Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
      


VƠ ĐŨA CẢ NẮM



B ộ Từ Điển Phiên Dịch Việt Anh trên 3.700 trang đã căn bản hoàn thành, và đang trong giai đoạn đọc lại bản thảo. Tuy nhiên việc này cũng bị gián đoạn một thời gian dài vì nhiều việc, nay mới kết nối lại được.

Lướt qua mấy ngàn trang sách trên máy tính, đến gần cuối sách mình dừng lại ở mục từ VƠ ĐŨA CẢ NẮM. Đây là một trong những mục từ mình đặc biệt cảm thấy thú vị khi soạn thảo.

“Vơ đũa cả nắm” là một thành ngữ thông dụng của người Việt. Người Việt ở bất cứ vùng miền nào trên đất nước Việt Nam khi nói hay nghe người khác nói câu thành ngữ này đều hiểu chính xác nội dung của bốn từ đó. Từ Điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) định nghĩa: (Vơ đũa cả nắm) : “Ví thái độ đánh giá xô bồ, không phân biệt người tốt với người xấu, việc hay với việc dở.”

Tiếng Anh thu nạp rất nhiều từ của các ngôn ngữ khác, trong đó có từ đũa (chopsticks), được cho là từ một từ tiếng Quan thoại bồi (chop) kèm với một từ tiếng Anh (stick). Tiếng Quan thoại gọi đũa là Khoái (筷) sao tiếng bồi của nó lại là chop thì mình không hiểu được. Nhưng người Anh không ăn bằng đũa, nhất là cuộc sống tinh thần của họ không có gì liên hệ với đũa.

Theo kiểu cách ăn uống (văn hóa ẩm thực), nhân loại có thể gồm trong ba nhóm:

1. Nhóm ăn bằng tay (ăn bốc)

2. Nhóm ăn bằng dao muỗng nĩa

3. Nhóm ăn bằng đũa.

Nhóm các dân tộc ăn bằng đũa, chủ yếu ở Đông Nam Á, gồm Việt Nam, Trung Quốc, Nhật, và Hàn. (Triều tiên và Hàn Quốc nên được kể là một dân tộc.)

Ngoài nhóm ăn bốc, các dân tộc có dùng dụng cụ ăn uống (dao, muỗng, nĩa và đũa) có thể truy nguyên lịch sử cách ăn uống văn minh này.

Riêng về ĐŨA, trước giờ có một truyền thuyết dai dẳng cho đũa là một phát minh của người Tàu. Có người cho rằng: Khương Tử Nha là người Tàu đầu tiên nhờ “thần linh” chỉ dạy cách làm đũa tre. Rồi Đắc Kỷ (vợ của Trụ Vương) sáng tạo ra đũa gỗ.

Trong cuốn sách “Nguồn Gốc Mã Lai của Dân Tộc Việt Nam” (Bách Bộc xuất bản, Sài Gòn, 1971), tác giả là nhà văn Bình Nguyên Lộc đã có lần phì cười với cái chuyện “đũa tàu” này. Chắc là ông ấy cười đến phát sặc cũng nên. Ông nhận định: Người Tàu từ nguyên thủy vốn là dân du mục, trồng lúa mỳ (là loại cây không cần nhiều nước; vì họ không định cư nên không phát triển ruộng nước được.) Sản phẩm của lúa mỳ là bánh mỳ và bánh bao. Người ăn bánh mỳ và bánh bao chỉ cần cầm trên tay là ăn được rồi, sao lại phải dùng đũa!

Đúng vậy. Thực phẩm chính của người Tàu du mục là hai loại bánh làm từ bột lúa mỳ rồi nướng hay hấp (không nấu), và thịt gia súc nướng trên lửa hoặc nấu trong “nồi” bằng da con thú bị giết thịt (câu ‘nồi da xáo thịt’ là phát xuất từ cách nấu ăn này), họ có cần đũa không? Đũa phải là sản phẩm của người Việt, những người định cư làm ruộng nước, trồng lúa nước, đi biển đánh bắt cá, ăn cơm với các món cá chế biến mới phải dùng đũa.

Ở trên nói các dân tộc ăn bằng đũa, ngoài người Tàu và người Việt, còn có người Hàn và người Nhật, nhưng hai dân tộc này dùng đũa chỉ là do ảnh hưởng văn hóa từ Trung Quốc.

Lịch sử Trung quốc được ghi nhận có từ 5000 năm nay, kể từ khi người Tàu cổ chấm dứt cuộc sống du mục để bằt đầu kỷ nguyên định cư. Nhưng triều đại Trung Quốc được kể đầu tiên là nhà Thương, từ năm 1766 trước Công nguyên. (Trước nhà Thương được cho là triều đại nhà Hạ, nhưng có lẽ đây là thời kỳ quá độ từ du mục tiến đến định cư, và nặng tính truyền thuyết nên giới sử học chưa thể chấp nhận). Trước khi người Tàu du mục đến đây định cư lập quốc, và tự gọi mình là người Hoa Hạ, vùng đất này vốn đã có người cư trú. Đó là một đại chủng gồm nhiều tộc người Việt được gọi chung là Bách Việt, mà người Tàu gọi là Yue, từ các hải đảo ngoài biển phương Nam đi vào đất liền, rồi tiến lên phương Bắc, định cư trước chủng người Hoa, trong một khu vực rộng lớn như ngày nay cổ sử Việt Nam vẫn còn ghi lại: Phía Bắc giáp Động Đình hồ (bờ nam sông Dương tử), phía nam giáp nước Hồ Tôn (tức Chiêm Thành), phía Đông giáp biển, và phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên). Người Bách Việt đã từ săn bắt hái lượm chuyển sang phát triển một nền văn hóa nông nghiệp, làm ruộng trồng lúa nước từ rất sớm. Hai đại chủng dân sống xen kẽ nhau, giao tiếp văn hóa với nhau. Về sau, người Tàu dần dần thôn tính và đồng hóa các tộc dân Bách Việt. Chỉ riêng mỗi tộc dân Lạc Việt lui dần về phía nam, định cư trong vùng châu thổ sông Hồng, thoát khỏi nạn đồng hóa.

Cho tới thời nhà Chu, người Tàu vẫn trồng lúa mỳ làm cây lương thực chính. Chính trong thời kỳ định cư và giao tiếp văn hóa này người Tàu cũng đã bắt đầu học cách làm ruộng nước từ người dân Bách Việt. Các cổ thư Tàu đã vẽ hình cái nhà sàn của người dân Việt (i) và ghi chép, mô tả việc “dẫn thủy nhập điền” (làm thủy lợi) của người Lạc Việt từ thời sơ khai như những phát hiện mới mẻ. Trước Khương Tử Nha, người Tàu còn chưa biết dùng đũa.

Khương Tử Nha là một nhân vật lịch sử xuất hiện vào đầu nhà Tây Chu. Người ta không biết ông sinh năm nào, nhưng nhà Tây Chu được thành lập vào khoảng thế kỷ 11 trước Công nguyên. Truyền thuyết Khương Tử Nha được thần linh dạy làm đũa tre là một cách người xưa thần thánh hóa sự kiện lịch sử này, cho thấy đôi đũa có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống của họ vào giai đoạn đó của lịch sử, giai đoạn chuyển đổi từ du mục sang định cư, từ du canh và trồng lúa mỳ sang định canh trồng lúa nước. Truyền thuyết này xác nhận người Tàu không phát minh ra đũa, mà do được “thần linh” dạy cho. Chính những “thần linh” người Bách Việt đã dạy những người khách Tàu mới đến (đại diện là các nhân vật Khương Tử Nha và Đắc Kỷ) cách làm ruộng trồng lúa nước, bắt đầu ăn cơm và dùng đũa. Họ đặt tên cho thứ dụng cụ ăn uống ngoại lai mới học được đó là Trợ ( 箸 ). Rồi mãi đến thế kỷ 3 trước Công nguyên (khoảng 800 năm sau), lần đầu tiên từ Trợ này mới được một học giả ghi vào sách Hàn Phi Tử. Người đó là Hàn Phi  (280 – 233 TCN), một nhà chủ trương Pháp trị cuối thời Chiến quốc.

Vậy mà vẫn có những nhà nghiên cứu người Việt còn bắt chước Tàu mà nói từ Đũa của người Việt là do từ Trợ của Tàu biến âm ra! Ông Bình Nguyên Lộc cũng bật cười vì chuyện biến âm kỳ cục này.

Nhưng công việc của mình là dịch sang tiếng Anh một thành ngữ tiếng Việt có từ Đũa. Bây giờ đã có Google dịch, chỉ cần bấm vào bàn phím chữ Đũa, Google sẽ cho ra ngay từ chopsticks. Nhưng cho đến lúc này Google vẫn chỉ dịch từ bình thường thôi; với những cụm từ mà độ tu từ bóng bẩy hoặc những thành ngữ “ý tại ngôn ngoại” như thành ngữ “vơ đũa cả nắm” thì Google vẫn phải chịu thua, hoặc chỉ đưa ra những từ còn rất xa mới đáp ứng yêu cầu. Tôi thử để Google Translate dịch năm lần câu thành ngữ này. Lần đầu có lẽ cảm nhận được ý của hai từ “cả nắm” nó đưa ra từ “to generalize.” Ba lần sau nó nhất quyết chỉ dịch là “Making sweeping generalizations.” Tôi cho máy nghỉ một lúc lâu mới trở lại. Và lần thứ năm tôi nhận được câu dịch máy là: “Grab a handful of chopsticks at once.” Thôi, tôi không cần máy dịch nữa.

Dù “người dịch” thành ngữ Vơ đũa cả nắm “Grabbing the whole bundle of chopsticks” hay “to grab all chopsticks in a bundle” có lẽ sát nghĩa đen hơn “máy dịch” nhưng vẫn không thể “tiết lộ” được cái nghĩa bên trong của câu thành ngữ, vì đó là một khái niệm xa lạ không những với những người ăn bằng dao muỗng nĩa, kể cả những người mà bản ngữ là tiếng Anh, mà có lẽ cũng khó hiểu với cả những dân tộc ăn bằng đũa khác, ngoài người Việt.

Ngay từ trước Công nguyên, Marcus Tullius Cicero (106 – 43 BC), một nhà hùng biện vĩ đại, một lý thuyết gia dịch thuật nổi tiếng của La Mã có ảnh hưởng đến nhiều thế hệ dịch giả về sau, đã nhận thấy không nên dịch sát nghĩa đen từng từ (word for word), mà phải chuyển ý của câu hay cụm từ từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác (sense for sense). Cho nên, có lẽ ở đây cách thích hợp nhất là ta phải tìm trong tiếng Anh những thành ngữ hay các expressions, tuy không nói gì đến Đũa nhưng có nghĩa gần với nghĩa gốc của câu thành ngữ tiếng Việt. Tôi tìm thấy vài idioms hay expressions như thế, và chúng được đặt vào các bối cảnh thích hợp để có những ví dụ dưới đây. Và mục từ này, kể cả phần Ghi Chú ở dưới, là một trang trong Từ Điển Phiên Dịch Việt Anh.

VƠ ĐŨA CẢ NẮM, -to make global statement(s).

-Những câu nói vơ đũa cả nắm như “Các bạn luôn luôn ...” hoặc “Các bạn không bao giờ ...” sẽ chỉ làm tăng sự căng thẳng. -Such global statements as “You always…” or “You never…” will only increase the stakes.

-Ngay cả khi bạn đang rất tức giận, hãy cố gắng tránh đưa ra những tuyên bố vơ đũa cả nắm, nếu không bạn sẽ phải hối tiếc sau này. -Even when you’re very angry, try to avoid making global statements or you’ll be sorry later.

-to tar /paint someone with the same brush.

-Thực là không công bằng khi vơ đũa cả nắm tất cả các chính trị gia; một số người thực sự đang cố gắng tạo ra sự khác biệt. -It's unfair to tar all politicians with the same brush; some are genuinely trying to make a difference.

-Chỉ vì gã Giám đốc điều hành hóa ra là một kẻ đê tiện không có nghĩa là toàn bộ công ty nên bị vơ đũa cả nắm. -Just because the CEO turned out to be a rotten scoundrel doesn't mean the entire company should be painted the with the same brush.

-Chắc chắn có một bộ phận người mê game video tạo ra môi trường trực tuyến thù địch và độc hại, nhưng tôi ghét việc tất cả người chơi game bị vơ đũa cả nắm. -There is absolutely a segment of video game enthusiasts who create a hostile and toxic environment online, but I hate the fact that all gamers are painted with the same brush.

-to paint with a broad brush.

-Mô tả của ông về chính trị quốc gia cũng vơ đũa cả nắm, mặc dù một số lĩnh vực được mô tả chi tiết hơn những lĩnh vực khác. -His description of national politics is painted with a very broad brush, although some areas are described in a little more detail than others.

-Plutarch 1, người thường vơ đũa cả nắm, bất chấp những sự phân biệt tinh tế, và thường sử dụng bừa bãi những từ ngữ khó nghe và lời lẽ thô tục, gọi quân đội của Nypsius là toàn bọn man rợ. -Plutarch 1, who commonly paints with a broad brush, regardless of nice distinctions, and often indulges in a very indiscriminate use of hard names and foul language, calls Nypsius’s troops altogether barbarians.

Ngoài ra, để bày tỏ ý “không vơ đũa cả nắm” chúng ta có thể dùng các expressions này:

-excepting present company.

-Có quá nhiều con người hờ hững trên hành tinh đang sôi sục này. (Dĩ nhiên tôi không có ý vơ đũa cả nắm.) -There are too many indifferent humans on this boiling planet. (Excepting present company, of course).

-Nhiều quan chức luôn nói xấu nước Mỹ, vậy mà họ lại gửi con cái sang Mỹ du học và tìm cách định cư tại Mỹ - Tất nhiên, tôi không vơ đũa cả nắm. -Many officials are always badmouthing the U.S., yet they send their children there to study and seek ways to settle in America—excepting present company, of course.

-present company excepted.

-Phụ nữ chả bao giờ chịu thỏa mãn với bất cứ điều gì! Dĩ nhiên là tôi không vơ đũa cả nắm. -Women are never satisfied with anything! Present company excepted, of course.

-Tất cả bọn đàn ông là những con lợn ích kỷ - tôi không có ý vơ đũa cả nắm. -All men are selfish pigs - present company excepted.

GHI CHÚ:
Cần lưu ý là trong tiếng Anh, các cụm từ "excepting present company"“present company excepted” đôi khi được dùng với nghĩa đen (ngoại trừ những người có mặt ở đây) khi nói theo cách hài hước hoặc mỉa mai. Ví dụ:
-“In regard to the present officers, Mr. Passford, excepting present company, of course, they are excellent,” said Captain McKeon, the flag officer. (“Này ông Passford,” Đề đốc Hạm trưởng McKeon nói, “Đối với các sĩ quan hiện tại, họ đều rất xuất sắc; tất nhiên là ngoại trừ những người có mặt ở đây.)




VVM.04.4.2026.