Trong nước chỉ trọng nghề văn học, lấy khoa cử mà cất nhắc người lên làm quan. Khoa cử lại chỉ lấy Nho giáo làm cốt, chứ không có cái học gì khác nữa. Trong nước thì công nghệ không có, thương mại không ra gì, trừ cái nghề đi học để thi đỗ làm quan ra, thì chỉ có nghề nông là cái nghề sinh sống của dân.Dân làm ruộng ở nhà quê, thường lại là người hèn hạ, phải chịu sưu thuế và việc vua việc quan,cực nhọc vất vả, không có quyền lợi gì. Vì thế nam giới ai cũng đua nhau về việc học. Học để thi đậu rồi được làm quan là mục đích của sĩ tử.
Lớp học phổ biến khắp nơi thôn làng do thầy đồ đến ông nghè phụ trách. Ai hơn một tý thì được vào học ở trường Quốc tử Giám.
Nền khoa cử Nho học xưa chấm dứt với khoa thi cuối cùng vào năm 1919. Có thể xác định là trường Quốc Tử Giám Thăng Long đã góp phần không nhỏ đào tạo nên một đội ngũ quan chức Nho học có trình độ, kiến thức để quản lý, điều hành đất nước. Nam Kỳ trở thành thuộc địa của Pháp sau hòa ước năm 1874. Bắc Kỳ và Trung Kỳ trở thành đất bảo hộ của Pháp sau hòa ước 1884. Triều đình Huế còn quyền hành nhưng chỉ là hư vị.
Khi đô hộ Việt Nam, nhu cầu cấp bách của người Pháp là phải hủy diệt nền Nho học và thay thế bằng một hệ thống giáo dục phục vụ cho guồng máy cai trị. Cho nên khi chiếm được Nam Kỳ xong là người Pháp đã hủy bỏ nền giáo dục Nho học. Năm 1864 là kỳ thi Hương cuối cùng ở Nam Kỳ. Từ 1878 chữ Hán trong giấy tờ công văn các cơ quan hành chánh được thay thế bằng chữ Pháp và chữ quốc ngữ.
Ngày 8/5/1861 Đô Đốc Charner ký nghị định lập trường Collège d’Adran để đào tạo thông ngôn người Việt và cho cả người Pháp muốn học tiếng Việt . Trường Thông Ngôn (Collège des Interprètes) được thiết lập ở Sài Gòn năm 1864, ở Hà Nội năm 1905. Pháp còn thiết lập các Trường Hậu Bổ (chuẩn bị bổ ra làm quan Apprenti Mandarin) ở Hà Nội năm 1903 và ở Huế năm 1911. Đây là những bước đầu trong việc thiết lập một nền giáo dục của Pháp.
Khi xây dựng nền giáo dục thay thế Nho giáo, người Pháp có ba mục đích. Mục đích quan trọng nhất nhằm đào tạo lớp người thừa hành chính sách của Pháp là cai trị và khai thác ở Việt Nam và cả Đông Dương. Tầng lớp này bao gồm các viên chức trong các ngành hành chánh, giáo dục, y tế và xây dựng. Thứ đến là truyền bá tư tưởng Pháp, lòng biết ơn sự khai hóa của Pháp và sự trung thành với Pháp. Cuối cùng với mục đích mị dân, làm người Việt tin rằng hệ thống giáo dục của Pháp ở Việt Nam là văn minh và tiến bộ.
Hệ thống giáo dục của nước Pháp đã được người Pháp ở Việt Nam điều chỉnh và thêm bớt cho phù hợp với ba mục đích trên cũng như để thích hợp với thực tế ở Việt Nam. Đây là hệ thống Giáo Dục Pháp Cho Người Bản Xứ” (Enseignement Franco-Indigène), thường được gọi là Giáo Dục Pháp-Việt. Trong nền giáo dục này tiếng Pháp là chuyển ngữ tức tiếng Pháp được dùng để trao đổi trong lớp học (giảng bài, làm bài, sách giáo khoa viết bằng tiếng Pháp). Riêng ba lớp tiểu học đầu là được dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ, sau đó tiếng Việt được học như một ngoại ngữ. Ngoại ngữ thứ hai thường là tiếng Anh ở bậc Tú Tài. Chữ Hán được học theo tự nguyện. một tuần một giờ ở các lớp trên của bậc tiểu học nếu có thầy dạy. Hệ thống giáo dục Pháp-Việt gồm 2 phần: giáo dục phổ thông và giáo dục cao đẳng chuyên nghiệp, đại học.
Trong thời kỳ phôi thai, Pháp thiết lập vài trường để làm nòng cốt cho hệ thống giáo dục phổ thông là các trường trung học Le Myre de Vilers ở Mỹ Tho (1879) , trường Quốc Học Huế (1896), trường trung học Bảo Hộ (Collège du Protectorat) tức trường Bưởi Hà Nội (1908) . Ba trường này khi mới mở chỉ có bậc tiểu học, mấy chục năm sau mới giảng dạy đến các bậc cao hơn. Riêng chỉ có 2 trường Quốc Học Huế và trường Bưởi sau này có đến bậc Tú Tài.
Sau khi ra lệnh đóng cửa trường Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907, ngày 9/12/1908, Toàn quyền Đông Dương là A. Klobukowski ký quyết định thành lập trường Thành chung Bảo hộ (Collège du Protectorat) trên cơ sở hợp nhất 3 đơn vị giáo dục: trường Thông ngôn Hà Nội, trường Sư phạm Hà Nội và trường Jules-Ferry Nam Định. Do đó trường Bưởi trở thành một trường Trung Tiểu Học, gồm cả hai cấp : cấp Tiểu Học (Petit Collège) từ lớp Tư (Cours Préparatoire) đến lớp Nhất (Cours Supérieur) và cấp Trung Học (Grand Collège) còn gọi là Cao Đẳng Tiểu Học (Enseignement Primaire Supérieur), sau này, thời Việt Nam Cộng Hòa được gọi là Trung Học Phổ Thông hay Trung Học Đệ Nhất Cấp.
Tới năm 1926, cấp Tiểu Học được bãi bỏ, thay thế vào đó cấp Tú Tài Bản Xứ (Baccalauréat d’Enseignement Secondaire Local); do đó trường được đổi thành Lycée du Protectorat. Theo cụ Đinh Bá Hoàn, cựu học sinh trường Bưởi, thì từ niên khóa 1924-1925, chương trình học được kéo dài thêm 3 năm nữa, tổng cộng là 7 năm và các môn học không những cũng đầy đủ như ban Tú Tài của Pháp mà còn thêm cả phần học về văn hóa Á Đông nữa, nhưng mãi tới năm 1930 trường mới thực sự được đổi tên thành Lycée du Protectorat. Năm 1931, trường được nâng cấp thành Lycée du Protectorat (Trường Trung học Bảo hộ). Vì trường được xây dựng ở làng Thụy Khuê thuộc vùng Kẻ Bưởi, ven hồ Tây nên dân chúng thường gọi là trường Bưởi.
Cả xứ Bắc Kỳ khi đó chỉ có trường Bưởi dành cho học sinh người Việt, vì trường trung học Albert Sarraut dành cho học sinh Pháp, rất ít học sinh Việt và mãi sau mới thêm mấy trường trung học nữa ở Hải Phòng, Nam Định...Vì vậy nơi đây đã là cái nôi của lớp trí thức trẻ người Việt, một năm trường tuyển ở cả Bắc Kỳ đúng 120 học sinh, do đó đậu vào trường Bưởi trong thời gian này được gọi là cả một tự hào lớn lao. Ngoài học sinh Việt, trường còn nhận học sinh Lào và Campuchia,nên vấn đề giành học bổng để học tập là một vấn đề rất quan trọng.
Trong thời đầu tiên, bài ca chính thức của trường Bưởi là Hymne du lypro do Camille Parmentier soạn nhạc và Nguyễn Mạnh Tường viết lời bằng tiếng Pháp :
Nous, les jeunes, les grands, les forts
Nous allons joyeux par le monde
Epris d’azur, de soleil, d’or
Entrez, entrez dans notre ronde…
Nguyễn Bá Thịnh viết bài ca ra tiếng Việt:
Ta là thanh niên nào ta sánh vai
Tuổi còn xanh cùng nhau chung sức bao ngày
Trời cao đẹp tươi vàng trong nắng mai
Tiến lên! Tiến lên theo gót bao anh tài…
Trước năm 1945, học sinh vào học tại trường Bưởi được tuyển chọn từ những kỳ thi rất chặt chẽ, tập hợp những học sinh chăm ngoan, học giỏi từ khắp các tỉnh Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Vì vậy mà học sinh nhà trường đã sớm hình thành được phong cách chăm học, học giỏi, đoàn kết giúp đỡ nhau, đấu tranh chống áp bức và bất công.
Trường được dạy bằng tiếng Pháp, theo chương trình và sách giáo khoa từ Pháp đưa sang, gồm hai cấp: Cao đẳng tiểu học và cao đẳng trung học, học trong 5 năm, kết thúc bằng thi Thành chung. Việt văn và chữ Hán bị coi là môn phụ. Các thầy hầu hết là người Pháp, một số ít là người Việt.
Cách dạy phổ biến là nhồi sọ, buộc học sinh phải học vẹt. Nhưng nhờ đa số học sinh có tinh thần hiếu học, biết giúp đỡ nhau học trong các nhóm, tìm thầy Việt Nam giỏi ở các trường khác để học thêm, và nhất là khả năng tự học mà tích luỹ được kiến thức cho mình. Một số thầy giáo giỏi Việt Nam như Lê Thước, Dương Quảng Hàm, Trần Văn Khang, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Xiến, Nguyễn Văn Huyên… được tuyển chọn đã tạo điều kiện cho học sinh mở rộng, trau dồi, đi sâu vào kho tàng kiến thức, thể hiện qua các kỳ thi, nhất là vấn đáp, đến các thầy người Pháp cũng phải nể phục.
Lúc đó các thầy đã nhóm lên lòng tự trọng cá nhân, lòng tự tôn dân tộc và ý thức phản kháng; bước đầu là sự phản đối thái độ miệt thị người Việt Nam, đề cao lịch sử và văn học Việt Nam là diễn kịch về đề tài lịch sử Việt Nam. Rồi phong trào đòi ân xá Phan Bội Châu, để tang Phan Chu Trinh. Khi không được nhà trường chấp nhận đã tổ chức bãi khoá, sau đó một số học sinh bị đuổi học, đã bỏ học, đi làm cách mạng …
Cuối năm 1943 do Thế chiến thứ hai lan rộng, để tránh những cuộc dội bom của phi cơ đồng minh trường phải di tản chia làm 3 nhóm : một phần về tu chủng viện Phúc Nhạc (Ninh Bình), một phần về Hà Đông và phần còn lại vào Thanh Hóa.
Quân Nhật chiếm đóng làm doanh trại ngay trên cơ sở trường; rồi lại quân Tàu Tưởng thay thế một thời gian, phá phách và lấy đi mất hầu hết những sách giáo khoa và học liệu. Sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945, Hoàng Xuân Hãn, bộ trưởng bộ giáo dục trong chính phủ Trần Trọng Kim, đổi tên là Trường Trung Học Chu Văn An. Hiệu trưởng đầu tiên là giáo sư Hoàng Cơ Nghị, cử nhân lý hóa tại Paris.
Trong những năm 1947-1954 Hà Nội bị tạm chiến, nhà trường bị Pháp chiếm đóng, nên thầy và trò phải tạm trú tại trường nữ sinh Đồng Khánh (nay là trường Trưng Vương) ở phố Hàng Bài, sau lên Cửa Bắc sáp nhập với trường Cao đẳng Tiểu học Đỗ Hữu Vị (Trường Nguyễn Trãi từ 1945 nay là trường Phan Đình Phùng) năm 1950 lại tách ra CVA và Nguyễn Trãi – nhưng mãi đến tháng 10 năm 1954, trường Chu Văn An – Hanoi mới lại trở về địa điểm ban đầu ở cạnh hồ Tây.
Năm 1947, Vua Bảo Đại hồi loan và chính phủ Quốc Gia được thành lập, nhưng mãi tới ngày 26/1 /1948 trường Chu Văn An Hanoi khai giảng trở lại. Trường sở được đặt tại trường nữ trung học Thanh Quan, tục gọi là trường Hàng Cót tức trường R. Brieux cũ và giáo sư Sử Địa Mai Văn Phương được cử giữ chức Hiệu Trưởng vào tháng 2 / 1948, Giám Học là thầy Đỗ Văn Hoán.
Tới niên khóa 1950-1951, giáo sư Vũ Ngô Xán lên làm Hiệu Trưởng, Giám Học là thầy Vũ Đức Thận. Cũng trong thời gian này, Hiệu Đoàn kỳ với ngọn lửa mầu đỏ trên nền xanh da trời và Hiệu Đoàn ca với bản hùng ca Chu Văn An Hành Khúc do giáo sư Nhạc Sĩ Thẩm Oánh sáng tác ra đời.
Nếu tính những học sinh lớp đệ thất, năm đầu tiên bậc trung học từ mùa hè năm 1947 đến tháng 7 năm 1954 là ngày Hiệp định Genève chia đôi đất nước, thì những học sinh này vừa hoàn tất xong bậc Tú Tài II toàn phần. Trường CVA di cư vào Sài Gòn (tháng 7/1954) theo lệnh của bộ Quốc Gia Giáo Dục như GS Hiệu Trưởng Vũ Ngô Xán, Giám Học Vũ Đức Thận và hầu hết các giáo sư nổi tiếng như Hoàng Cơ Nghị, Đào Văn Dương, Bạch Văn Ngà, Lê Văn Lâm, Nguyễn Sĩ Tế, Vũ Khắc Khoan, Vũ Hoàng Chương, Lê Ngọc Huỳnh, Bùi Đình Tấn, Trần Đình Ý,… . Niên học 1954 - 1955 trường sở mới đã được khai giảng kịp thời, không bị gián đoạn nên kỳ thi trung học và Tú Tài hè 1955, sĩ số tốt nghiệp đỗ đạt vẫn khả quan.
Lúc đầu trường CVA tại Saigon nguyên là một phần thuộc Trường Pétrus Ký, trước đây là khu ký túc xá, bao gồm một dãy nhà hai tầng lầu, và một dãy nhà một tầng, lúc đó được dựng một hàng rào kẽm mắt cáo ngăn riêng giũa hai trường : Cổng trường Chu Văn An đi lối đường Trần Bình Trọng, còn trường Pétrus Ký đi phía đường Cộng Hòa. Thời gian những năm đầu các lớp Đệ Nhất A, B, C có thâu nhận các nữ sinh Tú Tài I học từ bên ngoài, hoặc phần nhiều từ trường Trưng Vương chuyển qua. Đến năm 1961, trường Chu Văn An di chuyển đến cơ sở mới xây cất rộng rãi và khang trang trên góc đường Minh Mạng - Triệu Đà, ChợLớn.Trường Trung học công lập Chu Văn An ở Sài Gòn, nay là Trung tâm giáo dục thường xuyên Chu Văn An.
Tại Hà Nội, năm 1955, có lập một trường tên trung học chuyên khoa Chu Văn An. Năm 1957, đổi ra trường cấp III Chu Văn An. Nhiều học sinh miền Nam, nhất là từ Huế, tập kết về thủ đô đã theo học nội trú trường này. Từ năm 1970, trường Chu Văn An bắt đầu lập thành các nghành chuyên. Thời gian máy bay Mỹ oanh tạc Hà Nội, trường phải di tản về Hưng Yên và Hà Tây.
Niên khoá 1975 – 1976, trường Chu Văn An và trường Ba Đình cùng hoạt động trong một chỗ. Năm 1985, trường mang tên Trung học phổ thông (THPT) Chu Văn An. Năm 1992, hai trường Chu Văn An và Ba Đình hợp lại thành trường THPT Chu Văn An. Ngày 17/2/1995, Thủ tướng Võ Văn Kiệt ra quyết định tạo dựng 3 trường Trung học phổ thông chất lượng cao tiêu biểu của Việt Nam gồm trường Chu Văn An ở Hà Nội, trường Quốc Học ở Huế, trường Lê Hồng Phong ở TP.HCM. Ngày 6/11/2004, trường Chu Văn An được Bộ Văn Hoá và Thông tin công nhận là di tích lịch sử -văn hoá cấp quốc gia. Những vị Hiệu Trưởng, từ thời thuộc địa Pháp là các Giáo Sư : Paul Mus (1908), Dounadieu (1915), Lihonet (1920), Lomberger Bovet(1825), Houlié (1931), Léon Autigeon (1937), Perruca (?) Paech (?)
Đến năm 1945 thì người Việt được cử làm Hiệu trưởng gồm những Giáo sư : Đỗ Văn Hoán, Phạm Xuân Độ, Vũ Ngô Xán (1951), Trần Văn Việt (1957), Nguyễn Hữu Văn (1963), Đàm Xuân Thiều (1963), Bùi Đình Tấn (1964), Dương Minh Kính (1965), Nguyễn Xuân Quế (1968-1975).
Nhiều thầy giáo và học trò trường này đã trở nên những nhân vật thành danh như: GS Dương Quảng Hàm, nhà văn Nhất Linh, thi sĩ Vũ Hoàng Chương, hoạ sĩ Nam Sơn, hoạ sĩ Phan Chánh, nhạc sĩ Hùng Lân, GS. Nguyễn Văn Huyên, GS. Nguyễn Xiển, thủ tướng Phạm Văn Đồng, phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ, GS Hoàng Xuân Hãn, hoạ sĩ Tô Ngọc Vân, GS. Nguyễn Mạnh Tường, GS. Tạ Quang Bửu, luật sư Phan Anh, hoạ sĩ Phan Kế An, GS. BS. Tôn Thất Tùng, GS. Nguỵ Như Kontum, GS. Nguyễn Khắc Viện, nhà triết học Trần Đức Thảo, GS. Lê Văn Thiêm, GS. Nguyễn Văn Chiển, hoàng thân Souphanouvong, nhà chính trị Kaysone Phomvihane, nhà ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, nhà thơ Tú Mỡ, nhà thơ Xuân Diệu, nhà văn kiêm nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi, nhà nhiếp ảnh Võ An Ninh, nhà văn hoá Hoàng Đạo Thuý, học giả Nguyễn Hiến Lê, GS. Nguyễn Tài Thu, GS. Từ Giấy, GS. Đặng Nghiêm Vạn, GS. Dương Trọng Bái, GS.TS. Nguyễn Đình Ngọc, TS. Nguyễn Quang Riệu, PGS. BS. Nguyễn Quang Quyền, TS. Nguyễn Quý Đạo, nhà giáo Nguyễn Lân, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, nhà thơ Trần Lê Văn, nhà thơ Vũ Quần Phương, nhà thơ Bùi Minh Quốc, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn, nghệ sĩ Nguyễn Trung Kiên, nghệ sĩ Trần Hiếu, nghệ sĩ Nguyễn Đình Nghi, nhạc sĩ Quý Dương, nhạc sĩ Thanh Tùng, nhạc sĩ Thế Hải, TS. Chu Hảo, GS. Nguyễn Hữu Việt Hưng, PGS. TS. Trương Gia Bình, TS. Bùi Quang Ngọc, TS. Nguyễn Sỹ Hưng, nhà sử học Dương Trung Quốc, ca sĩ Tô Lan Phương, luật sư Nguyễn Thu Lan…
Học sinh Chu Văn An cũng giữ nhiều vị trí quan trọng của nhà nước như :Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư , Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga là phụ nữ đầu tiên được giữ chức này, Chủ tịch Software Hoàng Nam Tiến , Đỗ Hoàng Sơn giám đốc công ty sách Long Minh, Chủ tịch Tổ chức giáo dục Đoàn Hồng Nam,nghệ sĩ Đức Trung, Anh Tú …
Trường Chu Văn An (Trường Bưởi) có bề dày lịch sử và truyền thống yêu nước, hiếu học cho nên ngày 23/8/2004, Bộ Văn hoá và Thông tin đã ra quyết định xếp hạng di tích quốc gia Trường Chu Văn An là di tích lịch sử - văn hoá. -/.