Nước da lão tái mét, người như cây đỗ tùng bị uốn cong, quần áo thì vá chằng chịt, lão sống tại Cala Pujol trong một căn chòi làm bằng đá và những mảnh ván gỗ được sóng biển đánh dạt vào bờ. Trong bếp chỉ có chiếc lò than làm bằng sắt đã rỉ và chiếc nồi thiếc méo mó mà lão lượm được ngoài bãi biển do một ngư dân nào đó vất đi. Tuy vậy lão lại có nhiều ống dưỡng khi thật tốt, đôi chân vịt cao su và chiệc mặt nạ cho thợ lặn. Và như tối đã nói, tôi không tin là trên thế gian này lại có người nào hạnh phúc hơn lão.
Tôi làm việc cho một ngân hàng và được thuyên chuyển tới Formentera được vài năm mới nhận ra lão khi mà những ngư phủ kéo những chiếc thuyền vào bờ và để dưới những cây hay bụi tre ở phía cuối bãi biển nơi có những tảng đá. Tôi nhận ra lão không phải là một ngư phủ như mọi người, mà lão cũng không có thì giờ đi bắt cá nữa.
Tôi nói được một chút tiếng Ibicenco, một thổ ngữ khác hẳn với tiếng Tây Ban Nha, do đó ngay từ lúc gặp, tôi có thể nói là lão là người vui vẻ và có tư cách. Lão gặp tôi để hỏi vay tiền mua một chiếc thuyền đánh cá nhỏ, tôi xin nói là lão hỏi chứ không năn nỉ. Thoạt đầu tôi không hiểu tại sao một ngư dân lại không có thuyền, nhưng rồi tôi cũng cho lão vay như cho bao nhiêu người khác tại tỉnh Formentera này. Khi bày tỏ lòng biết ơn, và lần nữa tôi lại cảm phục tính tự trọng của lão.
Từ trên bờ, tôi nhìn theo lão chất lên thuyền chiếc ống dưỡng khí, đôi chân vịt, chiếc mặt nạ thợ lặn, một bình nước và một chút thực phẩm. Không có một dụng cụ đánh bắt cá nào mà cũng chẳng có súng săn dưới nước hoặc những dụng cụ nào khác. Tôi tự hỏI như vậy lão tính bắt loại cá nào và làm cách nào mà đánh bắt đây. Nhìn theo lão chèo con thuyền xa bờ dần cho tới khi hình bóng con thuyền và người biến mất nơi chân trời, lòng tôi vấn vương bao nỗi thắc mắc. Tuy vậy ở Cala Pujol này, người ta chóng quên.Nước trong xanh màu ngọc bích nên dù biển sâu mà vẫn nhìn thấy đáy, làn cát chưa có dấu chân người lạ, bãi biển chạy dài màu trắng bạc và ngôi mặt trời luôn luôn chúc lành cho mọi người.Trong cảnh thanh bình như vậy, người ta dễ quên đi mọi việc.
Rồi một ngày kia, khi những ngọn gió thổi tư vùng Phi Châu tới, biển trở nên oi bức khó chịu, ngư dân không đi đánh bắt cá. Họ tụ tập trong quán rượu nhỏ làm bằng tre nứa bên bãi biển, uống rượu vang và tán gẫu.
- Vicente tới chưa?
- Chưa.
- Hắn hơi mát đấy.
- Không phải vậy đâu. Hắn chẳng mát tí nào cả mà có chủ ý đó.
- Vậy sao? Chắc là anh cũng bị mát rồi chứ hắn mà có chủ ý gì.
- Tôi bị mát à? Chẳng mát tí nào cả.Tôi hiểu rất rõ mà.
Tôi vội góp vào câu chuyện:
- Vicente? Lão ta có những dụng cụ lặn dưới nước …
Mọi người cười ầm lên: “A … ha ha … ha ha …
Tôi gọi một chai rượu vang nữa cho mọi người cùng uống.Nơi này chẳng có gì khác ngoài rượu vang làm tại địa phương.Bạn cũng chớ bao giờ nói với họ là bạn còn biết còn vài loại rượu vang khác ngon hơn loại vang ở đây vì họ sẽ nổi giận và nói là bạn chỉ thêu dệt nói dối.Họ sẽ nói vớI bạn là trên thế gian này, ngoài nơi đây ra thì chẳng còn đâu sản xuất được rượu ngon cả.Ngoài ra muốn nghe họ nói chuyện về già Vicente, bạn hãy gọi thêm vài chai nữa nhé.
Bên ngoài những cơn gió Phi Châu thổi về làm náo động mặt biển, trong khi tôi ngồi trong quán được nghe chuyện về già Vicente.
Bốn mươi năm trước, lão là một thanh niên đầy mơ mộng.Lão bỏ hòn đảo nhỏ Formentera này và cả xứ Tây Ban Nha nữa vì lúc đó chẳng có nhiều việc làm cho cậu.Vì vậy Vicente lên một chiếc tàu ngoại quốc nhưng vài năm sau lại trở về. Cậu đi khắp nơi và làm đủ thứ việc, sau cùng theo vài người bạn làm phu khuân vác tại bến tầu tại bến tầu thành phố Barcelona.
Cậu có một giấc mơ, nhưng đã là giấc mơ thì nhiều khi khó mà thực hiện được. Cậu khuân vác hành lý cho người ta, những người Tây Ban Nha giầu có và du khách Cho tới mười năm trước đây, mỗi ngày đứng tại bến tầu, đầu đội chiếc mũ trên có ghi con số, tay vẫy du khách trên chiếc tầu nhỏ đang cập bến. Cậu chỉ tay vào mình, miệng la to:
- Tôi? Tôi?Số bẩy mươi ba?
Một ngày nọ, một người Mỹ giầu có trên thuyền nhìn thấy hắn đang vẫy loạn nên ra dấu. Vicente ra đứng xếp hàng với những phu khác rồi chen lấn xuống chiếc cầu ván đi sang con tầu màu trắng. Người Mỹ giầu nói với hắn:
- Đây là sáu chiếc vali và cái này.Cẩn thận nhé, đồ cổ đó.
Vicente nhận ra ngay chiếc bình đất, một loại bình có hai quai đẹp và thuộc loại hiếm dùng để chứa rượu vang hay các loại hạt. Hồi xưa, các ngư phủ thường thấy chúng vướng vào lưới và họ ném xuống biển lại. Nhưng sau đó các quan chức trên tỉnh mua lại để trưng bày trong các bảo tàng viện nên mỗi ngày càng trở nên hiếm hoi.
Vicente cột những chiếc vali vào sau lưng rồi cầm chiếc bình lớn, màu hồng trên tay. Hắn bắt đầu bước xuống chiếc cầu ván.Người ta xô đẩy nhau cố xuống bến cho nhanh.Hắn la mọi người và mọi người cũng la lại hắn. Khi vừa sang tới được bến tầu, một tên phu khuân vác khác vướng vào một sợi dây thừng nên trượt chân ngã chúi vào hắn làm cho chiếc bình văng ra khỏi tay.
Và cái quá khứ hai ngàn năm rớt xuống đất vỡ tan tành. Khoảng mười năm trước đó, người ta còn tìm thấy những chiếc bình hay những di tích thời cổ Hy Lạp hay cổ La Mã tại những vịnh ở những hòn đảo vùng Ibiza, nhưng cho đến lúc này thì chúng trở nên vô giá. Ông Mỹ giầu có kia phải trả cho một thủy thủ hai ngàn đô la để mua chiếc bình này và đã được chứng nhận là chiếc bình cổ xác thực. Dĩ nhiên là ông ta nổi giận khi thấy nó bể tan tành.
Nhưng rồi ông ta lấy lại bình tĩnh và nhận biết là suốt đời chẳng bao giờ Vicente có được hai ngàn đô la để bồi thường nên bỏ qua và sẵn sàng quên đi điều thiệt hại này. Nhưng với Vicente thì không thể quên được.Cậu đã hiểu rõ giá trị của những chiếc bình cổ. Cậu cũng nhìn thấy nét thất vọng trên mặt người Mỹ. Vicente là một người tự trọng và cậu muốn chuộc lại lỗi lầm mà chính ra không phải do cậu gây ra.
Cậu theo người Mỹ nọ về tận khách sạn, xin tên và địa chỉ của người đó và hứa sẽ đền cho ông ta chiếc bình đã vỡ. Một mảnh giấy xé ra từ cuốn sổ trở thành vô giá đối với Vicente và hắn cất giữ thật cẩn thận suốt mấy chục năm qua. Trên mảnh giấy này nghệch ngoạc ghi lại vài hàng chữ: Abraham Lincoln Smith, 72 Hudson Avenue, Milwaukee, Wisconsin, USA.
Tôi có thể tưởng tượng ra cảnh mà Vicente thường mơ mộng. Một ngày nào đó, hắn tới Milwaukee, Wisconsin, tìm tới nhà ông người Mỹ kia để trao lại tận tay chiếc bình cổ trong sự ca ngợi một con người có đức tính tự trọng cao cả.
Vicente hiểu là suốt đời chẳng bao giờ có đủ tiền để mua chiếc bình cổ, nhưng có ai cản hắn kiếm ra chiếc bình đâu? Trước kia hắn đã thấy cả chục ngư phủ có chiếc bình như vậy. Vậy thì tại sao hắn không có một chiếc chứ.
Hắn không vướng bận gì, không có gia đình nên chẳng bao lâu hắn từ giã Barcelona, thành phố ven biển lúc nào cũng ồn ào náo nhiệt, nơi mà hắn khuân vác những hành lý trên vai suốt mấy chục năm qua mà tiền công cho mỗi lần chỉ đáng một ly rượu vang. Hắn từ giã chiếc buồng thuê sát tận nóc nhà, không có một chiếc cửa sổ.
Hắn bán hết những vật dụng cá nhân thì vừa đủ tiền tầu về lại Ibiza. Đứng ở cuối boong tầu nhìn lại thành phố vừa giã từ, hắn có cảm tưởng như Barcelona đang chìm xuống đáy biển và lần đầu tiên hắn nhận ra là làm phu khuân vác suốt mấy chục năm ở đây là đã đánh mất một khoảng thời gian khá dài trong quãng đời, là tù nhân cho chính quyết định của mình. Hắn đã không ngửng đầu lên cao từ những con phố nhỏ hẹp trong thành phố để nhìn lên khoảng không gian rộng mở nơi bầu trời phía trên.
Và lần nữa, giống như khi còn nhỏ, hắn nhận ra là biển cả đang hát cho hắn nghe.
Trở lại hải đảo, hắn bắt đầu nghiên cứu kế hoạch mà hắn sẽ theo đuổi. Hỏi xem lần cuối cùng chiếc bình cổ được kiếm được khi nào, và hắn cũng biết được là khi nhiều người đi tìm mua những món đồ như vậy, tất cả những nơi dưới biển gần bờ đều được lục soát, tìm kiếm và các kho tàng đó trở nên trống rỗng. Sandik ở Santa del Rio, con trai ông thợ mộc là chàng trai nổi tiếng trong nghề lặn. Trước đó anh ta đã kiếm được một khẩu súng cà nông dưới đáy biển, nhưng đó lại là chuyện khác mà tôi không đề cập ở đây. Vicente đi xe buýt tới tận Santa del Rio làm quen với Sandik để nhờ anh ta chỉ dẫn cho cách lặn và cũng như những lời khuyên về việc tìm kiếm những vật cổ. Hãy tìm mua chiếc mặt nạ, đôi chân vịt rồi đi xa khỏi bờ biển.Ở mãi ngoài đó hãy còn những gò cao nằm sâu dưới đáy biển. Những nơi có chiều sâu hơn gấp hai, gấp ba hay nhiều hơn chiều cao một người và có những hang động dưới đáy biển, có thể những kho tàng chưa được khai thác.
Từ nhỏ Vincente chưa bao giờ học bơi, giờ đây hắn tiêu hết tiền dành dụm để mua ống thở, chân vịt và mặt nạ, những thứ đắt tiền nhất như lời khuyên của Sandik. Xong mọi việc hắn đi theo con thuyền nhỏ chở thư trở lại đảo Formentera. Hắn tìm một khu đất ven biển để dựng một căn lều gần nhà những ngư dân rồi nấu nướng mời những người độc thân tới ăn để làm quen và nhờ họ dạy cho cách bơi lội.
Giờ đây Vicente đã 60 tuổi rồi. Thời gian làm cho người ta già, nhưng đối với hắn thì còn trẻ vì còn phải học nhiều điều, phải bơi lặn ra những vùng biển sâu xa tắp ngoài kia nữa.
Vì vậy hắn đã học bơi, học lặn với chiếc ống thở, với đôi chân vịt và chiếc mặt nạ.Hắn đã học được cách bơi ếch, bơi sải … trong vùng nước trong tại bờ biển Cala Pujol. Rồi dần dần bơi xa hơn nữa, nơi mà nước bắt đầu đổi sang màu tím và đáy biển bắt đầu sâu. Sau chuyến thám hiểm lần đầu và cũng là lần đầu tiên trong đời, hắn nói thật nhiều về những cảnh đẹp dưới biển sâu như cả một rừng sứa biển, một đàn cả ngàn con cá đủ màu sắc bơi theo hắn, những hòn đá và hang động có những sườn dốc sáng mờ mờ. Hắn kể đi kể lại những điều đã nhìn thấy cho các ngư phủ. Những câu chuyện này được các ngư phủ kể lại cho nhau nghe và làm họ kinh ngạc lẫn nể sợ. Hắn cũng thề là khi ở dưới đáy biển, chưa bao giờ có một cảm giác yên bình và thoải mái như vậy.
- Nhưng làm sao ông thở được?
- Người ta có thể thở qua đôi mắt và lỗ chân lông.
Hắn nói là còn nghe thấy cả tiếng nhạc nữa.
- Dưới đáy biển chỉ có một sự im lặng hoàn toàn thôi chứ làm gì có âm nhạc.
- Đó là những tiếng nhạc trong sự tĩnh lặng, giống như các nhạc cụ đã đưa âm nhạc lên cao tít trên bầu trời thì cũng có thể đưa xuống tận đáy biển sâu vậy.
Thế rồi ngày qua ngày, tuần qua tuần tháng qua tháng rồi năm này qua đi rồi năm kế lại bước tới, Vicente tiếp tục công việc tìm kiếm một chiếc bình cổ để thay thế cho chiếc bình đã bị đánh vỡ. Hắn hăng hái làm công việc trong danh dự và vui vẻ. Mỗi ngày là một hy vọng mới, một cuộc mạo hiểm mới.Ngày tháng không còn là một gánh nặng, một nhà tù vì những nhu cầu hàng ngày nữa.Nhu cầu bây giờ chỉ còn là một con cá đế nướng vào buổi chiều, một ly rượu vang, một mẩu bánh mì, một chiếc hộp quẹt.Việc tìm kiếm là một phần đời sống của hắn trên bờ biển và đại dương và được mọi người ở đây chấp nhận, không một chút thắc mắc.
Họ kể cho tôi nghe câu chuyện của Vicente trong một buổi chiều mà ngọn gió Phi Châu thổi tới làm quấy động tận đáy biển và tạo nên những cơn sóng xanh cao vút và hối hả dồn dập. Tôi nhìn ra tận phía chân trời, tìm kiếm bóng dáng con thuyền nhỏ. Quay sang linh mục Pedro, vị linh mục linh hướng vùng San Fernando, ông cũng tham gia vào câu chuyện, tôi hỏi:
- Cha nghĩ sao, liệu Vincente có kiếm ra được chiếc bình cổ không?
Vị tu sĩ có dáng người thấp và béo chắp tay lại, hai mắt cũng hướng ra phía chân trời nhưng nét mặt bình thản. Ngọn gió Phi Châu hung hãn như muốn kéo xập quán rượu:
- Theo tôi thì Vincente đi tìm không phải chỉ là cái bình mà thôi. Sự tìm kiếm chính nó mới là cái chính, cái quan trọng.Chỉ là đi tìm mà thôi.
Một ngày nữa lại tới, ngọn gió Phi Châu vẫn tiếp tục thổi tới làm biển tiếp tục huyên náo và dâng cao hẳn lên, cho tới chiều hôm đó, người ta thấy chiếc thuyền của Vincente dạt vào bờ.
Không ai tìm thấy Vicente ở đâu cả trong khi biển cả vẫn gầm thét. Khi kéo chiếc thuyền lên bờ, người ta thấy một chiếc bình cổ được cột chặt dưới đáy thuyền, chiếc bình thật xưa được chôn vùi dưới biển sâu hàng nhiều thế kỷ.
Vì tôi biết tiếng Anh, cha Pedro và các ngư phủ bạn của Vicente yêu cầu tôi viết thư cho Abraham Lincoln Smith ở Milwaukee, Wisconsin, Hoa Kỳ. Suốt mấy tháng, tôi viết ba bốn lá thư nhưng chẳng thấy hồi âm, cuối cùng tôi phải viết cho ông thị trưởng thành phố này để nhờ ông ta tìm ông Abraham Smith dùm. Cuối cùng tôi cũng nhận được thư trả lời của ông thị trưởng là tại thành phố này không có ai tên là Abraham Smith cả.
Có thể là bị cậu Vincente quấy rầy vì đã lẽo đẽo theo tới tận khách sạn sau khi đánh vỡ chiếc bình, ông người Mỹ kia đã ghi đại vào mảnh giấy một tên nào đó để cậu ta đi khỏi, chúng tôi cũng không hiểu nữa. - /.