ngày nay. Hoặc là đòi nợ. Cái chum đựng thóc, tao cho mày mượn trước ngày cải cách, vậy mà khi Đội về mày dám đổ tội cho là tài sản tao phân tán, rồi mày tự báo và nẫng tay trên luôn của tao. Nay sửa sai rồi mày trả lại tao đi!
Thế có phải đang yên lành bỗng dưng lạy ông tôi ở bụi này không?
Ông Chí còn bảo: Rồi mà xem, trong đêm lễ cầu hồn này còn khối người không dám đến dự nữa đấy. Tất nhiên đó là những người lớn tuổi, những chứng nhân của cuộc cách mạng long trời lở đất ngày xưa. Lòng vả cũng như lòng sung, các mụ rất sợ bà cụ. Sợ lắm!
Mặc dù thế, lễ cầu hồn vẫn được tiến hành đúng ngày giờ như đã định.
Ông thầy bùa, quần jean, áo thun chim cò, chạy xe Atila ào ào tới. Dựa xe ra góc sân, bước vào nhà, ông đuổi mọi người ra ngoài rồi đóng chặt cửa lại. Mọi người ngơ ngác chả biết ông ta bày trò gì. Mãi sau khi ông mở cửa mới hay. Từ anh chàng quần áo bảnh chọe rất mốt ông đã biến thành một ông thầy cúng chính hiệu với bộ quần áo nâu sồng rộng thùng thình. Đám nữ thanh niên chĩa mồm chọc ông thầy cúng không thương tiếc: Lúc nãy chúng em mê mẩn bao nhiêu thì giờ chán thầy bấy nhiêu.
Ông thầy không nói gì, đỏ bừng mặt, chắp hai tay trước ngực miệng liên tục “a di đà phật”. Ông thầy hỏi tôi ai là người ngồi đồng. Tôi chỉ vào tôi. Ông hơi biến sắc buông ra một câu sau cái nhăn mặt. Thôi thế cũng được.
Tôi quyết định vào vai, một phần do không tìm được người nhưng phần chính cũng muốn tự mình trải nghiệm về một lĩnh vực mà mỗi khi nghe nói tôi cứ nửa tin nửa ngờ, u u minh minh. Tôi để ý thấy công việc của thầy bắt đầu bằng việc rút trong tay nải ra một tờ giấy to đã viết sẵn những chữ cái có đầy đủ cả các dấu huyền sắc ngã nặng. Rồi thầy vẽ một vòng tròn lên tờ giấy đó, vẽ tiếp một một ô vuông có đề chữ “có” rất to. Dưới vòng tròn là một ô vuông khác đề chữ “không” cũng to không kém.
Thầy bảo ông Chí lấy từ trên bàn thờ xuống một cái chén (dùng để uống nước chứ không phải để ăn cơm theo cách gọi của miền Nam) đưa cho thầy. Thầy nâng chén lên rồi nói to cho mọi người nghe thấy: “Bốn người hãy đặt một ngón tay vào cái chén rồi lần lượt từng người xướng lên: “Hôm nay là ngày... tháng... năm..., chúng con thành tâm mời thần chén về có việc xin thần giúp đỡ. Nếu thần chén đồng ý thì cho chén chạy về chữ “có”, nếu không thì chạy về chữ “không”.”
Khi chiếc chén nhích dần về chữ “có” các bạn hãy nói ra một vài câu như tên bố mẹ của bạn chẳng hạn. Từ đây, việc hỏi gì là quyền của bạn.
Trong khi cầu cơ nếu bạn nào yếu bóng vía thì sẽ nhìn thấy... ma!
Bạn nào vía cao thì sẽ không sao. Đây là công việc rất nguy hiểm cho những ai yếu bóng vía, nên những người gặp phải tình trạng này, tốt nhất đừng nên thử vào. Rồi kính chả bõ phiền.
Giờ
hành lễ bắt đầu, ông thầy bùa ném cho tôi một
cái áo chùng thâm hôi rình mùi mồ hôi người và mùi cứt
gián. Vừa mới cầm áo lên, uế khí phả vào mặt, tôi
đã muốn bịt mũi, nói chi bắt tôi chui đầu vào. Tôi định
khước từ nhưng nghĩ có vào hang mới bắt được cọp
nên đành nhăn mặt mặc áo, cài khuy.
Ông thầy bùa hình như vẫn chưa nguôi cơn say dạy dỗ nên lại giảng giải tiếp: “Bây giờ đến giai đoạn đứng giá hầu đồng, công việc quan trọng nhất của buổi lễ. Ai giữ vai trò này được gọi là thanh đồng, trong đó nam thì gọi là cậu, nữ là cô. Và đáng lẽ hôm nay cậu (ông chỉ vào tôi), phải mặc bộ quần áo lụa, mặt tô son điểm phấn và phải có hai hoặc bốn phụ đồng (được gọi là nhị trụ hoặc tứ trụ hầu dâng) đi theo thanh đồng để chuẩn bị trang phục, lễ lạt... nhưng do hoàn cảnh thiếu thốn, thầy cho miễn lễ. Nhưng còn việc này thì không miễn được, ấy là trong lúc thanh đồng đang hóa thân thì bốn phụ đồng ngồi quỳ chân ở dưới cũng nghiêng ngả và múa may hưởng ứng thanh đồng theo nhịp câu hát. Nào tín chủ, đã chuẩn bị cho tôi bốn phụ đồng chưa?”
Thầy nhìn tôi, tôi nhìn ông Chí. Mặt cả hai đều thộn ra. Ông Chí nhanh trí đứng ra giữa sân vỗ tay vào nhau nói “cuộc chơi có thưởng”, nào tôi cần bốn thanh niên vào chân phụ đồng, ai xung phong giơ tay. Phải có cả chục em. Ông Chí chỉ lấy bốn em đứng ở ngoài cùng.
Ông thầy bùa đã ngồi ngồi xuống chiếu sau chiếc chuông, chiếc mõ và quyển kinh. Ông chỉ cho tôi ngồi xuống giữa manh chiếu đằng sau ông. Ông gõ mõ, đánh chuông và đọc kinh. Giọng lúc trầm lúc bổng, lúc vui như nước sôi, lúc buồn như cơm nguội.
Tôi chán chường, mệt mỏi, tai ù. Trong tiếng chuông, tiếng mõ ầm ầm tôi nghe câu được câu không: “Than ôi! Gió thổi nhà Huyên. Mây che núi Dĩ. Dung mạo một mai vắng vẻ, bão xô cây, nghĩ lại ngậm ngùi thay. Âm dương đôi ngả xa vời, mây phủ núi, trông càng đau đớn nhẽ! Sương bay chớp nhoáng, bạch vân nghi ngút, cõi phù sinh. Nến đỏ hương thơm, án tọa hắt hiu đồ sự tử”.
Lời khấn này thực ra ông thầy không thuộc. Chiếc cassette ghi âm mang theo đã giúp ông, giống kiểu các ca sĩ ngày nay hát nhép. Tôi cũng thế, nếu tan buổi lễ tôi không mượn lại của ông cuộn băng, ghi lại và chép ra đây, thì tôi cũng chả sao có được đoạn văn khấn trên đây để hầu chuyện mọi người.
Khấn xong, thầy làm tiếp một động tác nữa là thò tay bật công tắc chiếc cassette. Tiếng nhạc lại nổi lên. Hết điệu chầu văn lại đến hát nói. Ma lực của điệu chầu văn với dân đồng bằng Bắc bộ liêu trai thế nào ai mà chả biết. Đến cao trào, tiếng nhạc réo rắt, giọng hát vút lên, đến tim còn muốn bật ra ngoài nữa là thân thể con người. Vậy mà lạ thay sao lúc này cái xác phàm của tôi nó không hề lay động. Rõ ràng đây là trò bịp bợm rồi. Bốn em phụ đồng lúc đồng còn lắc lư mấy cái, sau thấy tôi ngồi im như khúc gỗ, các em cũng im luôn. Chuông mõ lập tức dừng phắt lại như bị chẹn họng. Tiếng thầy quát lên:
- Hồn tự ái không lên rồi. Hẳn có thù oán gì đây?
- Sao mà linh thế! Bà cụ giận con cháu bỏ nhà đi tự tử, chả giận dỗi thì sao!
Buổi cầu hồn như thế là tan với lý do mọi người đều cho việc giận dữ của mẹ tôi là sự thật. Và như thế ông thầy không gian dối chút nào.
Chỉ
có tôi là biết nhưng nói ra lúc này có lợi
gì?
Ông thầy bùa lại vào nhà thay quần áo, lại hiện ra giữa ánh đèn sáng một anh chàng trai lơ đúng hiệu. Mấy cô nàng lại xúm vào trêu. Ném vào anh ta câu nào anh đáp trả lại câu đó nhưng nặng chùy hơn. Tiếng cười vang cả một khoảng không gian. Giữa lúc đó tiếng chuông điện thoại trong túi tôi reo. Tôi nghe. Một người bạn trong Nam báo ông đi theo tua du lịch, hiện đang có mặt ở thị xã cách chỗ tôi đang ở khoảng bảy cây số, ngỏ ý muốn gặp tôi để đưa cho số tiền tôi hỏi mượn. Ông bạn bảo sáng mai ông phải đi sớm nên chỉ có thể gặp tôi vào giờ này. Tôi vội vã lấy xe đạp đi. Một giờ sau đến được khách sạn nơi ông bạn nghỉ. Vừa gặp ông được một lúc, nhận được món tiền ông trao thì lại đúng lúc chuông điện thoại lại reo. Bật máy, tôi giật mình vì tiếng nói lẫn tiếng thở hổn hển của người cháu gái, tôi giao việc “thu dọn chiến trường” của buổi lễ vừa qua: “Bác ơi! Bác về ngay. Có chuyện này kinh hoàng lắm, cháu trả nhà bác đấy”. “Chuyện gì?” “Đã bảo là chuyện kinh hoàng lắm”. Tôi lại phải quay trở lại nhà, thân già gân cốt rệu rã.
Cô cháu gái chạy ra đón. Hai tay vẫn còn run lẩy bẩy. Đèn trang trí tắt hết rồi, chỉ còn lại cái bóng đèn tròn vàng úa như ánh ma trơi.
- Cụ về bác ạ!
- Về khi nào?
- Về ngay sau khi bác vừa đi được một lúc và “chiến trường” cũng vừa dọn xong.
- Ai gặp?
- Cháu! Lúc ấy mọi người về hết rồi chỉ còn lại một mình cháu. Thế mới sợ chứ! Cụ sờ soạng một lúc rồi hỏi “Vừa làm gì thế này?” Cháu bảo làm lễ cầu hồn cho cụ. Cụ bảo, tao sống sờ sờ thế này, sao dám bảo tao chết! Cháu chả biết nói sao, chỉ biết quỳ xuống lạy như tế sao: Xin cụ phù hộ độ trì cho cháu. Cụ bảo: “Cháu không tin cụ còn sống thì cụ đi vậy”. Rồi cụ đi rất nhanh ra ngõ. Cháu sợ quá líu cả lưỡi lại, chẳng hỏi thêm cụ được điều gì.
Đến đây thì tôi bắt đầu tin là người chết có linh hồn và có thể báo ân báo oán.
Tôi báo lại tin này cho vợ tôi. Bà ấy cũng sợ đến nỗi nói mãi mới thành lời. Không biết đêm nay mẹ có về Sài Gòn thăm lại nhà không? Em sợ quá anh ơi! Tôi phải nói vui. Thôi yên tâm mà ngủ đi. Giờ này đâu còn mua được vé máy bay.
♣♣♣
Mấy hôm sau, người con trai ông Khương từ Thái Nguyên về lại quê. Cũng vừa lúc tôi nhận được tiền của vợ gửi ra, của con trai gửi vể. Cộng với tiền ông bạn cho mượn, tôi trả tiền đất không thiếu một đồng. Ai cũng bảo quá rẻ nhưng rồi lại cũng chính người bảo rẻ ấy lại bĩu môi nhưng bán được là may rồi, đất nghịch thế này ma nào dám đụng vào.
Nhận được tiền, cậu ta phóng ngay lên thị xã mua về chiếc honda rất mới, còn nguyên lớp keo dán bên ngoài. Cháu sẽ gửi xe qua tàu hỏa, cậu ta hào hứng nói, còn bao nhiêu tiền, kể cả tiền của gia đình ông Khiết, cháu cất cả ở đây, bố bảo thằng trộm nào móc được của cháu. Anh ta vỗ tay đồm độp vào bụng, nơi đó gồ lên một khối u khá to.
Tôi nhận lại từ cậu ta tờ giấy viết tay chuyển quyền sử dụng đất và hai tấm bìa đỏ, của cậu ta và của gia đình ông Khiết.
Trong túi còn lại ít tiền, hôm sau tôi thuê người đến dọn dẹp mảnh vườn, mua ít nguyên vật liệu sửa sang lại gian hậu cung và dựng tạm đằng trước một gian nhà nhỏ lợp tôn làm chỗ ở trước mắt cho tôi.
Con trai rồi cả vợ tôi nữa đều tỏ ra không vui. Họ bảo, đã làm thì phải đường hoàng, họ sẽ gửi tiền về. Tôi không chịu. Tôi bảo họ hàng nhà mình tứ tán hết rồi còn mấy người ở lại quê đâu mà làm từ đường to lớn. Tái tạo khu đất này cho nó trở về dáng dấp hồn cốt của ngày xưa. Nhưng dù thế nào thì cũng phải tạo dựng ở đây cho được một môi trường xanh, nhà cửa có thể nhỏ nhoi nhưng tất cả phải là được đắm chìm trong một thảm thực vật thật phong phú. Đó là ước nguyện của tôi.
Hôm sau, tôi bắt đầu đi lo giấy tờ cho mảnh đất. Đã có chú xe ôm ở phố huyện nhận chở tôi bất kỳ lúc nào tôi cần. Tôi cứ việc đi về như thoi đưa. Nhưng tôi không muốn cho chú ấy biết nhà vì nhà mình đã đâu vào đâu đâu. Mọi sự đưa đón tôi chú đều phải thực hiện từ xa. Riêng hôm ấy, trời phù hộ hay sao mà lại rơi xuống lất phất mấy giọt mưa bắt tôi phải buộc để chú chở về tận nhà. Lần ấy, thật bất ngờ, vừa nhìn thấy căn nhà nhỏ của tôi, chú đã reo to, cứ như vừa phát hiện ra điều gì mới mẻ lắm. Ô, chỗ này thay đổi sao mà nhanh thế!
Tôi hỏi sao chú lại nói thế. Chú bảo chú rất quen chỗ này vì đã mấy lần đêm khuya chú chở đến đây một bà cụ mù lòa.
- Thật sao? Cụ ấy đến làm gì?
- Chả làm gì. Chỉ sờ soạng một lúc, khóc rồi về. Thế thôi!
- Ma chăng?
Chú xe ôm cười:
- Ma sao được! Bà cụ rõ ràng là người hiền lành tử tế.
- Anh còn gặp lại bà cụ không?
- Không! Chắc bị ốm rồi. Cách đây mấy hôm thấy cụ có vẻ mệt mệt.
Tôi bắt đầu chếnh choáng:
- Anh có biết chỗ bà cụ ở?
- Có. Nhưng không rành lắm.
- Vì sao?
- Vì cụ không khi nào cho cháu đến đón tận nơi. Cứ bắt đứng chờ ngoài xa. Cháu hỏi sao cụ lại đến đây ở một mình. Cụ bảo vì giận con cháu.
- Vậy anh đưa tôi đến ngay chỗ ấy nhá.
- Sáng mai!
Chỗ mẹ tôi trú ngụ là ngôi chùa cổ làng bên. Ngày trước, khi còn tinh mắt cụ hay đến lễ Phật và làm công quả ở đây. Cụ quen thân hầu hết những người trong chùa từ sư cụ trụ trì đến các phật tử gần xa.
Chú xe ôm chỉ tay vào chùa: Đó!
Tôi lẳng lặng vào chùa, hồi hộp như thời nhỏ chơi trò trốn tìm. Tôi sẽ làm gì khi gặp mẹ? Tim tôi đập loạn xạ. Tôi chỉ biết gật đầu chào lại những người trong chùa chứ không dám cất thành lời. Tôi muốn kéo dài những bí mật. Tôi cứ loanh quanh trong sân chùa, hết ngắm cây lại ngắm hoa. Và đúng lúc ấy, trời phật giúp hay sao, tôi nhìn thấy mẹ. Cụ đang cúi xuống nong lá cây làm thuốc, chăm chú dùng hai bàn tay đảo lên đảo xuống. Tôi rón rén đi đến chỗ mẹ. Mẹ tôi vẫn không hay biết. Tôi không biết mình phải làm gì nữa. Không gian ngập đầy mùi cỏ cây, nắng gió. Tôi nên đập tay vào người mẹ tôi hay cất tiếng gọi? Làm cách gì chắc cũng không khỏi khiến cụ giật mình và đó là điều tôi không muốn. Cuối cùng thì người ta cũng đã phát hiện ra tôi và nói lại với mẹ tôi. Mẹ tôi quay lại. Tôi chưa kịp phản ứng gì thì mẹ tôi đã hốt hoảng kêu lên: “A di đà phật! Ai thế này? Sao lại là con, thằng Thiện của bu!”
Tôi chỉ còn biết ôm chặt lấy mẹ tôi như ngày nào lên năm lên sáu mỗi lần gặp mẹ sau những phiên chợ.
Mẹ tôi không nói gì, chỉ có ánh mắt đục lờ âng ấng nước là nói. Và tôi cũng thế, chỉ nghẹn ngào hỏi mẹ được đúng một câu thật vô duyên: Sao bu lại bỏ con cháu hả bu?
Mẹ tôi cầm vạt áo chặm nước mắt:
- Bu không bỏ con cháu. Bu chỉ bỏ cái chỗ không thích hợp với bu thôi.
Tôi đưa mẹ tôi hoàn tục về với căn nhà mới nhỏ hẹp của tôi. Được dẫm chân lên mảnh đất dày đặc những kỷ niệm, thấm đẫm mồ hôi nước mắt, thấm đẫm vui buồn của cả một đời người, mẹ tôi vui lắm. Cụ bảo có lại được nhân duyên này đâu có phải do ý muốn của con người tạo ra. Mà là ý trời, ý Phật, ý nguyện của bố tôi và những linh hồn chịu nhiều oan trái mong mỏi. Tôi cũng mơ hồ thấy thế.
Vợ tôi ở trong Nam, con tôi ở nước ngoài cũng gọi điện về chúc mừng cuộc đoàn viên thật kỳ lạ.
♣♣♣
Cái nền nhà thờ tưởng hẹp, ai ngờ đo ra, tính cả mảnh sân con đằng trước nó cũng rộng đến cả sào Bắc bộ.
Chiều theo ý bà cụ, tôi dần dần phục hồi tại đây những vật thể từng hiện diện hồi bố tôi còn sống. Nào hòn non bộ với núi non và những lão tiều phu đốn củi mà ngày còn nhỏ tôi say mê thả hồn vào. Mấy chú cá vàng mềm mại lung linh như nắng mai, cá La Hán đen như những mỹ nữ da màu. Nào dàn hoa móng rồng xanh mướt, hương thơm náo nức một vùng. Ngày trước, tôi thường bắc ghế hái xuống những bông hoa chín vàng rộm, bỏ vào túi xách, đến đâu cũng được người chung quanh khịt khịt mũi ngơ ngác hỏi nhau hoa gì mà thơm thế nhỉ!
Từ hôm được trở về sống với mảnh đất xưa, với những kỷ niệm cũ, mẹ tôi vui hẳn lên. Nhưng rồi chắc chả ai ngờ chính những kỷ niệm đó đã lại dồn về tạo thành cơn bão quật ngã mẹ tôi. Cụ không còn đứng vững được nữa, toàn thân cứ liêu xiêu như đi trong cơn gió lốc vô hình. Cuối cùng mẹ tôi phải ngồi bệt xuống đất.
Tôi hoảng quá. Ôi sao mẹ tôi lại thế này? Bao nhiêu đắng cay không quật ngã được cụ mà sao chỉ một làn gió nhẹ của hạnh phúc, đã làm mẹ tôi ra nông nỗi này.
Mẹ tôi lại khóc. Một trận khóc không định trước.
Tôi lại bị một phen hú vía. Mới có 2 giờ chiều mà đã vậy sao?
Và rồi không hiểu sao ngay sau đó mẹ tôi lại thành người ngồi đồng cho hồn bố tôi nhập vào. Toàn thân bà cụ cứ lắc la lắc lư. Miệng cứ hét ầm ầm. Nước miếng cứ phun ra rào. Và tay chân cứ huơ lên hạ xuống, múa may quay cuồng. Trong cơn hoảng loạn, tôi nghe tiếng được tiếng mất:
- Cốm ơi! Cốm của tôi ơi. Tôi biết bao nhiêu năm nay, dù âm dương cách trở muôn trùng nhưng tôi biết Cốm vẫn còn rất thương tôi. Cốm yên tâm đi. Tiếng em nói, đầu em nghĩ, tôi nghe, tôi thấu được hết mà. Tôi hạnh phúc rồi. Đừng lo lắng cho tôi gì nữa.
Tôi dìu phần xác phàm của mẹ tôi vào nhà. Bố tôi vẫn còn ở trong mẹ tôi. Miệng cụ vẫn lào thào. Đó là lời của bố tôi nhờ miệng mẹ tôi nói hộ. Giọng của mẹ nhưng lời của bố.
Tôi tức tốc pha nước chanh đường cho mẹ tôi uống. Rồi tôi giơ thẳng tay đánh mạnh vào người mẹ tôi. Người ta bảo chỉ có thế mới giúp bố tôi thoát được ra khỏi mẹ tôi và mẹ tôi cũng mới thoát được bố tôi. “Đến một lúc chẳng còn anh, chẳng còn em. Chỉ còn mỗi một con người gọi là hai ta”. Chả lẽ câu thơ tôi thuộc từ thời thanh niên lại vận vào trường hợp này? -./.