Từ tháng tám đến tháng mười âm lịch cả làng làm tranh. Nghề làm tranh trong mỗi nhà phân chia: nghệ nhân sáng tác, vẽ màu và khắc ván. Còn lại in, làm màu ai cũng thuộc, Người có tuổi bảo lớp người sau, cha truyền con nối, làm mãi thành nhuyễn.
Vào tháng chạp hàng năm chợ tranh Tết Đồng Hồ họp ở đình làng. Các phường buôn tranh ở nhiều nơi thuê thuyền theo sông Đuống đổ về Đông Hồ mua tranh. Người Đông Hồ đổi tranh lấy hàng phục vụ đời sống sinh hoạt. Sắp Tết, người khắp chợ cùng quê về Đông Hồ cất tranh đông vui như trẩy hội.
Với đường nét, màu sắc, nghệ thuật tạo không gian, bố cục, tạo hình đặc sắc và độc đáo, tranh dân gian Đông Hồ toát lên cái đẹp hài hòa dung dị, nhưng tinh tế, phong phú của đời sống làng quê Việt Nam yêu đời, chan chứa tình làng nghĩa xóm, đầy tự hào về truyền thống dân tộc. Những bức tranh phong cảnh, tĩnh vật, chúc tụng, tín ngưỡng, sinh hoạt, vinh hoa, phú quý, tưởng niệm anh hùng dân tộc, lấy đề tài từ truyện thơ dân gian … thể hiện với màu sắc tươi ấm, hài hòa, đường nét tuy đơn sơ, nhưng thanh thoát và chắt lọc, bố cục giản đơn.
Sức sống lâu bền của tranh dân gian Đông Hồ là do bản sắc riêng trong nghệ thuật tranh Việt nam. Làng tranh Đông Hồ có cả thảy dù chỉ vài trăm bản tranh khắc gỗ dân gian, nhưng tạo dựng lại được cho đất nước cả một khung cảnh văn hóa dân tộc sinh động: cảnh hội hè đình đám, cuộc sống thanh bình, tiếng cười châm biếm, phê phán cái ác, biểu dương cái hiện. Những tinh tế trong của đời sống, khát vọng, giáo lý, tâm hồn Việt Nam hòa quyện với nhau, qua từng bức tranh quê làng Kinh Bắc này.
Làng Đông Hồ nho nhỏ lọt trong vòng đê ôm ngang lưng, bên kia sông Đuống. Chỉ vì để dễ bề quản lý, dăm năm nay, người ta cố gán ghép thôn Đông Hồ với thôn Tú Khê thành Đông Khê. Vậy là mất tên làng tranh Đông Hồ. Nhưng còn có một người vẫn khư khư giữ rịt lấy cái tên Đông Hồ. Đúng hơn là cố giữ lấy nghề làm tranh, bởi mất tên làng tức là bỏ mất nghề. Mà nghề thì gần như mất trắng.
Trước năm 1945, cả làng có tới 140 nóc nhà thạo nghề in tranh. Nay Đông Hồ còn sót lại một góc tranh. Vẻn vẹn hai nhà đeo đuổi nghề. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế là một. Ở tâm làng Đông Hồ có một dòng họ lớn Nguyễn Đăng. Theo gia phả, cả họ hành nghề in tranh tới 20 đời, tức khoảng trên dưới 500 năm, ngang với thời mà Hoàng Sĩ Khải có nhắc tới trong sử sách về các tranh Lợn, tranh Gà.
Đeo đẳng nghề làm tranh đâu phải dễ. Nó dễ dẫn kiếp người đến cùng đường nghèo túng. Ai biết người Đông Hồ đã từng phải cắn răng, nuốt nước mắt, chẻ làm tư làm năm những bản khắc gỗ đã truyền tay mấy đời, thành củi đun cám lợn. Họ đâu phải những kẻ dửng dưng, nỡ nhẫn tâm đành lòng mang những bản in mà ông bà để lại như một thứ hương hỏa, làm vách ngăn chuồng lợn, cửa che chuồng gà. Người Đông Hồ dứt bỏ nghề làm tranh, “ôm” lấy nghề làng vàng mã, cũng vì miếng cơm manh áo.
Thuở xưa, bất luận nhà nào cũng hai tay – hai nghề. Từ độ tháng ba Âm lịch tới tháng bảy, khắp làng tất bật phết giấy, bồi bìa làm hàng mã. Lại tới cữ tháng tám Âm đến tháng chạp, cả làng tíu tít in tranh bán Tết. Còn lại đoạn giữa, từ tháng giêng tới chót tháng ba ta, mới ngơi tay hội hè, đám đình, rong chơi.
Gần mười năm nay, bỏ nghề tranh theo nghề hàng mã, nhà ngói chen chúc, lô nhô vài căn nhà gác hai tầng. Đường làng bê tông hóa, nội thất sập gụ, tủ chè, tivi, catset cũng là nhờ ở đồ hàng mã cả. Hàng mã Đông Hồ không thiếu thứ gì. Không thua kém thiên hạ. Người sống dùng gì, người chết cũng có thứ đó. Làm hàng giả, một mồi lửa thành tro, mà ăn thật, sống dư dật, ai chẳng ham.
Cụ Chế lại không thể. Cứ nhìn bức ảnh lồng khung kính trang trọng, thời gian đã “gặm nhấm”, ố vàng treo trên tường, cũng đủ hiểu cái tâm của cụ đau đáu với nghề tranh Đông Hồ tới mức nào. Đó chỉ là bức ảnh đen trắng chụp từ năm 1938 hai người phụ nữ bán tranh ngày Tết. Thế nhưng nó lại như một nỗi đau âm ỉ, đau kinh niên, gợi lại cả một thời tranh Đồng Hồ từng “sưởi ấm” bao nếp nhà khắp chốn cùng quê vào dịp Tết. Tranh Lợn, tranh Gà, Vinh hoa – phú quý, Mục đồng thả diều, Cá chậu – chim lồng… chẳng phải là mơ ước ngàn đời no cơm ấm ao của bao kiếp người dân mình? Bây giờ đời sống nhích lên một chút, có thể ngẩng mặt lên thì lại đập vào mắt những tranh Thái, tranh Tàu. Hỏi có đau lòng?
“Về nghỉ hưu là về vườn, là ra lề đời, vô dụng – cụ Nguyễn Đăng Chế kể – Tôi sắp sẵn “hành lý” trước: lẳng lặng một mình tới các nhà trong làng tìm lục, hỏi mua lại những bản khắc cổ còn sót”. Có bộ in tranh Tố Nữ, cụ chỉ đổi bằng 15 lít rượu “quốc lủi”, nay có giá tới 1500 USD. Giờ trong tay cụ có tới gần 100 bản khắc tranh có tuổi ngót 200 năm. Cả một chái nhà ngang, mấy tầng kệ chất tới gần sát mái là gần 600 bản khắc gỗ. Đây là gia tài quý giá nhất của trong 20 đời Nguyễn Đăng theo nghề in tranh. Cả một bề dày 500 năm làng tranh Đông Hồ, bây giờ gom lại trong một góc nhà. Còn bao nhiêu bản in đã hóa thành tro? Thành vách chuồng lợn, thành thớt băm bèo?
Những bức tranh phủ kín bốn bức tường hai gian nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế được “sống lại” như thế. Mỗi bức lại có một thân phận riêng. Dòng dã gần mười năm nặng nợ với nghề, cụ Chế đã phục hồi được gần như đầy đặn “kho báu” tranh Đông Hồ. Cao hơn một tầm, quý hơn một mức, ấy là cụ đã khơi thông thoáng mạch nguồn màu sắc bí ẩn của dòng tranh, tưởng đã cạn kiệt. Chỉ trên một vuông giấy đó, sắc màu của trời đất, thiên nhiên hòa trộn, hằn sâu cùng thời gian. Màu nâu son chắt lọc từ loại sỏi nâu trên đất Bắc Giang. Màu vàng lấy từ hoa hòe. Cây gỗ vang cho màu nâu đất. Cụ Chế lại nghĩ ra cách chiết màu nâu từ lá cây báng súng. Để có màu xanh lá cây, cụ nấu nước lá chàm hòa với màu hoa hòe. Sau cùng là màu đen. Thứ này sẵn lắm. Chỉ việc đốt lá tre hay rơm nếp thành tro, hòa nước là có màu đen ánh.
Màu của cây lá, đất sỏi có bao giờ cạn. Song, cái khó nhất của nghề và cũng là tài cao của cụ Chế chính là đoạn phết điệp lên giấy dó. Ngày xưa thứ giấy này thường dành riêng cho công việc cao quý: chép thơ, chép sử và vẽ tranh. Người làng Đông Hồ “sống” dai dẳng trên vuông giấy ấy. Tới đời cụ Chế nó lại được xếp lên một bậc vinh hoa hơn là nhờ ở lớp hồ điệp. Vỏ sò điệp, dưới biển Đông mang về nghiền tán nhỏ như bột rồi hòa vào nước trộn với hồ nếp, phết lên mặt dó. Nói vậy nhưng không phải tay thợ nao cũng phủ được một lớp điệp vừa đủ để khẽ nghiêng tấm dó, “hạt” điệp phát tiết óng ánh như bạc đủ bảy sắc cầu vông. Lớp điệp tôn cao giá, không chỉ của giấy dó mà còn giữ cho màu bền chắc, không thấm qua mặt giấy, còn mãi với thời gian.
Hiện nay cả nhà cụ Chế, từ cụ bà tới trai, gái, dâu, rể và đám cháu, tíu tít bận rộn quanh năm suốt tháng làm giấy, in tranh. Đoạn bồi điệp phải vào cữ tháng ba tới tháng năm ta. Một năm định làm bao nhiêu tranh thì bồi bấy nhiêu giấy. Việc vẽ tranh làm bản khắc trông vào bàn tay cụ Chế. Tới đoạn khắc bản in, cậu con út đảm đương tất. Đương nhiên cụ Chế vẫn phải ra tay với những bản khắc đòi hỏi nghệ thuật cao. Đó là một bộ tranh tích Kiều, Tứ linh: Long, Ly, Quy, Phượng hoặc bộ Tứ quý: Tùng, Cúc, Trúc, Mai. Nói vậy công đoạn in tranh cũng đòi hỏi kỹ lưỡng, tỷ mỉ và khéo léo. Bao nhiêu sắc màu trên tranh là bấy nhiêu bản in, bấy nhiêu lần in. Tuyệt nhiên không chồng màu, “nháy” màu.
Dòng tranh Đông Hồ từ một góc làng quê vẫn đang chảy róc rách. Người nghệ nhân già vẫn còm cõi in tranh và cầu mong con suối nhỏ tranh Đồng Hồ sẽ hợp lưu vào dòng sông lớn, đổ ra biển. -./.